ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TRƯƠNG TÂ
́
T THĂ
́
NG
TRIÊ
́
T LY
́
NHÂN SINH CU
̉
A ĐA
̣
O GIA
VÀ NGHA CA N
LUẬN VĂN THẠC S TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triê
́
t ho
̣
c
Mã số: 60 22 80 Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. V VĂN THUN
HÀ NỘI – 2013
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƢ TƢỞNG CƠ
BẢN CHO SỰ RA ĐỜI TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA 6
1.1. Cơ sở hình thành triết học Đạo gia 6
1.1.1. Bối cảnh ra đời triết học Đạo gia 6
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của Đạo gia 10
1.2. Tiền đề tư tưởng cơ bản cho sự ra đời triết lý nhân sinh của
Đạo gia 14
1.2.1. Học thuyết về “Đạo” và “Đức” trong tư tưởng của Lão Tử và
Trang Tử 14
1.2.2. Nhận thức luận của Lão Tử và Trang Tử 24
1.2.3. Thuật dưỡng sinh của Đạo gia 27
1.3. Đạo giáo - sự biến tướng của Đạo gia 32
Chƣơng 2. NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA 35
2.1. Con người nhận thức về thế giới và về mình 36
cần thiết
1
.
Đất nước ta có vị trí địa lý giáp Trung Quốc, cùng với việc phải trải qua
hàng nghìn năm đô hộ của quân xâm lược phương Bắc nên chúng ta đã có sự
giao lưu, tiếp biến sâu sắc văn hóa Trung Quốc. Bên cạnh sự phát triển mạnh
mẽ của Nho giáo thì Đạo gia cũng có vai trò nhất định và ảnh hưởng đến quan
niệm sống, triết lý sống của nhiều thế hệ người Việt. Rất nhiều triều đại Việt
Nam có tổ chức thi tam giáo đồng nguyên Nho - Phật - Lão. Như vậy, với triết
lý nhân sinh có bản chất riêng, Đạo gia đã khẳng định được vị trí trong xây
dựng đất nước. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và
phát triển kinh tế thị trường mở cửa hội nhập thì những tư tưởng thời cổ đại
không còn phù hợp nữa nhưng ở đâu đó triết lý nhân sinh sâu sắc của Đạo gia 1. Đạo gia là một hệ tư tưởng triết học do Lão Tử sáng lập thời Xuân thu - Chiến quốc. Đạo giáo là một tôn giáo
bản địa Trung Quốc do Trương Đạo Lăng sáng lập thời Đông Hán.
2
vẫn tồn tại trong xã hội. Đặc biệt, trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay,
hiện tượng mê tín dị đoan có xu hướng ngày một gia tăng và phức tạp. Những
hiện tượng đó bắt nguồn một phần từ Đạo giáo, một biến tướng của Đạo gia.
Đạo giáo là tôn giáo bản địa Trung Quốc do Trương Đạo Lăng sáng lập vào thời
Đông Hán và tôn Lão Tử là giáo chủ của tôn giáo này. Do đó việc nghiên cứu
Đạo gia vừa thấy được ý nghĩa nhân sinh cao đẹp, vừa đẩy lùi những hiện tượng
mê tín dị đoan theo tôi là cần thiết trong xã hội ngày nay. Đặc biệt, chủ tịch Hồ
Chí Minh còn kế thừa và vận dụng sáng tạo thành công nhiều giá trị có ích trong
triết lý nhân sinh của Đạo gia. Hơn nữa, trong đời sống xã hội hiện nay, một bộ
phận con người có biểu hiện suy đồi, tha hóa về đạo đức gia tăng. Thiên nhiên,
môi trường sinh thái bị ô nhiễm nặng nề do con người đã can thiệp quá sâu vào
môi trường tự nhiên. Vì vậy có thể thấy việc nghiên cứu triết lý nhân sinh Đạo
Như vậy, hầu hết các sách, các bài viết của các nhà nghiên cứu đều khái
quát rất đầy đủ những nội dung tư tưởng cơ bản của triết học Đạo gia. Những tư
tưởng triết học đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người Phương đông
trong đó có Việt Nam. Bên cạnh đó, các bài viết đã phân tích rõ sự khác biệt
giữa Đạo gia và Đạo giáo mà nhiều người lầm tưởng đó là một học thuyết. Các
nhà nghiên cứu đều cho rằng tư tưởng triết học mà Lão Tử sáng lập là một tư
tưởng lớn trong Cửu gia nhưng mảnh đất có sức sống mà tồn tại, phát triển
mạnh cho đến ngày nay lại là Đạo giáo. Tinh thần của Đạo giáo đã ảnh hưởng
sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần của người Phương đông chúng ta bởi
những hiện tượng mê tín dị đoan ngày càng gia tăng. Hiện nay, các tài liệu rõ
ràng về Đạo gia cũng không nhiều, đại đa số đó là các sách giáo trình đại cương
ở góc độ lịch sử văn hóa. Những người nghiên cứu về Đạo gia cũng tương đối ít
và cũng chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể và chi tiết về vấn đề triết lý nhân
sinh của Đạo gia. Những nhà nghiên cứu chỉ khái quát phần nào ảnh hưởng của
tư tưởng Đạo gia đến tư tưởng của các nhà triết học khác.
Vì vậy, với đề tài: Triết lý nhân sinh của Đạo gia và ý nghĩa của nó, tôi
mong muốn phân tích cụ thể những nội dung cơ bản trong triết lý nhân sinh của
triết học Đạo gia và rút ra ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội, nêu lên một
tiếng nói góp phần làm rõ những vấn đề đã đặt ra.
4
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
3.1. Mục đích
Luận văn góp phần làm rõ những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh
Đạo gia và ý nghĩa của nó trong đời sống xã hội.
3.2. Nhiệm vụ
Với mục đích như trên luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở hình thành và những tiền đề tư
tưởng cơ bản cho sự ra đời triết lý nhân sinh của Đạo gia.
- Phân tích, hệ thống hóa những nội dung cơ bản triết lý nhân sinh của
Đạo gia.
Chƣơng 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ TƢ TƢỞNG CƠ BẢN
CHO SỰ RA ĐỜI TRIẾT LÝ NHÂN SINH CỦA ĐẠO GIA
1.1. Cơ sở hình thành triết học Đạo gia
1.1.1. Bối cảnh ra đời triết học Đạo gia
Đạo gia là một hệ tư tưởng triết học Trung Quốc cổ đại xuất hiện vào thời
Xuân Thu - Chiến Quốc (khoảng 770 đến 221 trước Công nguyên). Thời kỳ
này, xã hội Trung Quốc trải qua những biến động lớn lao cả về kinh tế - chính
trị - xã hội cũng như sự quyết liệt trong phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Có rất nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là giai đoạn giao thời hay bước
chuyển giữa chế độ chiếm hữu nô lệ suy tàn sang chế độ phong kiến sơ kỳ đầu
tiên [8, tr.175]. Thời kỳ này bắt đầu từ thời Tây Chu (khoảng 1111 đến 770
trước Công nguyên, Đông Chu khoảng 770 đến 221 trước Công nguyên), lịch
sử gọi thời kỳ này là thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Cuối thời Tây Chu, xã hội nô
lệ Trung Quốc đã bắt đầu có sự khủng hoảng. Đồ sắt xuất hiện phổ biến, công
cụ sản xuất bằng sắt dần thay thế công cụ bằng đồng, đá trước đây. Thời kỳ này,
việc dùng bò kéo cày đã trở thành phổ biến. Bên cạnh đó, hàng loạt những phát
minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới
trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, năng suất lao động
ngày càng tăng. Thời kỳ này, hệ thống thủy lợi đã được quan tâm, củng cố, mở
rộng trải khắp khu vực Trường Giang. Diện tích canh tác nhờ vậy được mở
rộng, ruộng đất do nông nô vỡ hoang biến thành ruộng tư ngày một nhiều. Bọn
quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã thành ruộng tư, chế độ
“tỉnh điền” dần tan rã.
2
2
xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ. Đầu Tây Chu có hàng ngàn nước đến cuối
thời Xuân thu chỉ còn hơn một trăm nước. Trong đó, có những nước hung mạnh
nhất thời bấy giờ thay nhau làm bá chủ thiên hạ là Tề, Tần, Sở, Tống, Ngô,
Việt, Tấn. Những quốc gia này hùng mạnh và làm minh chủ các nước khác là
do các vua cai trị theo chính sách bá đạo, hoàn toàn đối lập với cách cai trị của
vương đạo, lấy nhân nghĩa, lấy đức thu phục người và giáo hóa người.
8
Thời Xuân thu các lãnh chúa càng tăng cường bóc lột nhân dân lao động.
Người dân ngoài việc phải đi lính nhằm phục vụ mục đích thực hiện các cuộc
chinh phạt của các tập đoàn quý tộc, họ còn phải chịu sưu cao, thuế nặng, phu
phen lao dịch nặng nề. Bên cạnh đó họ còn chịu cảnh thiên tai tàn phá nặng nề,
cướp bóc nổi lên khắp nơi làm cho đời sống người dân càng thêm đói khổ. Dân
lưu vong khắp nơi làm cho đồng trong ruộng ngoài bỏ hoang rất nhiều, đời sống
nhân dân vô cùng cực khổ.
Bên cạnh đó, việc thôn tính lẫn nhau của các nước chư hầu đã làm cho
hàng loạt các nước chư hầu nhỏ bị diệt vong. Ngoài ra, lễ nghĩa nhà Chu cũng
bị phá hoại, mâu thuẫn trong các giai cấp thống trị trở nên gay gắt và sự rối loạn
trong xã hội ngày càng tăng. Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo
đức suy đồi nên tình trạng tiếm ngôi đoạt vị, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của
Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ nghĩa của chư hầu. Trong xã hội, cảnh tôi giết
vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra. Chế độ lễ nghi
nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng. Vấn đề tang viếng, tế lễ, chúc mừng
trở thành thủ đoạn ngoại giao chứ không còn là lề nghĩa của quan hệ gia tộc và
trật tự xã hội nữa.
Trong khi người dân đen phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu,
lãnh chúa quý tộc lại sống xa hoa trên xương máu của nhân dân. Họ cất lên
những cung điện nguy nga, như cung Bồng đế của vua Tấn, rộng đến mấy dặm.
Dân làm ra ba phần chỉ được ăn có một phần, gạo trong kho mục nát mà người
đói rét thây chất đầy đồng, trong cung chen chúc cung nữ. Tình hình nhân dân
đói rét, cực khổ nên nạn trộm cướp hoành hành nổi lên liên tiếp. Bọn thống trị
các nhà tư tưởng nổi tiếng và các trường phái triết học lớn. Bên cạnh Nho, Mặc,
Danh, Pháp…thì Đạo gia cũng góp tiếng nói không nhỏ làm phong phú thêm tư
tưởng triết học Trung Quốc thời kỳ này. Lịch sử gọi thời kỳ này là “Bách gia
chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “Bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) đã đẻ
ra một loạt những nhà tư tưởng vĩ đại đấu tranh với nhau hết sức quyết liệt, tạo
nên không khí sôi động trong đời sống tinh thần xã hội Trung Quốc cổ đại.
10
1.1.2. Sự hình thành và phát triển của Đạo gia
Người sáng lập Đạo gia là Lão Tử nên trường phái triết học này còn gọi
là Đạo Lão. Sau Lão Tử là Dương Chu và Trang Tử là người tiếp tục xây dựng,
phát triển làm phong phú thêm những tư tưởng của Đạo gia. Sau này một số học
giả như Liệt Tử, Vương Bật, Hà Án đã phát triển hơn nữa, chuẩn xác nhất học
thuyết Đạo gia. Tuy nhiên, ở luận văn này tôi chỉ trình bày tư tưởng của Lão Tử
và Trang Tử bởi quan niệm của hai ông là quan đỉểm cơ bản và cụ thể nhất của
trường phái triết học Đạo gia. Vì thế, người đời còn gọi trường phái triết học
Đạo gia là học phái Lão - Trang.
1.1.2.1. Lão Tử (Khoảng cuối thế kỷ VI trước Công nguyên):
Lão Tử là một nhà triết học lớn với học thuyết về “đạo” nổi tiếng ở Trung
Quốc thời cổ đại. Ông được coi là người sáng lập ra trường phái triết học Đạo
gia. Tuy nhiên, năm sinh, năm mất cũng như cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử
đến nay vẫn còn rất mập mờ, thấp thoáng, nửa hư nửa thực giống như triết lý
của ông. Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được một cách
chính xác cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử. Đa số các tài liệu đều cho rằng
Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử và có dạy lễ cho Khổng Tử. Trong hai
thiên Khổng Tử thế gia và Lão Tử liệt truyện của Sử ký Tư Mã Thiên đã nói về
Khổng Tử từng gặp Lão Tử ở Chu để hỏi về lễ. Thiên Lão Tử liệt truyện viết:
“Khổng Tử đến Chu, muốn hỏi Lão Tử về lễ, Lão Tử nói: Những người ông nói
đều tan xương nát thịt cả rồi, chỉ còn lời nói của họ thôi. Vả lại, người quân tử
gặp thời thì xe ngựa nghênh ngang, không gặp thời thì như cỏ bồng xoay
chuyển. Tôi nghe nói: “Người buôn giỏi thì biết dấu của báu khiến người ta thấy
người Trung Hoa hàng mấy mươi thế kỷ” [66, tr. 11]. Lâm Ngư Đường thì đánh
giá: “Nhờ Lão Tử mà dân tộc Trung Hoa mới tồn tại được trong ba bốn ngàn
năm vật lộn với đời sống mà ít ai mắc chứng tâm thần kinh, hay bệnh đứt mạch
máu như người phương Tây” [66, tr. 11]. Cũng theo các nhà nghiên cứu thì Đạo
đức kinh ảnh hưởng rất sâu sắc tới thi ca và hội họa. Với cuộc sống, Đạo đức
kinh được coi là thứ Tâm linh học đạo, với lịch sử xã hội thì đó là phương pháp
Đạo trị.
12
Lão Tử là người mở đầu trường phái Đạo gia luận giải về sự hình thành
vũ trụ. Sự luận giải vũ trụ của ông được coi là trung tâm để giải quyết mọi vấn
đề từ vũ trụ quan, nhân sinh quan và chính trị quan. Chính vì sự ẩn chứa những
tư tưởng vĩ đại với một quan điểm sâu sắc như vậy về vũ trụ nhân sinh và Đạo trị
mà hậu thế không thể bàn cãi gì về mặt giá trị và việc định danh giá trị ấy. Với
nhân loại đó là Đạo, và Đạo ấy là thứ đạo đức bản thể nhất, cao cả nhất. Nếu đạo
ấy được nhân loại thấm nhuần và thể hiện thì hạnh phúc thật sự thấm nhuần. Mặc
dù tư tưởng của ông có nhiều hạn chế nhưng xét về mặt lịch sử xã hội thì nó là
một di sản sống mãi với thời gian. Tên tuổi của Lão Tử cùng học thuyết triết học
của người vẫn được các nhà chính trị mọi thời đại quan tâm và ứng dụng trong
đời sống xã hội.
1.1.2.2. Trang Tử (Khoảng 396 - 286 trước Công nguyên):
Trang Tử sống vào thời kỳ Chiến Quốc, đây là giai đoạn xã hội Trung
Quốc đảo lộn dữ dội, chuyển tiếp từ xã hội nô lệ sang chế độ phong kiến. Cuộc
đời và sự nghiệp của Trang Tử cũng có nhiều tranh luận. Điều chắc chắn rằng
Trang Tử sống cùng thời với Mạnh Tử, Huệ Vương nước Lương và Tuyên
Vương nước Tề vào khoảng thế kỉ IV đến thế kỷ III trước Công nguyên. Trong
Sử ký của Tư Mã Thiên có ghi chép như sau: Trang Tử người huyện Mông, tên
là Chu. Chu có lần làm lại ở thành Tất Viên thuộc huyện Mông, đồng thời với
Lương Huệ Vương và Tề Tuyên Vương [61, tr. 333]. Theo các nhà nghiên cứu,
nước Tống là một nước nhỏ ở giữa hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam của Trung
Quốc hiện nay. Trang Tử đã từng làm quan Tất viên (coi vườn sơn) ở xứ Mông,
phần: Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên. Phần Nội thiên gồm bảy thiên như:
Tiêu diêu du, Tề vật luận, Dưỡng sinh chủ, Nhân gian thế, Đức sung phù, Đại
tông sư, Ứng đế vương. Phần Ngoại thiên gồm 15 thiên: Biên mẫu, Mã đề, Khứ
cự, Tại hiệu, Thiên địa, Thiên đạo, Thiên vận, Khắc ý, Thiện tính, Thu thủy, Chí
lạc, Đạt sinh, Sơn mộc, Điền Tử Phương, Tri bắc du. Phần Tạp thiên có 11 thiên
như: Canh tang sở, Từ vô quỷ, Tắc dương, Ngoại vật, Ngụ ngôn, Nhượng
vương, Đạo chích, Duyệt kiếm, Ngư thụ, Liệt Ngự Khấu, Thiên hạ. Trong 33
thiên trên, không phải do Trang Tử viết hoàn toàn. Căn cứ theo tính cách và tư
14
tưởng của ông thì chỉ có phần Nội thiên là của Trang Tử, còn Ngoại thiên và
Tạp thiên có chỗ do ông viết, có chỗ do người đời sau viết.
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng cơ bản cho sự ra đời triết lý nhân sinh của Đạo gia
1.2.1. Học thuyết về “Đạo” và “Đức” trong tư tưởng của Lão Tử và
Trang Tử
Thay vì Dịch học cho rằng khởi nguyên của vũ trụ là Thái Cực, Chu
Liêm Khê (đời Tống) gọi là Vô Cực thì Lão Tử gọi tên thực thể khởi nguyên vũ
trụ theo quan niệm của mình là “ đạo” và ông đã luận giải sự hình thành của vũ
trụ theo “đạo”. Nó là nền tảng chi phối xuyên suốt các vấn đề trong triết học của
ông và hầu hết các quan điểm về vũ trụ, nhân sinh của người Trung Hoa cổ đại.
Thuật ngữ “đạo” có lẽ được sử dụng từ thời trước Lão Tử. Các văn bản cổ của
Trung Hoa như Thượng thư, Kinh thi… thường nói đến đạo với nhiều ý nghĩa
khác nhau như “thiên đạo”, “nhân đạo”, “đạo đức”… Nhưng đến Lão Tử, “đạo”
trở thành một khái niệm cực kỳ quan trọng, chi phối, xuyên suốt toàn bộ học
thuyết của ông và nó được coi là một phạm trù cơ bản trong triết học của ông.
Xét về mặt bản thể luận, “đạo” của Lão Tử diễn đạt theo ba nội dung là thể,
tướng và dụng.
Mặt thể của “đạo” nhằm chỉ ra nguồn gốc tối sơ, nguyên thủy của vũ trụ
vạn vật. Nó là cái chi phối sự sinh thành và biến hóa của trời đất, là cái cực diệu
cực huyền cho vạn vật noi theo. Tất thảy vạn vật đều sinh ra từ “đạo” rồi chết đi
lại trở về với “đạo”. Lão Tử đã viết: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh.
yên nhi bất chủ, khả danh vi đại” [33, tr. 215]. (Đạo lớn tràn khắp bên phải bên
trái, vạn vật nhờ nó mà sinh, không có vật nào bị khước từ. Xong việc không để
lại tên, che chở nuôi dưỡng muôn loài mà không làm chủ.Thường không ham
muốn nên có tên là nhỏ. Được muôn vật theo về mà không làm chủ nên lớn). Có
thể thấy vạn vật nhờ Đạo mà sinh ra, vì thế vật nào cũng có một chỗ đứng thích
hợp với mình, không bị khước từ. Tuy rằng, Đạo che trở nuôi nấng vạn vật
nhưng vẫn để cho vạn vật tự do làm chủ lấy mình tùy theo sức sống, khả năng
sẵn có mà thích ứng với môi trường sinh hoạt. Đạo không phải là con người nên
không có những ham muốn vì thế có thể gọi tên là nhỏ. Dù không làm chủ và
16
gây nên sự cưỡng bức nào mà vạn vật vẫn tự chuyển tuân theo quy luật của đạo,
sớm muộn thế nào vẫn trở về với “đạo”, vì thế có thể gọi tên “đạo” là lớn.
Lão Tử đã không thừa nhận sự biến hóa của thế giới tuân theo một mục
đích định sẵn của một thế lực siêu nhiên nào đó khi đề cao tính tự nhiên, thuần
phác của “đạo”. Theo ông, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều sinh ra từ
đạo và cuối cùng mất đi lại trở về với đạo. Đạo có tính chất lặng yên và trống
không và Lão Tử thường dùng từ “cốc thần” để chỉ tính chất trống rỗng của
“đạo”. “Cốc thần” chỉ khoảng trống không giữa lòng hang sâu, không hình,
không ảnh, không ngược, không trái, ở thấp không hèn không động, giữa lặng
yên không suy. “Cốc thần bất tử, thi vị huyền tẫn, huyền tẫn chi môn, thị vị
thiên địa căn. Miên nhiên nhược tồn, dụng chi bất cần” [33, tr. 173]. (Thần hang
không chết nên gọi là huyền tẫn. Cửa của huyền tẫn gọi là gốc của trời đất.
Dằng dặc như còn mãi, dụng mãi mà không kiệt). Như vậy, sự lặng yên, trống
rỗng của “đạo” là một định tính có tính chất căn bản. Sự trống rỗng này vô cùng
vô tận, chứa đựng muôn vật vạn loài mà chẳng bao giờ đầy, biến hóa khôn
lường mà chẳng bao giờ kiệt. Cái lặng yên, trống rỗng của “đạo” còn được Lão
Tử diễn đạt bằng từ “vi diệu, huyền thông”. Ông cũng dùng chữ “huyền” với
nghĩa sâu kín, mầu nhiệm, không danh tính, không hình thể, không thể nói ra
được bằng lời để chỉ “đạo” biến hóa. Ông viết: “Vô danh thiên địa chi thủy, hữu
danh vạn vật chi mẫu. Cố thường vô, dục dĩ quan kì diệu; thường hữu, dục dĩ
không thời gian, ở trên hai thể Âm Dương tương đối; vì thế “đạo” không phải là
một thực tại bị tách chia ra đáp ứng sự nhận thức của mắt, tai và tay của con
người. Do đó, nó mập mờ, không có hình trạng, đón không thấy đầu, theo
không thấy đuôi. Nhưng “đạo” không bao giờ mất, nó tồn tại khắp cả vũ trụ, là
đầu của trời đất, là mẹ của muôn vật. Vì thế không thể diễn đạt nó bằng lời,
không gọi nó bằng các tên thường: “Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả
danh phi thường danh. Vô danh thiên địa chi thủy. Hữu danh vạn vật chi mẫu”
[66, tr. 83]. (Đạo mà có thể diễn tả được thì không phải đạo bất biến nữa. Tên
mà có thể đặt ra gọi thì không còn là tên vĩnh cửu nữa, Hữu danh là mẹ của vạn
vật. Vô danh là gốc của trời đất).
18
Đặc biệt, Lão Tử đã lấy hình tượng nước để diễn đạt trạng thái của “đạo”.
Đó là tính mềm mại, linh hoạt và dễ thích ứng của nước. Ông viết: “Thiên hạ
nhu nhược mạc quá ư thủy, nhi công kiên cường giả, mạc chi năng thắng, kỳ vô
dĩ dị chi”. (Trong thiên hạ, không có gì mềm yếu hơn nước mà công phá vật rắn
mạnh thì không gì hơn được nó, không lấy gì thay thế được nó) [66, tr. 311].
Nước giống Đạo ở chỗ không có thể chất, hình trạng và không nơi nào nước
không tới. Nó rất mềm yếu song không gì mạnh hơn nó, linh hoạt bằng nó. Lão
Tử đã ví “đạo” giống nước luôn chảy về nơi thấp, giống như sông dài, biển rộng
có hàng trăm dòng đổ về. Nước mềm mại không tranh chấp ganh đua vì nó
nhún nhường, khiêm tốn cho nên nó lan tràn và len lỏi khắp mọi nơi. Mặc dù
nước luôn ở chỗ thấp nhưng công dụng và sức mạnh của nước lại lớn đến hiển
nhiên mà sâu sắc.
Mặt dụng của “đạo” chính là công dụng, năng lực của nó. Đó là trạng thái
vận động, biến đổi với năng lực sản sinh và huyền đồng vạn vật “đạo” có sức
sáng tạo vĩ đại, bao quát và ngự trị trời đất. Nhận được “đạo” tưới tắm vạn vật
hiển hiện ra trong trời đất bằng muôn loại hình dạng khác nhau. Lão Tử đã lấy
hình ảnh ống bễ của người thợ rèn để diễn đạt cái năng lực sáng tạo của “đạo”.
Từ trong sự trống rỗng của ống bễ khi vận động, vạn vật sinh sôi nảy nở như
hơi thoát ra từ ống bễ. Tuy “đạo” luôn bao trùm, che trở và nuôi dưỡng vạn vật
luật ấy sẽ tự có một phản lực để lấy lại thế quân bình: “Thiên chi đạo kỳ do
trương cung dư. Cao giả ức chi hạ giả cử chi, hừu dư giả tổn chi, bất túc giả bổ
chi.Thiên chi đạo tổn hữu dư nhi bổ bất túc, nhân chi đạo tắc bất nhiên tổn bất
túc dĩ phụng hữu dư” [66, tr. 309]. (Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung
chăng. Dây cung ở cao quá thì hạ nó xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên; dài quá
thì bỏ bớt đi, ngắn quá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu, đạo
người không vậy, lấy chỗ thiếu cấp chỗ dư). Nếu chúng ta để ý có thể thấy luật
quân bình này thường xuyên hiện thực trong các hiện tượng thiên nhiên. Chính
nhờ luật quân bình mà vạn vật tồn tại, biến đổi không ngừng theo một trật tự tự
nhiên, nhất định. Luật quân bình chống lại những gì thái quá trái với sự điều hòa
của tự nhiên. Để chống lại những gì thái quá, nó thường lấy nhu thắng cương,
nhược thắng cường: “Xí giả bất lập, khóa giả bất hành. Tự hiện giả bất minh, tự
20
thị giả bất chương” [33, tr. 200]. (Nhón gót lên thì không đứng vững, xoạc chân
ra thì không bước được, tự xem là sáng thì không sáng, tự xem là phải thì không
chói). Lão Tử nói rõ về sự quân bình của Đạo như sau: “Khúc tắc toàn, uổng tắc
trực, oa tắc doanh, tệ tắc tân, thiểu tắc đắc, đa tắc hoặc” [33, tr. 196]. (Cong thì
sẽ được bảo toàn, queo thì sẽ được thẳng ra, trũng thì sẽ đầy, cũ nát thì sẽ mới,
ít thì sẽ được thêm, nhiều thì sẽ hóa mê).
Theo Lão Tử, trong quá trình vận động, biến đổi, khuynh hướng tất yếu
của vạn vật là trở về trong “đạo”, trở về với tĩnh lặng, hư không theo luật phản
phục. Phản là trở về, là quay ngược lại cái hướng đã đi trước. Phục là trở lại, lấy
lại cái đã mất.Theo luật phản phục, cái gì phát triển đến tột đỉnh thì tất cả trở
thành cái đối lập với nó, sự vật khi phát triển đến cực điểm các tính chất của nó
thì tính chất ấy sẽ đi ngược lại để trở thành tính chất tương phản. Nhìn vũ trụ
thiên nhiên, Lão Tử cho rằng phản phục là quy luật của “đạo”. Theo Lão Tử,
phản phục được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, phản phục là sự vận động, biến
hóa có tính chất tuần hoàn, đều đặn, nhịp nhàng của tự nhiên vạn vật như bốn
mùa thay đổi, hết ngày lại đến đêm, trăng tròn rồi lại khuyết, đó là quy luật tất
yếu của tự nhiên. Các sự vật cứ mờ mờ thấp thoáng, lúc sinh lúc tử, lúc yếu lúc
lệnh mà lẽ thường tự nhiên). Theo Lão Tử, “đạo” sinh ra vạn vật, “đức” nuôi
nấng vạn vật, từ đó vạn vật lại tạo ra hình dáng các thế hệ sau theo chủng loại
của mình bởi vì vạn vật được sinh dưỡng bởi “đạo” và” đức”. Đạo vốn không
tên, đến “đức” tên mới bắt đầu có, vạn vật nhờ “đức” chứa mà không đồng đều,
sinh ra đối chọi lớn nhỏ, nhiều ít, sướng khổ để suy tính phân biệt nhân, lễ,
nghĩa vậy.Vì vậy: “ Thất đạo nhi hậu đức, thất đức nhi hậu nhân, thất nhân nhi
hậu nghĩa, thất nghĩa nhi hậu lễ” [66, tr. 198.]. (Mất đạo rồi mới có đức, mất
đức rồi nhân sinh, mất nhân rồi nghĩa sinh, mất nghĩa rồi lễ sinh ra vậy). Như
vậy Lão Tử coi “đạo” và “đức” là chủ của nhân, nghĩa, lễ và nó chỉ là cái vỏ của
“đạo”, “đức” mà thôi. Chính vì thế, Lão Tử chủ chương bỏ nhân, nghĩa, lễ để
quay về với “đạo” và “đức”. Mọi vật đều chứa “đạo” và “đức”, “đức” luôn đi
kèm theo “đạo” để sinh ra, nâng đỡ cho vạn vật tồn tại và phát triển. Đức không
22
phải là vật có hình tượng cụ thể, mà là một năng lực huyền diệu siêu hình, đảm
đương việc bảo tồn vạn vật sau khi “đạo” sáng tạo ra.
Kế thừa tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử vẫn coi “đạo” là nguồn gốc sinh
ra mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ. Ông thường gọi ngắn gọn là “đạo sống”,
“nguồn sống”, hoặc “sống chung”.Trang Tử coi “đạo” là cái vô danh, vô
thường, không nghe thấy và không gọi tên được, nó là một thứ siêu cảm giác
không thể dùng ngôn ngữ gọi tên và nó còn là quy luật tự nhiên chi phối mọi sự
biến động của vũ trụ: “Đạo chẳng có thể nghe được, nghe được không phải là
nó. Đạo cũng chẳng có thể thấy được, thấy được không còn phải là nó nữa. Có
thể nào lấy trí mà hiểu được cái hình dung của cái không hình dung được
chăng? Vậy thì không nên đặt tên cho đạo” [61, tr. 43]. Trong thiên Tề vật luận,
Trang Tử nói tiếp: “Đạo mà sáng thì không phải là đạo. Lời mà rõ ràng thì
không đến chốn” [61, tr. 43]. Vậy tại sao “đạo” là cái vô danh? Trang Tử cho
rằng: “Biết phần sống, giữ phần mái. Làm gà trong đời, thế phải. Biết phần
trắng, giữ phần thuốc. Làm hang trong đời, thế được. Người đều lấy trước. Ta
riêng lấy sau. Lại nói: Nhận thấy ghét cáu ở đời. Người đều lấy thực. Ta riêng
lấy hư” [61, tr. 343.]. Trang Tử cho rằng, “đạo” vô danh không phải vì nó