Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay (qua khảo sát một số trường Đại học, Cao đẳng ngành Giao thông vận tải) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


BÙI TRƢỜNG GIANG
CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
(Qua khảo sát một số trƣờng Đại học, Cao đẳng
ngành Giao thông vận tải)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. HOÀNG CHÍ BẢO HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY 9
1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao
thông vận tải 9
1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực 9
1.1.2. Quan niệm về đào tạo nguồn nhân lực 14
1.1.3. Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành
Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay 19

2.1.3. Thực trạng nhận thức, học tập, nghiên cứu của sinh viên trong
ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay 72
2.1.4. Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý và điều kiện vật chất phục
vụ công tác đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận
tải ở Việt Nam hiện nay 82
2.2. Những vấn đề đặt ra trong đào tạo nguồn nhân lực của các trường
thuộc ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay 87
2.2.1. Sự bất cập giữa yêu cầu của công cuộc đổi mới với năng lực còn
hạn chế của đội ngũ làm công tác đào tạo 87
2.2.2. Sự bất cập giữa yêu cầu cao của công cuộc công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế với hạn chế về nội
dung, chương trình, phương pháp đào tạo nguồn nhân lực trong
các trường của ngành 90
2.2.3. Sự bất cập giữa yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải đào tạo được nhiều nhân lực có
trình độ cao với môi trường đào tạo còn nhiều hạn chế 92
2.2.4. Sự bất cập giữa tính năng động của kinh tế thị trường với sức ỳ
của công tác đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành
Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay 93
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 97
3.1. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay 97
3.1.1. Phát triển số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác
đào tạo trong các trường ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam
hiện nay 97


MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới: thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Toàn
cầu hoá, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của các quốc gia trên thế giới. Đây
là thời cơ, thuận lợi để các quốc gia hợp tác trao đổi về khoa học và công
nghệ, về kinh nghiệm quản lý, về thị trường hàng hoá và lao động, khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên, khoáng sản… dẫn đến những
biến đổi mạnh mẽ trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của mỗi
quốc gia.
Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc và là thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), đã tham gia vào các tổ
chức quốc tế như ASEAN, APEC… Đó là thời cơ lớn nhưng cũng đan xen cả
những thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Để đón kịp thời cơ,
khai thác có hiệu quả những thuận lợi và chủ động vượt qua những thách thức
chúng ta phải phát huy năng lực tư duy, trí tuệ và sáng tạo của con người Việt
Nam, thực hiện những đột phá về thể chế kinh tế thị trường, kết cấu hạ tầng
và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực như Đại hội XI của Đảng đã xác định.
Đây là vấn đề cơ bản và quyết định sự phát triển bền vững của nước ta.
Nguồn nhân lực nước ta trong một thời gian dài do bị tác động của
chiến tranh, của thời kỳ bao cấp kéo dài cùng với điều kiện kinh tế - xã hội
còn lạc hậu nên đã có những hạn chế nhất định. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển năng lực tư duy, trí tuệ và sáng tạo của con người Việt Nam
trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Giáo dục - Đào tạo có một
vị trí quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực. Giáo dục trong hệ thống các
nhà trường là con đường ngắn nhất và khoa học nhất để truyền thụ tri thức
cho người học một cách cơ bản, có hệ thống và hiệu quả nhất.



3

nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải trong
thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề cấp
thiết, căn bản và lâu dài đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam.
Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài “Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm qua ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu
về đào tạo nguồn nhân lực. Nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về nâng cao
năng lực nhận thức, tư duy của con người trong phát triển kinh tế, xã hội,
đánh giá thực trạng nguồn nhân lực ở nước ta, đề xuất những giải pháp
nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Nổi bật có các công trình nghiên cứu
như:
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của PTS. Mai Quốc Chánh (chủ biên),
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Cuốn sách đã phân tích vai trò của
nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước
ta đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- “Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” do TS. Đỗ
Minh Cương - PGS. TS Nguyễn Thị Loan chủ biên, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2001. Cuốn sách làm rõ quan điểm, định hướng chiến lược và
giải pháp chủ yếu cho việc phát triển năng lực giáo dục bậc cao ở nước ta
trong thời kỳ mới.
- “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” của TS.
Bùi Thị Ngọc Lan, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002. Cuốn sách tập
trung làm rõ quan niệm về trí tuệ và nguồn lực trí tuệ; vai trò, đặc điểm,

hóa, hiện đại hóa” của GS Phạm Minh Hạc, Tạp chí Lao động và xã hội,
số 3, 2001

5

- Đặc biệt là chương trình khoa học cấp Nhà nước KHXH-05 “Nghiên
cứu văn hoá, con người, nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI” (11/2003). Có
những công trình đáng chú ý như: “Ảnh hưởng của tiến bộ khoa học, kỹ thuật
và công nghệ đến việc nghiên cứu và phát triển con người và nguồn nhân lực
những năm đầu thế kỷ XXI” của TSKH Lương Việt Hải; “Phát triển nguồn
nhân lực Việt Nam đầu thế kỷ XXI” của TS Nguyễn Hữu Dũng; “Một số
những thay đổi của quản lý nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế trong cơ chế thị trường” của TS Vũ Hoàng Ngân.
Nhìn chung, các công trình đều khẳng định yêu cầu phát triển đào tạo
nguồn nhân lực và ý nghĩa của việc nhận thức đúng đắn các chính sách phát
triển đào tạo nguồn nhân lực. Song, do yêu cầu của thời đại và của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ Việt Nam hội nhập kinh tế quốc
tế, vì mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, việc tiếp tục nghiên cứu một
cách có hệ thống các quan điểm cơ bản về nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, phân tích thực trạng và luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay vẫn là một việc làm cần thiết cả về
lý luận và thực tiễn.
Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực
trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta. Hầu hết các công trình nghiên
cứu này đã tập trung nghiên cứu các phương diện khác nhau của sự phát triển
đào tạo nguồn nhân lực của Việt Nam và đề xuất những giải pháp để đào tạo
nguồn nhân lực, từ giáo dục - đào tạo đến giải quyết việc làm, đổi mới cơ chế,
chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực ở nước ta. Tuy nhiên, chưa có
công trình nào đi sâu nghiên cứu “Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay”. Chọn vấn đề này làm đề tài

Luận văn tập trung nghiên cứu công tác đào tạo nguồn nhân lực trong
phạm vi ngành Giao thông vận tải thuộc Bộ Giao thông vận tải quản lý, đặc
biệt từ khi thực hiện chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước từ năm 1997 đến nay.

7

5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận, phương pháp luận nghiên cứu của luận văn là chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề con
người, nhân tố con người. Vận dụng các quan điểm đó vào việc đào tạo nguồn
nhân lực ở Việt Nam hiện nay.
* Cơ sở thực tiễn:
Luận văn bám sát thực tiễn đổi mới trong 25 năm qua, đặc biệt là thực
tiễn đào tạo nguồn nhân lực ở một số trường đại học, cao đẳng thuộc ngành
Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay.
* Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và phương pháp duy
vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
lôgic và lịch sử, thống kê, điều tra xã hội , gắn lý luận với thực tiễn chính trị-
xã hội để triển khai các nội dung nghiên cứu.
6. Đó ng gó p củ a luậ n văn
* Đóng góp mới về khoa học của luận văn:
Luận văn góp phần làm rõ thực trạng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực ở
một số trường đại học, cao đẳng của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam
hiện nay, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn
nhân lực trong các trường của ngành Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay.
* Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:

1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực
ngành Giao thông vận tải
1.1.1. Quan niệm về nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là khái niệm đồng nghĩa với khái niệm nguồn lực con
người, đây là khái niệm có nội dung đa dạng, được đề cập dưới nhiều góc độ
khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là yếu tố
quan trọng hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và
phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó,
quyết định năng xuất lao động và tiến bộ xã hội. Con người còn có mặt trong
quan hệ sản xuất trên cả 3 bình diện: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ
quản lý và quan hệ phân phối. Nguồn lực con người cũng đồng thời là nguồn
nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nội lực của sự
phát triển của tất cả các quốc gia. Đó là nguồn lực có trí tuệ, có khả năng phục
hồi và tự tái sinh, tự phát triển; đồng thời nguồn nhân lực vừa là chủ thể vừa
là khách thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Mỗi một lĩnh vực, một
ngành nghề nhất định lại có nguồn nhân lực riêng của mình với những yêu
cầu, đặc điểm riêng nhất định. Tính chất, đặc điểm, vai trò của nguồn nhân
lực trong từng lĩnh vực cụ thể có những đặc thù riêng, đồng thời lại mang
những tính chất, vai trò, đặc điểm chung của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu nguồn nhân
lực với tư cách là lực lượng lao động. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
đã đưa ra quan niệm: nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời

10

kỳ xác định của một quốc gia, bao hàm trong đó nguồn nhân lực ở một địa
phương, một ngành hay một vùng xác định. Đây là nguồn lực quan trọng nhất
của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Quan niệm này cần được diễn đạt cụ thể thêm trên các nội dung: thứ

chính mình. Các yếu tố tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó chặt
chẽ và khăng khít với nhau, nhưng bản chất con người là một bản chất xã hội,
là tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội như Mác đã khẳng định. Chính hoạt
động lao động và hoạt động thực tiễn nói chung đã làm biến đổi tâm lý của
con người, làm cho con người mang tính người, tính xã hội và cũng chính
hoạt động thực tiễn đó đã làm cho nhu cầu sinh vật ở con người mang tính
người là nhu cầu có tính xã hội. Yếu tố tâm lý trong mỗi con người không
phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòa quyện vào nhau, tác động
lẫn nhau. Bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội
của con người và được cải biến đi trong quá trình hoạt động thực tiễn. Con
người tuy là một sinh vật, một động vật nhưng có suy nghĩ, có ý thức khác với
động vật bị bản năng thống trị.
Nhân tố con người, đặc biệt là sức lao động, là yếu tố quan trọng của
lực lượng sản xuất, đặc trưng cho khả năng phát triển không ngừng của nền
sản xuất xã hội. Người ta thường quan niệm nhân tố sức lao động là một
phạm trù tổng hợp bao gồm các thành tố: thể lực, tâm lực (đạo đức) và trí lực.
Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc
sức khỏe, y tế và sự rèn luyện của từng con người cụ thể. Thể lực có ý nghĩa
quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con
người mới có thể phát triển trí tuệ và các quan hệ của mình trong xã hội. Tâm
lực được quan niệm là phẩm chất đạo đức, nhân cách. Trí lực được xác định
bởi tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa
học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng
tư duy xét đoán sự vật, hiện tượng của mỗi người. Nhờ trí tuệ, con người đã
khai thác, chế ngự thiên nhiên và sử dụng nó để bảo tồn và phát triển xã hội

12

của mình. Trí lực của con người được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo
và hoạt động lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của bản thân con người.

động trực tiếp đến cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực. Người lao động
có sức khỏe tốt, có thể mang lại lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn nhờ việc
huy động sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai và tập trung trí tuệ cao trong khi thực
hiện công việc; nếu sức khoẻ không tốt, thì đó là chất lượng nguồn lực thấp,
không đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội.
Chỉ tiêu về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên
môn kỹ thuật của người lao động là chỉ tiêu quan trọng về chất lượng nguồn
nhân lực. Trình độ học vấn được biểu hiện bằng tỷ lệ biết chữ, sự lĩnh hội các
tri thức và kỹ năng theo nhóm tuổi, theo các cấp độ trong hệ thống giáo dục
phổ thông, giáo dục nghề nghiệp. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết
các tri thức lý thuyết về nghề và các kỹ năng thực hành về chuyên môn kỹ
thuật và nghiệp vụ nào đó của người lao động.
Chỉ tiêu về năng lực, phẩm chất của người lao động là chỉ tiêu rất quan
trọng của nguồn nhân lực, bao gồm: tập quán, thói quen, phong cách, đạo đức,
lối sống, truyền thống, văn hóa dân tộc. Trong chất lượng nguồn nhân lực, cần
xác định rằng, sức khoẻ thể lực là điều kiện và tiền đề, học vấn chuyên môn
kỹ thuật là cốt yếu nhưng phẩm chất đạo đức nhân cách (bao hàm cả ý thức
chính trị) là nền tảng, là gốc. Con người mà không có đạo đức thì dù có năng
lực và tài năng đến mấy cũng không thể đóng góp vào sự nghiệp chung về
phát triển cộng đồng xã hội.
Thứ ba, yếu tố về cơ cấu.
Đó là cơ cấu về số dân, cơ cấu nguồn nhân lực, về độ tuổi, giới tính; cơ
cấu về thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo; cơ cấu về trình độ học vấn; trình
độ chuyên môn nghề nghiệp, cơ cấu về vùng miền…Toàn bộ cơ cấu đó phản
ánh tính hợp lý hay không hợp lý, sự phù hợp hay không phù hợp của sự phân
bố nguồn nhân lực trong một quốc gia, trong một ngành, một lĩnh vực nhất
định, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định.

14


hiệu quả, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển kinh tế - xã hội.
Quá trình đào tạo nguồn nhân lực được tiến hành chủ yếu trong các cơ
sở đào tạo như nhà trường, trung tâm, viện hoặc ở cơ sở sản xuất, với những
mục tiêu, nội dung, chương trình hoàn chỉnh và có hệ thống cho mỗi khóa học
và với những thời gian quy định, với các trình độ khác nhau. Kết thúc khóa
học, kết thúc đào tạo ở trường, các đối tượng được đào tạo nếu đáp ứng được
yêu cầu đào tạo thì được cấp bằng tốt nghiệp hoặc chứng chỉ học vấn, chuyên
môn nhất định. Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội là định hướng trực tiếp của
đào tạo nguồn nhân lực. Theo đó, yêu cầu của sự phát triển ngành Giao thông
vận tải là mục đích cụ thể và là yếu tố quy định trực tiếp nội dung, chương
trình của đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao thông vận tải. Luật Giáo dục
năm 1998 quy định hệ thống giáo dục quốc dân nước ta gồm bốn bậc: đó là
giáo dục mầm non; giáo dục phổ thông; giáo dục nghề nghiệp (chuyên nghiệp
và dạy nghề) và giáo dục đại học. Để đào tạo bậc cao còn có đào tạo sau đại
học và trên đại học.
Như vậy, đào tạo nguồn nhân lực ở đây bao gồm đào tạo qua các bậc
giáo dục chuyên nghiệp (trung học chuyên nghiệp và dạy nghề) và đào tạo
qua bậc giáo dục đại học.
Đào tạo nguồn nhân lực có thể hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Với
nghĩa rộng, trong đào tạo nguồn nhân lực có bồi dưỡng và đào tạo lại, đó là
quá trình hoạt động gắn với hoạt động đào tạo nghề nghiệp và chỉ diễn ra sau
khi người học tham gia vào quá trình này đã một lần được đào tạo và công
nhận bởi một văn bằng tương ứng. Đào tạo lại nguồn nhân lực là đào tạo
những người đã có nghề, họ cần được nâng cao, làm mới kiến thức và kỹ năng
để hoàn thiện thêm cho mình về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu
cầu phát triển của thực tiễn. Bồi dưỡng là nhằm nâng cao kiến thức và kinh
nghiệm để người lao động có thể đảm nhận công việc phức tạp hơn. Đào tạo

16

17

sở cho nhóm ngành; nhóm những kiến thức về kỹ thuật chuyên môn của
ngành và nhóm các kỹ năng, kỹ xảo thực hành cho những nhân viên của một
vài nghề chính trong ngành. Các nhóm này cùng hoàn thiện, bổ sung cho nhau
trong quá trình đào tạo để tạo nên chất lượng nguồn nhân lực cần thiết.
Đào tạo nghề là một hướng quan trọng và rất cần thiết của đào tạo
nguồn nhân lực. Luật Giáo dục nước ta quy định “dạy nghề dành cho người
có trình độ học vấn và có sức khỏe phù hợp với nghề cần học, được thực hiện
dưới một năm đối với các chương trình dạy nghề ngắn hạn, từ 1 - 3 năm đối
với chương trình dạy nghề dài hạn”. Theo Quyết định 48/2002/QĐ-TTg ngày
01/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới
trường dạy nghề giai đoạn 2002 - 2010, quy định trình độ đào tạo nghề gồm
các nội dung đào tạo, mà đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải
cũng cần phải thực hiện. Đào tạo bán lành nghề là đào tạo nhằm trang bị một số
kiến thức và kỹ năng nghề nhất định cho nguồn nhân lực. Đào tạo lành nghề là
đào tạo nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng nghề diện rộng hoặc chuyên sâu
cho người lao động, làm cho họ có khả năng đảm nhận những công việc phức
tạp trong sản xuất. Đào tạo trình độ cao là đào tạo nhằm trang bị kỹ năng nghề
thành thạo và nắm vững kiến thức chuyên môn kỹ thuật cần thiết dựa trên nền
học vấn trung học phổ thông hoặc trung học chuyên nghiệp để có khả năng
vận hành các thiết bị hiện đại và xử lý được các tình huống phức tạp, đa dạng
trong các dây chuyền sản xuất tự động, công nghệ hiện đại, nâng cao chất
lượng chuyên môn, kỹ thuật cho người lao động.
Giáo dục đại học và sau đại học là một hướng đào tạo rất quan trọng
nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải. Đào tạo
cao đẳng và đại học có mục tiêu là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao,
đào tạo các chuyên gia cho tất cả các lĩnh vực phục vụ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo sau đại học gồm hai bậc: đào tạo thạc sỹ và đào tạo
tiến sỹ dành cho những người đã tốt nghiệp đại học và đáp ứng các yêu cầu

ngành đào tạo, có khả năng đóng góp vào sự phát triển khoa học, công nghệ,

19

kinh tế, xã hội của đất nước. Đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sỹ phải đảm bảo
cho học viên được bổ sung và nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại
học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác
chuyên môn một cách độc lập, sáng tạo.
Phương pháp đào tạo nguồn nhân lực là việc sử dụng các cách thức,
biện pháp giáo dục, đào tạo của các chủ thể tác động vào đối tượng đào tạo
theo mục tiêu, nội dung nhất định. Đào tạo theo môđul là một biện pháp để
mềm hóa quá trình đào tạo nguồn nhân lực, làm cho việc đào tạo nguồn nhân
lực trở nên linh hoạt, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu của người học và người sử
dụng lao động. Việc liên thông giữa các loại hình đào tạo nguồn nhân lực sẽ
dễ dàng thực hiện khi các chương trình đào tạo được thiết kế theo môđul liên
thông. Đó là việc liên thông đào tạo nghề ngắn hạn và dài hạn; đào tạo nghề -
trung học chuyên nghiệp - cao đẳng kỹ thuật trong đào tạo nguồn nhân lực.
Mặt khác, sử dụng phương pháp này trong đào tạo nguồn nhân lực tạo thuận
lợi cho việc đào tạo lại và chuyển đổi giữa các nghề, trong phát triển nguồn
nhân lực. Gắn lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành là nguyên tắc chi phối
trong thực hiện nội dung, phương pháp đào tạo nguồn nhân lực.
Đào tạo nguồn nhân lực nói chung, đào tạo nguồn nhân lực trong các
trường đại học và cao đẳng ngành Giao thông vận tải nói riêng chịu sự tác
động trực tiếp của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan. Trước hết và trực
tiếp là các nhân tố: trình độ học vấn của nguồn nhân lực; giáo dục lao động
hướng nghiệp ở các trường phổ thông; sự phát triển của kinh tế - xã hội; hệ
thống giáo dục và đào tạo; sự phát triển của thị trường lao động.
1.1.3. Đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực trong các trường của ngành
Giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay
Phân tích, làm rõ đặc điểm đào tạo nguồn nhân lực của ngành Giao

lượng, đến việc xác định nội dung, chương trình đào tạo nguồn nhân lực của
ngành Giao thông vận tải nước ta hiện nay.

Trích đoạn Đa dạng hóa chương trình, hình thức đào tạo trong các trường Đối với các Bộ, Ngành có liên quan đến chất lượng đào tạo Nâng cao nhận thức các cấp lãnh đạo trong ngành Giao thông
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status