Vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

NGUYỄN THỊ KIM THANH
VAI TRÒ CỦA TƯ DUY BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ
LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KINH TẾ Ở NƯỚC TA 7
1.1. Tư duy và tư duy biện chứng 7
1.1.1. Tư duy là quá trình phản ánh ở trình độ lý tính đối với hiện
thực khách quan 7
1.1.2. Bản chất và đặc điểm của tư duy biện chứng 14
1.2. Vai trò cuả tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
kinh tế 32
1.2.1. Khái niệm lãnh đạo, quản lý kinh tế 33
1.2.2. Tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế 38
1.2.3. Vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý
kinh tế 41
Chương 2. THỰC TRẠNG TƯ DUY VÀ YÊU CẦU NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ
TƯ DUY BIỆN CHỨNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN
LÝ KINH TẾ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 46
2.1. Thực trạng tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế ở
nước ta hiện nay 46
2.1.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến tư duy của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo, quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay 46
2.1.2. Những ưu điểm và nhược điểm trong tư duy của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay 61
2.2. Yêu cầu nâng cao trình độ tư duy biện chứng của đội ngũ cán
bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay 76
2.2.1. Nắm bắt các quy luật của kinh tế thị trường 76
2.2.2. Tư duy về kinh tế phải thật sự năng động, nhạy bén, sáng tạo 77
2.2.3. Kết hợp chặt chẽ giữa tư duy về kinh tế với tư duy về chính trị 78
2.2.4. Kết hợp tư duy về kinh tế với tư duy về pháp quyền, đạo đức,
văn hóa, xã hội và môi trường 80
2.2.5. Tư duy phải hướng tới hiệu quả và lợi ích kinh tế 82
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TƯ DUY BIỆN
CHỨNG ĐỐI VỚI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ KINH TẾ Ở

trọng tâm là đổi mới kinh tế ở nước ta chỉ có thể thắng lợi khi các cán bộ có đủ
phẩm chất và năng lực cần thiết, có trình độ tư duy cao đáp ứng được nhiệm vụ
mới - đó là tư duy biện chứng.
Nhận thức rõ điều đó, nghị quyết các đại hội Đảng trong nhưng năm
đổi mới cũng như nhiều nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng và
Bộ Chính trị đã thường xuyên nhấn mạnh tầm quan trọng của tư duy, trí tuệ
đối với cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế. Đại hội XI của Đảng
(2011) một lần nữa khẳng định chủ trương tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ
công tác cán bộ; thực hiện tốt chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém
trong từng khâu của công tác cán bộ; xây dựng và thực hiện nghiêm các cơ
chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng
những người có đức, có tài; nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp,…
Với một đội ngũ khá đông được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau và
trưởng thành từ thực tiễn chỉ đạo sản xuất, kinh doanh, cán bộ lãnh đạo, quản
lý kinh tế ở nước ta thời gian qua đã góp phần không nhỏ đưa đất nước thoát
ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh về phẩm chất đạo đức, kinh
nghiệm thực tiễn và năng lực tư duy, những yếu kém về tư duy lý luận, sự lạc
hậu của tư duy so với sự phát triển của thực tiễn, mà đặc biệt là sự yếu kém về
tư duy biện chứng được biểu hiện trên các căn bệnh trong phương pháp tư
duy, như lối tư duy siêu hình, kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều, bảo thủ, chủ
2

quan duy ý chí đã dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo hoạt
động kinh tế. Những yếu kém về tư duy biện chứng, về phương pháp tư duy
của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế đang là một vấn đề hết sức cấp
bách cần phải giải quyết khi nước ta đang tập trung phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, sự thành công hay không thành

- A.P. Septulin: Phương pháp nhận thức biện chứng, Nxb Sách giáo
khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1987
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới đất nước, đã có rất nhiều công trình
tập trung nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau của vấn đề tư duy, tư duy
biện chứng và thu được kết quả to lớn.
Xin nêu một số công trình cơ bản sau:
- Lê Hữu Tầng: Về phương pháp biện chứng, Triết học, số 3/1984;
- Ngô Thành Dương: Một số khía cạnh về phép biện chứng duy vật,
Nxb Sách giáo khoa Mác-Lênin, Hà Nội, 1986.
- Nguyễn Văn Linh: Đổi mới tư duy và phong cách, Nxb Sự thật, Hà
Nội, 1987.
- Nguyễn Duy Quý: Đổi mới tư duy: Nội dung và phương hướng, Triết
học, số 1/1987;
- Nguyễn Ngọc Long: Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới
tư duy, Tạp chí Cộng sản, số 10/1987;
- Lê Hữu Nghĩa: Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán
bộ ta, Triết học, số 2/1988;
- Trần Hữu Tiến: Đổi mới tư duy lý luận - vấn đề cấp bách hiện nay,
trong sách: “Mấy vấn đề cấp bách về đổi mới tư duy lý luận”, Học viện
Nguyễn Ái Quốc, Hà Nội, 1988;
- Lại Văn Toàn: Đổi mới tư duy. Tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi
mới, Triết học, số 1/1988;
- Nguyễn Trọng Chuẩn (chủ biên): Về sự phát triển của xã hội ta hiện
nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991.
4

- Phạm Ngọc Quang: Thử vận dụng lý luận về mâu thuẫn vào thời kỳ
quá độ ở nước ta, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991;
- Vũ Văn Viên: Suy nghĩ về những định hướng trong nghiên cứu và
giảng dạy Lô gích học thời gian tới, Triết học, số 1/1992;

nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tư duy biện chứng của cán bộ
lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược ở nước ta.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn là vai trò của tư duy biện chứng đối
với cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược ở nước ta từ khi đổi mới
đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, nhất là những nguyên lý của phép
biện chứng, lý luận nhận thức và lôgíc biện chứng. Luận văn quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh, vận dụng các Nghị quyết của Đảng, sử dụng các công trình của
các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã sử dụng các phương
pháp, như phân tích và tổng hợp; qui nạp và diễn dịch; lịch sử và lôgíc;
phương pháp so sánh; phương pháp thống kê và các phương pháp khác.
6. Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm rõ vai trò của tư duy biện chứng đối với cán bộ lãnh
đạo, quản lý kinh tế cấp chiến lược ở nước ta hiện nay.
- Khái quát một số đặc điểm nói lên thực trạng tư duy ở cán bộ lãnh
đạo, quản lý kinh tế, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
trình độ tư duy biện chứng cho đội ngũ cán bộ này ở nước ta hiện nay.
6

Kết quả nghiên cứu trong luận văn có thể được sử dụng như một tài
liệu tham khảo cho công tác đào tạo, qui hoạch và sử dụng cán bộ, đặc biệt là
cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay.
Kết quả của luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc
nghiên cứu và giảng dạy Triết học, Xây dựng Đảng, Kinh tế học trong hệ
thống các trường Đảng, các trường đại học và cao đẳng ở nước ta.

trên vật chất và ý thức của những con người riêng lẻ" [132, tr. 635]. Chẳng
hạn, đó là quan điểm của triết học Hêghen.
Hêghen không hiểu tư duy theo nghĩa thông thường. Với Hêghen, tư
duy rộng hơn năng lực chủ quan thuần túy. Ông không chỉ hiểu tư duy theo
nghĩa bó hẹp trong phạm vi ý thức cá nhân như một năng lực chủ quan của
8

con người, mà hiểu theo nghĩa rộng. Đó là ý niệm tuyệt đối đã sáng tạo ra giới
tự nhiên và con người. Tư duy của con người là giai đoạn phát triển cao nhất,
trong đó ý niệm tuyệt đối nhận thức được bản thân nó.
Hêghen phân biệt hai loại tư duy: Tư duy tự nó - chính là ý niệm tuyệt đối
tạo thành bản chất của toàn bộ hiện thực; Tư duy cho nó - tức là tư duy con
người. Tư duy tự nó là tư duy ở giai đoạn phát triển cao nhất. Chỉ có ở đây
mới có tư duy theo đúng nghĩa của danh từ này. Hêghen khẳng định: "Giới tự
nhiên chỉ là tư duy thể hiện dưới dạng các sự vật vật chất, hay còn gọi là tư
duy khách quan vô thức, còn tư duy con người là tư duy chủ quan có ý thức.
Chúng đồng nhất về nội dung Tư duy của mỗi người phải hoạt động theo
những quy luật chung của tư duy, tức tư duy tự nó" [137, tr. 207].
Trái lại, quan điểm của chủ nghĩa Mác cho rằng:
Tư duy - sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất được tổ chức một
cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong
các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.v. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt
động sản xuất xã hội của con người và bảo đảm phản ánh thực tại một cách
gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại [132, tr. 634].
Ph. Ăngghen viết: "Nếu người ta đặt câu hỏi rằng tư duy và ý thức là
gì, chúng từ đâu đến, thì người ta sẽ thấy rằng chúng là sản vật của bộ óc con
người" [67, tr. 55] ; "Ý thức, cũng như tư duy của chúng ta có vẻ siêu cảm
giác như thế nào đi chăng nữa, cũng chỉ là sản vật của một khí quan vật chất,
nhục thể, tức bộ óc" [68, tr. 408].
Tư duy là một sản phẩm xã hội cả về những đặc điểm của sự xuất hiện

sáng tạo, luôn muốn vươn tới nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, V.I. Lênin
cho rằng, thế giới không thỏa mãn con người và con người quyết định biến
đổi thế giới bằng hành động thực tiễn của mình. Tư duy còn có năng lực xây
dựng các khái niệm, phạm trù, liên kết chúng lại thành các "mạng lưới", hệ
thống hóa các tri thức, chỉ ra mối liên hệ, quan hệ giữa chúng với nhau, khái
quát được các quy luật chi phối tự nhiên, xã hội, và bản thân nó - tư duy, để từ
đó khám phá (có thể bằng con đường trực tiếp hoặc gián tiếp) các tri thức
10

mới. Tuy nhiên, năng lực sáng tạo của tư duy ở mỗi người là không giống
nhau, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố căn bản như: điều kiện lịch sử xã hội, thể
chất của con người, môi trường xã hội
Có thể nói tư duy mang bản chất người, thuộc phạm trù trí tuệ người,
giúp cho con người nhận thức, khám phá các thuộc tính, các mặt, các mối liên
hệ của sự vật, hiện tượng, đi sâu tới từng cấp độ của bản chất, phát hiện ra
những quy luật vận động và phát triển của hiện thực khách quan.
Quá trình tư duy cũng đồng thời là quá trình vận dụng tri thức vào đời
sống hiện thực. Hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội quy định tư duy. Trong quá
trình cải tạo giới tự nhiên, cải tạo xã hội, con người cũng cải tạo chính bản
thân mình, biến đổi và phát triển tư duy: "Trí tuệ con người đã phát triển song
song với việc người ta học cải biến tự nhiên" [67, tr. 720].
Nếu như hoạt động thực tiễn của con người là nguồn gốc, động lực chủ
yếu của tư duy, thì chính thực tiễn cũng là tiêu chuẩn cao nhất của tư duy, là cái
điều chỉnh tư duy. C. Mác nói: "Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể
đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý
luận, mà là một vấn đề thực tiễn" [64, tr. 9-10]. Thực tiễn là nơi cung cấp tài liệu
cho tư duy.
Các giác quan phản ánh hiện thực thành các dữ liệu, với tính năng động
và sáng tạo, với hàng loạt các thao tác: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,
trừu tượng hóa, v.v., tư duy chế biến chúng, tạo ra tri thức mới, phản ánh bản

duy có tính gián tiếp vì tư duy phải dựa trên cơ sở các hình thức nhận thức
cảm tính. Cảm giác, tri giác, biểu tượng là những hình thức nhận thức trực
tiếp với sự vật. Nhờ tính gián tiếp, có khả năng tách rời nhất định với sự vật
nên tư duy có sức mạnh to lớn trong sự phản ánh thế giới. Song điều đó cũng
tạo nên khả năng dễ rơi vào ảo tưởng, thoát ly thực tế.
Thứ tư: Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng
tạo trên cơ sở hoạt động thực tiễn của con người. Tư duy của con người là để
chỉ đạo cho hành động của con người, nó có xu hướng "hướng ngoại", hiện
thực hóa chứ không dừng lại ở trong đầu óc con người. V.I. Lênin cho rằng sự
12

chuyển hóa từ tư duy đến thực tại là rất quan trọng đối với lịch sử. Tư duy có
thể dự báo tương lai, tạo ra những giả thuyết khoa học, những lý thuyết hết
sức trừu tượng, tạo ra những mô hình lý tưởng cho hiện thực.
Tất cả những đặc trưng trên đây của tư duy có liên hệ chặt chẽ với
nhau, giả định lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau.
Tư duy là lĩnh vực hết sức phong phú, đa dạng và phức tạp. Nó vừa
mang dấu ấn của chủ thể tư duy, vừa mang dấu ấn của nội dung khách thể
được phản ánh trong tư duy.
Tư duy bao giờ cũng gắn liền với các chủ thể nhất định, vì thế khi nói về
tư duy thường người ta cũng quan tâm đến năng lực và trình độ tư duy của các
chủ thể. Năng lực tư duy là khả năng nhận thức và khái quát của chủ thể nhận
thức. Đó là từ những hiện tượng, thuộc tính rời rạc, riêng lẻ của sự vật, hiện
tượng, trong đầu óc chủ thể nhận thức diễn ra một quá trình với những thao tác
tư duy nhằm trừu tượng hóa và khái quát hóa để nắm bắt được bản chất và các
quy luật qui định sự tồn tại, phát triển của sự vật. Năng lực tư duy còn thể hiện
ở năng lực nhận thức và vận dụng lý luận vào thực tiễn đời sống; ngoài ra năng
lực tư duy của chủ thể hoạt động còn biểu hiện ở chỗ biết tổng kết kinh
nghiệm, khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận và xây dựng mô
hình lý luận mới phù hợp với sự vận động và phát triển của thực tiễn.

của con người và tri thức là điều kiện để năng lực tư duy của chủ thể phát
triển. Tri thức là vốn hiểu biết mà con người tích lũy được và năng lực tư duy
sẽ làm tăng vốn hiểu biết của con người lên một cách nhanh chóng.
Năng lực tư duy không tách rời trình độ tư duy. Khi nói về trình độ tư
duy là nói về cấp độ, mức độ hay những khả năng xác định của tư duy. Đó là
trình độ tư duy thấp và trình độ tư duy cao; đó là trình độ tư duy tiền khoa học
và trình độ tư duy khoa học; đó là trình độ tư duy khoa học thấp và trình độ tư
duy khoa học cao
Trình độ tư duy như thế nào thường được biểu hiện qua các phương
pháp tư duy. Trình độ tư duy thấp, kém khoa học thường bộc lộ ra ở phương
pháp tư duy mang nặng tính chất kinh nghiệm, bề ngoài. Với trình độ tư duy
14

này, chủ thể nhận thức mới dừng lại mô tả bề ngoài các hiện tượng riêng lẻ,
mới chỉ là tập hợp ghi nhớ các biểu hiện hình thức của sự vật; không biết gạt
bỏ các yếu tố đơn lẻ, ngẫu nhiên, thứ yếu để nắm lấy những mối liên hệ,
những thuộc tính bên trong của sự vật và hiện tượng.
Còn trình độ tư duy lý luận là sự phản ánh hiện thực một cách gián tiếp
bằng các phạm trù, nguyên lý, qui luật. Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn
ngữ và các hình thức tư duy để phân tích, tổng hợp và khái quát các tài liệu
cảm tính, nhằm nắm bắt các thuộc tính, các mối liên hệ mang tính bản chất,
các qui luật nội tại quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật và hiện tượng.
Về mặt loại hình tư duy triết học, trình độ phát triển cao nhất của tư
duy là tư duy biện chứng duy vật. Nó là sự thống nhất chặt chẽ giữa chủ nghĩa
duy vật và phương pháp biện chứng. Năng lực tư duy biện chứng là tổng hợp
tất cả các phẩm chất của tư duy ở trình độ cao, là khả năng đưa ra những
quyết định đúng đắn, hợp lý, kịp thời của chủ thể. Đó còn là khả năng lãnh
đạo, quản lý tổ chức để biến quyết định thành hiện thực.
1.1.2. Bản chất và đặc điểm của tư duy biện chứng
1.1.2.1. Bản chất tư duy biện chứng

Hêraclít cho rằng: Vạn vật bắt nguồn từ lửa lại chuyển biến thành lửa và luôn
luôn thay đổi hình thức tồn tại của nó. Ông là người đã nêu lên một luận điểm
biện chứng nổi tiếng là người ta không thể tắm được hai lần trên cùng một
dòng sông, bởi vì nước của dòng sông luôn chảy. Luận điểm đó nói lên sự vận
động, biến đổi không ngừng của sự vật.
Aristốt là đại diện xuất chúng của tư duy biện chứng cổ đại. Ông đã
phát biểu tư tưởng biện chứng về sự phát triển của giới tự nhiên, về vật thể
chuyển hóa từ trạng thái này sang trạng thái khác, về sự chuyển biến từ khả
năng thành hiện thực. Khi khảo sát hình thức và phạm trù của tư duy lý luận,
ông đã nhấn mạnh một cách biện chứng mối liên hệ giữa khái niệm, nghĩa là
sự phản ánh bằng khái niệm mối liên hệ lẫn nhau tồn tại trong thế giới khách
quan. Song, Aristốt cũng như các bậc tiền bối của ông chưa vượt ra khỏi
phạm vi quan niệm chung về giới tự nhiên.
16

Những phương pháp tư duy biện chứng thô sơ ấy phần lớn là tự phát và
còn nhiều hạn chế. Tư duy đó chỉ có thể dùng để nhận thức bức tranh tổng quát
thế giới, mà không thể dùng để nghiên cứu quá trình, hiện trạng và các sự vật
riêng lẻ được. Tư duy này chỉ hạn chế trong bức tranh tổng quát của hiện thực
xung quanh mà giác quan trực tiếp cảm thấy được, vì thế, không nêu ra được
mâu thuẫn nội tại vốn có và sự phát triển của một quá trình nhất định. Do đó,
quan niệm chung về mâu thuẫn, vận động và phát triển của tư duy biện chứng
cổ đại có được dường như là do nhận thức trực quan mà có.
Tư duy biện chứng như vậy đương nhiên không thể chiến thắng được
tư duy siêu hình, thậm chí có lúc nó còn cùng tồn tại với siêu hình học trong
những nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Ph. Ăngghen nhận xét như sau:
Hình thức thứ nhất là triết học Hy Lạp. Trong triết học này, tư duy biện
chứng xuất hiện với tính chất thuần phác tự nhiên Chính vì người Hy Lạp
chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích giới tự nhiên, cho nên họ hãy còn quan
niệm giới tự nhiên là một chỉnh thể và đứng về mặt toàn bộ mà xét chỉnh thể

đã đạt tới đỉnh cao nhất của nó, thể hiện ở Hêghen. Công lao lớn nhất của nó
là đã quay trở lại phép biện chứng, coi đó là hình thức cao nhất của tư duy"
[67, tr. 34]. Tất nhiên, sự quay trở lại với phương pháp tư duy biện chứng của
các nhà triết học và khoa học thời đó mà trong đó Hêghen là đỉnh cao là do
những thành tựu to lớn của khoa học tự nhiên mang lại, chứ không phải như
Hêghen nói đó là sự phát triển của ý niệm thuần túy.
Tư duy biện chứng, theo Hêghen, là sự thống nhất giữa tư duy và tồn
tại. Với ý nghĩa đó, Hêghen đã thực hiện sự phê phán một cách triệt để bất
khả tri luận của Kant và đã đạt tới tư tưởng về sự thống nhất của lịch sử và
lôgíc trong nhận thức, cho phép ông xây dựng được một hệ thống phạm trù có
nội dung sâu sắc.
Theo quan điểm của Hêghen, vạch ra sự phát triển của tư duy có nghĩa
là vạch ra lý luận nhận thức với tính cách là quá trình lôgíc tất yếu của lịch sử
nhận thức. Hệ thống lôgíc chặt chẽ về các phạm trù cũng là lôgíc của quá trình
nhận thức, còn bản thân phạm trù là những điểm tựa, điểm hướng dẫn của quá
18

trình nhận thức. Tuy có những hạn chế nhất định, song học thuyết của Hêghen
về sự phát triển biện chứng của phạm trù có ý nghĩa to lớn trong lịch sử phát
triển tư duy biện chứng, vì trong đó ông đã phỏng đoán tài tình sự phát triển
của các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan qua sự phát triển của các
khái niệm, phạm trù. Ông cũng đã phỏng đoán được sự thống nhất của những
quy luật của tồn tại và quy luật của tư duy.
Tuy nhiên, tư duy biện chứng ở Hêghen là tư duy biện chứng duy tâm,
bởi vì ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật
chứ không phải ngược lại. Vì vậy, C. Mác cho rằng ở Hêghen phép biện
chứng đứng bằng đầu, chỉ cần đặt nó đứng bằng hai chân trên mảnh đất hiện
thực thì mọi việc sẽ sáng tỏ. Đó chính là công việc mà C. Mác và Ph.
Ăngghen đã làm là: cải tạo phép biện chứng duy tâm của Hêghen, xây dựng
phép biện chứng duy vật, cũng tức là tư duy biện chứng duy vật - hình thức

phát sinh và sự tiêu vong của chúng" [67, tr. 38].
Trên cơ sở kế thừa, chọn lọc, cải tạo các tư tưởng của các nhà triết học
đi trước, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xây dựng phép biện chứng duy vật, đặt tư
duy biện chứng lên một trình độ mới, khoa học hơn. Ph. Ăngghen đã định
nghĩa: "Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật
phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người
và của tư duy" [67, tr. 201]. Do đó, lịch sử phát triển của phép biện chứng
cũng là lịch sử phát triển của tư duy biện chứng.
Tư duy biện chứng là tư duy phản ánh những mối liên hệ, sự vận động,
phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan.
1.1.2.2. Một số đặc điểm cơ bản của tư duy biện chứng
Tư duy biện chứng mácxít là trình độ cao của tư duy biện chứng ở trình
độ lý luận. Tư duy đó không chỉ dựa trên các quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy mà còn dựa trên các quy luật biện chứng riêng của tư duy được phản
ánh trong lôgíc biện chứng mácxít. Tư duy biện chứng mácxít có một số đặc
điểm cơ bản sau.
20

a) Nắm bắt và vận dụng được trong tư duy các quy luật phổ biến của
phép biện chứng duy vật.
Tư duy biện chứng là tư duy phản ánh một cách năng động, sáng tạo
biện chứng của thế giới khách quan mà thế giới khách quan tự nó là biện
chứng, do vậy, tư duy, với tư cách là phản ánh lý tính của hiện thực khách
quan cũng tất nhiên phải biện chứng. Nghĩa là, nó phải tuân thủ các quy luật
phổ biến, như quy luật mâu thuẫn, quy luật lượng - chất, quy luật phủ định
của phủ định v.v Ph. Ăngghen viết:
Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ
giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì
chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động
thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt, thông qua sự đấu tranh

Tư duy biện chứng đóng vai trò khái quát từ cái ngẫu nhiên trong lịch
sử thành cái tất yếu. Phương pháp của tư duy biện chứng là sự thống nhất của
các mặt đối lập: phân tích - tổng hợp; quy nạp - diễn dịch, lôgíc - lịch sử, trừu
tượng - cụ thể; các mặt đối lập đó cũng tồn tại trong tư duy biện chứng. Sự
xâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng là động lực phát triển của tư duy
biện chứng.
Tư duy biện chứng là quá trình tư duy mãi không ngừng tiến gần đến
biện chứng của khách thể. Như V.I.Lênin viết: Phản ánh của giới tự nhiên
trong tư tưởng con người phải được hiểu không phải một cách "chết cứng",
"trừu tượng", không phải không vận động, không mâu thuẫn, mà là trong quá
trình vĩnh viễn của vận động, của sự nảy sinh mâu thuẫn và sự giải quyết
những mâu thuẫn đó [51, tr. 207-208].
Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay
đổi về chất và ngược lại. Mọi người đều biết, sự vật chẳng những có tính qui
định về chất mà còn có tính qui định về lượng. Tư duy biện chứng với tính
cách là phản ánh lý tính của sự vật phải tái tạo sự thống nhất giữa chất và
lượng của sự vật đang ở trạng thái nào. Sự phụ thuộc hữu cơ tất yếu giữa tính

Trích đoạn Tư duy về kinh tế phải thật sự năng động, nhạy bén, sáng tạo Kết hợp chặt chẽ giữa tư duy về kinh tế với tư duy về chính trị Kết hợp tư duy về kinh tế với tư duy về pháp quyền, đạo đức,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status