ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
NGUYỄN THỊ DIỄM
PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƢỜI TRONG THỜI KỲ
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP,
NÔNG THÔN Ở HẢI DƢƠNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS. TS. TRẦN PHÚC THĂNG
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƢỜI VÀ NGUỒN LỰC CON
NGƢỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 6
1.1. Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về con người 6
1.1.2. Khái niệm về con người 6
1.1.2. Nguồn lực con người 11
1.1.3. Vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội 14
1.2. Nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở nước ta hiện nay 16
1.2.1. Đặc điểm của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam 16
1.2.2. Vai trò của nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn ở nươc ta hiện nay 19
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG NGUỒN LỰC CON NGƢỜI Ở HẢI DƢƠNG
TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG
NGHIỆP, NÔNG THÔN 25
2.1. Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát huy nguồn lực con
người ở Hải Dương trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp,
3.2.4. Phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng
xã hội vào việc bồi dưỡng nguồn lực con người hiện có chất
lượng ngày càng cao cho nông thôn 73
3.2.5. Đổi mới nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy
quản lý về nguồn lực con người 74
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 86 DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tăng trưởng kinh tế và đóng góp của 3 khu vực kinh tế
và tốc độ tăng chung tỉnh Hải Dương 5 năm (2006 - 2010) 27
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng theo thành phần kinh tế 28
Bảng 2.3. Dân số trung bình và dân số trong độ tuổi lao động 38
Bảng 2.4: Lao động phân theo nhóm tuổi 39
Bảng 2.5: Lao động đang việc làm trong các ngành kinh tế 40
Bảng 2.6: Cơ cấu lao động theo khu vực sản xuất 42
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 71
BẢNG QUY ƢỚC VIẾT TẮT
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐH : Đại học
ĐHSP : Đại học sư phạm
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
HDI : Chỉ số phát triển con người
KT - XH : Kinh tế - xã hội
LLSX : Lực lượng sản xuất
Trong những năm gần đây, nhờ có đường lối đổi mới, CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn đã bắt đầu được thực hiện và đạt được một số thành
tựu đáng khích lệ. Tuy vậy, còn nhiều hạn chế. Kết cấu hạ tầng còn lạc hậu.
Kỹ thuật sản xuất còn thô sơ. Năng suất lao động còn thấp. Đời sống nhân
dân còn gặp nhiều khó khăn. Do vậy, việc đẩy nhanh tiến độ CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn là nhu cầu cấp thiết.
2
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH vì
mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, công bằng, văn minh, dân chủ”. Từ Đại hội
lần thứ VIII (6/1996), Đảng ta đã đưa ra quan điểm: “Lấy việc phát huy
nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền
vững”, xem việc “nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn
của con người là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH”,
phải “đặc biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn”; Đại hội Đảng
lần thứ XI (2011) tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung những quan điểm đó, để phấn
đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại và thực hiện được mục tiêu phát triển con người mà cương lĩnh 2011
đề ra.
Cùng với nhiều tỉnh khác trong cả nước, Hải Dương cũng đang trong quá
trình đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH. Là một tỉnh đông dân với hơn 1,7 triệu
người (năm 2011), nguồn lao động dồi dào, nhưng chưa phát huy được nguồn
lực hiện có, Hải Dương cần phải khai khác toàn bộ những tiềm năng, thế mạnh
về con người của địa bàn mình. Với lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát huy
nguồn lực con người trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở
Hải Dương hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ khoa học Triết học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học, các hội thảo khoa học, các bài báo, luận văn thạc sĩ, tiến sĩ đề cập đến
phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH” của Nguyễn Trọng
Thanh, Luận án tiến sĩ, 2001;
Trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn cũng đã có nhiều công trình
nghiên cứu tập trung ở vấn đề phát triển CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
thực hiện chính sách xã hội ở nông thôn, vai trò của nông nghiệp, nông thôn;
4
xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm Đáng chú ý là các công trình của
GS Nguyễn Điền "CNH nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt
Nam" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997); PGS Nguyễn Văn Trung “Phát
triển nguồn lực trẻ ở nông thôn để CNH, HĐH nông thôn nông nghiệp nước
ta” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); PGS. PTS Nguyễn Đức Bách
"Những lợi ích kinh tế - xã hội tác động đến lòng tin của nông dân và con
đường XHCN" (Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 2-1992).
Các công trình trên về cơ bản đã trình bày vai trò, tác động, ưu thế,
cũng như mặt tích cực và hạn chế của nguồn lực con người trong quá trình
thực hiện CNH, HĐH đất nước nói chung, đồng thời cũng đưa ra được những
phương hướng và giải pháp phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay.
Tuy vậy, vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
cơ bản về vấn đề con người và việc phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hải Dương dưới góc độ triết học.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Trên cở sở lý luận về nguồn lực con người và thực trạng của việc phát
huy nguồn lực con người ở Hải Dương, luận văn đề xuất phương hướng và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc phát huy nguồn lực con người của tỉnh
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hải
Dương hiện nay.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về nguồn lực con người
Chƣơng 2: Thực trạng nguồn lực con người ở Hải Dương trong thời kỳ
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn.
Chƣơng 3: Một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy nguồn
lực con người ở Hải Dương trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn.
6
Chƣơng 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CON NGƢỜI VÀ NGUỒN LỰC
CON NGƢỜI TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM
1.1. Quan điểm của Triết học Mác-Lênin về con ngƣời
1.1.1. Khái niệm về con người
Con người là chủ thể xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực của quá
trình phát triển, vì vậy con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học khác nhau. Các khoa học chuyên ngành nhận thức con người bằng
cách chia hệ thống thành yếu tố. Còn triết học nghiên cứu con người bằng
cách tổng hợp các yếu tố bằng hệ thống. Triết học về con người được hình
thành trên cơ sở tổng kết những thành tựu của các khoa học cụ thể trong lĩnh
vực nghiên cứu về con người.
Trong sự phát triển của triết học có nhiều quan niệm khác nhau về bản
chất con người. Thời cổ đại, Các nhà triết học coi con người là một vũ trụ
nhỏ, đường đời của mỗi con người được gọi là số phận và nó được quy định
bởi ý chí của tạo hóa. Thế gới quan tôn giáo coi con người như một thực thể
nhị nguyên, nó là sự kết hợp giữa tinh thần và thể xác, trong đó thể xác là cái
nhất thời, tinh thần là cái vĩnh cửu. Do hạn chế về điều kiện lịch sử, nên quan
niệm về con người thường mang tính chất duy tâm, thần bí, trừu tượng. Thời
kỳ Trung cổ ở phương tây cùng với sự thống trị của Thiên Chúa giáo, con
người được quan niệm là do thượng đế , đức Chúa trời sáng tạo ra, các vị thần
C.Mác thừa nhận con người là động vật cao cấp “Con người sống bằng giới tự
nhiên. Như thế là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó
con người phải duy trì một quá trình thường xuyên để tồn tại” [35, tr.135].
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên; là kết quả của quá trình phát
triển và tiến hóa lâu dài của môi trường tự nhiên.
8
Bản chất tự nhiên và bản chất xã hội không tồn tại tách rời nhau mà
chúng hòa quyện vào nhau trong sự phát triển của cá thể và trong bản chất của
nó. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con người, còn mặt xã hội là
đặc trưng bản chất để phân biệt con người với loài vật. Nhu cầu sinh học phải
được “nhân hóa” để mang giá trị văn minh con người, và đến lượt nó, nhu cầu
xã hội không thể thoát ly khỏi tiền đề của nhu cầu sinh học.
Sự hình thành bản chất của con người không phải là kết quả của một
hành động trong một lúc nào đó, mà là một quá trình con người không ngừng
hoàn thiện khả năng tồn tại của mình trước sự tác động thường xuyên của tự
nhiên và xã hội.
Con người vượt lên loài vật trên cả ba phương diện: quan hệ với tự
nhiên; quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người. Cả ba mối
quan hệ đó suy đến cùng đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ giữa người
với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan hệ khác và mọi
hoạt động của con người. Hoạt động thực tiễn, mà đầu tiên là lao động là nền
tảng có tính chất quyết định của sự thống nhất giữa thực thể sinh vật và thực
thể xã hội. “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài
người, và như thế một mức độ mà trên một ý nghĩa nào đó chúng ta phải nói :
Lao động đã sáng tạo ra bản thân con người” [35, tr.11]. Chính vì vậy Mác đã
nêu lên luận đề nổi tiếng “ Bản chất con người không phải là một cái gì trừu
tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó bản chất
con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [35, tr.11].
Luận đề trên chính là sự khẳng định rằng không có cá nhân con người
ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập,
dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng
được học hành…” [45, tr.161]. Như vậy, Hồ Chí Minh không chỉ mong giải
phóng con người khỏi ách nô lệ mà còn hướng tới mục tiêu giải phóng con
10
người khỏi nghèo nàn, lạc hậu. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội được
Người nhắc đến rất nhiều, nhưng Người không nói đến những điều cao xa mà
thường chủ yếu nhấn mạnh đến việc chăm lo đời sống của con người. “Nói
một cách tóm tắt một mặt, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân
lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được
ấm no và sống một đời hạnh phúc” [49, tr.17]. Song, cách mạng cũng là sự
nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử. Người không
ngừng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, vì đó chính là động lực cho cách
mạng, nguyên nhân của mọi thắng lợi. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” được Hồ
Chí Minh quán triệt rất rõ, là sự nối tiếp truyền thống “dân vi bản” trong lịch
sử Việt Nam, là tư tưởng chỉ đạo chiến lược xuyên suốt cả quá trình cách
mạng nước ta từ trước tới nay. Sự nghiệp giải phóng con người thực chất là
giải phóng nhân dân lao động, giải phóng dân tộc.
Đối với Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng xã hội cũng đồng nghĩa với
cách mạng con người, nên ngay sau khi tìm được chân lý cách mạng, Người
đặt tất cả tâm huyết của mình vào việc xây dựng con người mới. “Muốn xây
dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”
[46, tr.310]. Muốn con người trở thành động lực chính của cách mạng, cần bồi
dưỡng tạo điều kiện cho họ phát triển toàn diện: phát huy mặt tốt đẹp, tích cực
tạo môi trường dân chủ, thực hiện công bằng xã hội để con người phát triển hết
những mặt năng lực tiềm ẩn của mình. Người nêu các tiêu chuẩn cho từng lớp
người thuộc từng lứa tuổi, từng nghề nghiệp: nhi đồng, thiếu niên, thanh niên,
phụ nữ, giáo viên, học sinh, công an nhân dân, quân đội nhân dân,…
Cách mạng Việt Nam hiện nay, trong bối cảnh chung của thế giới, phải
Nguồn lực được hiểu theo lý thuyết phát triển, đó là nguồn lực con
người của một quốc gia, là bộ phận của các nguồn lực tham gia vào quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn lực con người khác với nguồn lực khác
(vốn, đất đai, công nghệ,…) ở chỗ nguồn lực con người với hoạt động lao
12
động sáng tạo, tác động vào thế giới tự nhiên, biến đổi giới tự nhiên, là yếu tố
quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Trong mọi hình thái Kinh tế - xã hội,
nguồn lực con người là yếu tố trung tâm, giữ vai trò trung tâm, vai trò quyết
định đối với sự phát triển của sản xuất. Đồng thời là mục đích của nền sản
xuất xã hội.
Ở nước ta, các nhà khoa học đã nghiên cứu và đưa ra nhiều quan niệm
về nguồn lực con người. Theo quy định của Tổng cục Thống kê thì đó là
nguồn lực của một quốc gia, là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả
năng tham gia lao động (ở nước ta được hiểu là bộ phận dân số từ đủ 15 tuổi
đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ trừ những người tàn tật, mất sức
lao động loại nặng và cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi). Giáo sư Phạm
Minh Hạc quan niệm: “Nguồn lực con người là tổng thể các tiềm năng lao
động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn lao động được chuẩn bị
(ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc nào đó” [20,
tr.269]. Để rõ hơn về kết cấu bên trong của nó, giáo sư khẳng định “Nguồn
lực con người là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh
thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [20, tr.328]. Giáo sư Hoàng
Chí Bảo giải thích cụ thể hơn về khái niệm nguồn lực con người như sau:
Ngoài thể lực và trí lực, cái làm nên nguồn lực con người là kinh
nghiệm sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người,
là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình,
của cộng đồng vào việc tìm tòi, cách tân các hoạt động, sáng tạo ra các giải
pháp mới đối với công việc như một sự sáng tạo văn hóa [2, tr.14-15].
Bộ Lao động Thương binh Xã hội xác định: “Nguồn lực con người là
phương pháp thích hợp để sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác vào quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Tìm hiểu đúng đắn về nguồn nhân lực là cơ sở
quan trọng định hướng cho việc nuôi dưỡng, khơi dậy và phát huy tốt tiềm
14
năng con người, nhờ đó khai thác có hiệu quả các nguồn lực khác vì mục tiêu
phát triển.
1.1.3. Vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển xã hội
Lịch sử phát triển xã hội loài người là sự thay thế nhau của các hình
thái kinh tế xã hội, Mác đã nói tới việc lấy sự phát triển toàn diện của con
người làm thước đo chung cho sự phát triển xã hội. Các Mác cho rằng, xu
hướng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi tiến trình phát
triển của lực lượng sản xuất bao gồm con người và những công cụ lao động
do con người tạo ra. Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự nó đã nói lên
trình độ phát triển của xã hội. Suy đến cùng, người lao động là yếu tố quyết
định nhất trong lực lượng sản xuất. Sự phát triển của lực lượng sản xuất tự nó
đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử
dụng ngày càng nhiều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở vật chất cho
hoạt động sống của chính con người. Như chúng ta đã biết, sản xuất là quá
trình hoạt động thực tiễn cơ bản của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu
của mình. Sản xuất quyết định nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng
không có sản xuất. Nhu cầu của con người tăng lên không ngừng, do đó mà
con người luôn luôn phát triển sản xuất vì cùng với quá trình lao động sản
xuất, sức mạnh và kỹ năng của con người ngày càng được tăng lên, bộ óc và
bàn tay con người không ngừng được hoàn thiện. Sự hoàn thiện ấy là nguồn
vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, đa dạng của con
người, đưa đến sức mạnh to lớn về cơ sở vật chất và kỹ thuật của xã hội. Ở
đây, trí tuệ của con người cũng không ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ lao
động ngày càng cao. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ,
lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu. Cùng với người lao động,
là do con người, phụ thuộc vào con người và vì con người.
16
1.2. Nguồn lực con ngƣời trong thời kỳ CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn ở nƣớc ta hiện nay
1.2.1. Đặc điểm của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam
Trước yêu cầu rút ngắn thời gian tiến hành CNH, HĐH đất nước, phấn
đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Tác động và đẩy mạnh sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn có ý
nghĩa góp phần quan trọng trong việc thay đổi bộ mặt đất nước. Chính vì thế
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn có vị trí hết sức quan trọng, là một bộ
phận hữu cơ của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình phát triển
LLSX vừa củng cố hoàn thiện QHSX XHCN ở nông thôn phù hợp với mục
tiêu chiến lược phát triển kinh tế, xã hội nói chung của đất nước trong từng
thời kỳ. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng
của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Trong quá trình đổi mới,
Đảng ta xác định CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn là một trong những nội
dung cơ bản của CNH, HĐH đất nước. Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX đã ra nghị quyết về “Đẩy nhanh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001- 2010”. Các quan điểm của Đảng trong Nghị
quyết này là sự kế thừa, phát triển các quan điểm đã được xác định trong các
Nghị quyết Đại hội và các Nghị quyết của Trung ương, của Bộ Chính trị từ
trước tới nay.
CNH, HĐH nông nghiệp là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị
trường,… đưa thiết bị, kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất
nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh
của nông sản hàng hóa trên thị trường.
CNH, HĐH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
tế - xã hội phát triển ngày càng hiện đại.
18
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước gắn liền với thị trường trong và ngoài
nước. Nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần chính là xây dựng một
hệ thống QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX trong thời kỳ quá
độ ở Việt Nam, có tác dụng to lớn trong việc động viên nhân dân xây dựng
kinh tế, phát triển LLSX, có khả năng hội nhập vào thị trường quốc tế.
Quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn bao gồm toàn bộ hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đời sống vật chất và văn hóa tinh thần nói
chung ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp hiện đại và phương
thức tổ chức tiên tiến. Đó là quá trình phát triển toàn diện nông, lâm, ngư
nghiệp
Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nước ta có những
thuận lợi và khó khăn nhất định. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, tinh
thần đoàn kết, lòng tự tôn dân tộc với quyết tâm chống nghèo nàn, lạc hậu, có
tinh thần lao động cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo,… Đó là truyền
thống quý báu của dân tộc ta, là động lực tinh thần phát huy sức mạnh nội lực
góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước cũng như CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Bên cạnh đó sự lãnh đạo
đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam là nhân tố đảm bảo cho sự thắng lợi
của cách mạng Việt Nam nói chung và sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp,
nông thôn nói riêng. Công cuộc đổi mới do Đảng khới xướng và lãnh đạo lấy
nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu. Là một nước nông nghiệp với 80% dân
số sinh sống tại nông thôn và 70% lực lượng lao động làm nông nghiệp. Đây
chính là nguồn nhân lực to lớn, đồng thời đây là một thị trường rộng lớn cho
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nông nghiệp, nông thôn chiếm đại đa số
tài nguyên thiên nhiên như đất đai, động thực vật… Sự đa dạng, phong phú