HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ TÙNG
vÊn ®Ò ph¸t triÓn nguån lùc con ngêi
trong qu¸ tr×nh c«ng nghiÖp hãa, hiÖn ®¹i hãa
ë tØnh nghÖ an hiÖn nay
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã số : 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Ngư ờ i hư ớ ng dẫ n khoa họ c: PGS,TS. TRẦN SỸ PHÁN
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận
nêu trong luận án chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình
khoa học nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Tùng
MỤC LỤC
Trang
1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI
6
1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến nguồn lực con
người, phát triển nguồn lực con người
6
1.2. Những nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển nguồn lực
con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
19
1.3. Một số công trình, văn bản liên quan đến nguồn lực con người,
phát triển nguồn lực con người ở Nghệ An
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI
HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
110
4.1. Quan điểm định hướng phát triển nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Nghệ An hiện nay
110
4.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực con người trong
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Nghệ An hiện nay
118
KẾT LUẬN
144
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
146
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
148
PHỤ LỤC
160
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANQP : An ninh quốc phòng
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CTQG : Chính trị quốc gia
GD-ĐT : Giáo dục - đào tạo
KH-CN : Khoa học - công nghệ
KT-XH : Kinh tế - xã hội
LĐ : Lao động
LLSX : Lực lượng sản xuất
NNL : Nguồn nhân lực
SV : Sinh viên
2
vận dụng tiến bộ khoa học và công nghệ để đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước theo con đường rút ngắn, đi tắt, đón đầu. Để tận dụng
có hiệu quả thời cơ, vượt qua những thách thức đang phải đối mặt, chúng ta
rất cần có nguồn nội lực mạnh, trước hết là nguồn lực con người với bản
lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, trí tuệ cao, có năng lực
nắm bắt và vận dụng có hiệu quả khoa học và công nghệ của nhân loại vào
điều kiện cụ thể của nước ta.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam không đơn giản
chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế, mà chính là quá trình biến đổi sâu sắc, toàn
diện mọi mặt đời sống xã hội nhằm đưa xã hội phát triển lên một giai đoạn
mới về chất. Để đáp ứng yêu cầu đó, phải có nguồn lực con người đủ về số
lượng, phát triển cao về chất lượng với một cơ cấu hợp lý, thật sự là động lực
cho sự phát triển nhanh và bền vững. Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng ta chỉ rõ,
một trong ba khâu đột phá để thực hiện Chiến lược tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và phát triển nhanh, bền vững là “Phát triển nhanh nguồn
nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết chặt chẽ phát triển
nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ" [36, tr.32].
Nghệ An hiện vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển, đời sống
nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, việc làm thiếu, thất nghiệp nhiều, trong
lúc đó tiềm năng và lợi thế về nguồn lực con người cũng như tài nguyên thiên
nhiên chưa được khai thác, sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, thậm chí
còn bị lãng phí. Rất nhiều sinh viên khi ra trường không trở về quê hương
Nghệ An công tác; rất nhiều nhà khoa học có uy tín là con em xứ Nghệ còn
công tác xa quê; không ít doanh nhân thành đạt đang hoạt động, sản xuất,
kinh doanh ngoài địa bàn tỉnh Tất cả đó đang ảnh hưởng không tốt đến quá
trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn Nghệ An nói riêng.
3
Vậy làm thế nào để có được nguồn lực con người phát triển cả về số
đại hóa ở Nghệ An hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đố i tư ợ ng nghiên cứ u
Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
3.2. Phạ m vi nghiên cứ u
Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay (các số liệu chủ yếu từ năm 2000 trở lại đây).
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luậ n
- Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam về con người, nguồn lực con người, phát triển nguồn lực con người
trong quá trình phát triển xã hội nói chung, quá trình trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nói riêng. Ngoài ra luận án còn kế thừa những kết quả đạt được
của một số công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài.
4.2. Phư ơ ng pháp nghiên cứ u
Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa DVBC và CNDVLS, kết hợp với các phương pháp lôgíc - lịch sử; quy
nạp và diễn dịch; khái quát hóa - trừu tượng hóa; thống kê - so sánh; phương
pháp xử lý số liệu.v.v.Trên cơ sở xác định phương pháp như trên, trước khi phân
tích thực trạng phát triển nguồn lực con người ở Nghệ An, tác giả luận án đi từ
quan niệm chung về nguồn nhân lực (nguồn lực con người), phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam - có tham khảo thêm một số tư liệu nước ngoài- lấy đó làm
cơ sở để phân tích thực trạng phát triển nguồn lực con người ở Nghệ An từ đó đề
5
xuất quan điểm định hướng và tìm giải pháp để phát triển nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ vai trò của việc phát triển nguồn lực con
một dân tộc không ở nguồn vốn, không ở thiết bị, mà then chốt là ở chỗ có
hay không có hàng loạt nhân tài kiệt xuất” [52, tr.77]. Để minh chứng cho lập
luận này, các tác giả đưa ra số liệu: “Tỷ trọng của nhân tố trí lực trong sự tăng
trưởng tổng sản phẩm quốc dân ở các nước phát triển đã tăng từ 5% - 20%
đầu thế kỷ này lên 60% - 80% trong những năm 80 của thế kỷ” [52, tr.95].
Nghĩa là phải có nguồn lực con người, nhất là nguồn lực chất lượng cao. Theo
các tác giả việc bồi dưỡng và giáo dục nhân tài liên quan trực tiếp đến nhu
cầu chiến lược của cách mạng và xây dựng. Do đó “giải quyết tốt việc đào tạo
lớp người kế tục là một vấn đề chiến lược, là một vấn đề lớn quyết định tới lợi
ích lâu dài và sự sinh tử, tồn vong của Đảng và Nhà nước Trung Quốc”.
Không chỉ nêu lên vị trí, vai trò của nhân tài, nhân lực trong cách mạng
và xây dựng. Các tác giả còn có những luận giải khá sâu sắc về con đường và
phương pháp tuyển chọn nhân tài; sử dụng và bố trí nhân tài sao cho có hiệu
7
quả, mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc. Trong đó các tác giả đặc biệt coi
trọng việc “tạo môi trường cho nhân tài phát triển” [52, tr.280] và “cải cách
chế độ nhân sự” [52, tr.323].
“Nhân tài” được đề cập đến trong tác phẩm này bao chứa nội hàm khá
phong phú, “nhân tài tuyệt nhiên không chỉ là một số ít những nhân vật thiên
tài, nhân vật vĩ đại, mà các nhân tài chuyên môn và công nhân, nông dân tiên
tiến đều là nhân tài” [52, tr.28]. Về thực chất thì đây là bộ phận tương đối ưu
tú trong lực lượng lao động xã hội, trong nguồn nhân lực.
Kết quả nghiên cứu của công trình này giúp cho NCS có được cách nhìn
khái quát hơn về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, nhất là
nguồn nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế xã hội, trong quá trình
CNH, HĐH đất nước cũng như việc tìm kiếm giải pháp để phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta hiện nay.
GS.Geoffrey B.Hainsworth với bài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng
với những thách thức của quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ và một nền kinh tế
dựa trên những hiểu biết mới” trong cuốn Lao động, việc làm và nguồn nhân
diện về tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đặc biệt giải pháp để phát triển nguồn nhân lực vẫn
còn hết sức mờ nhạt.
Năm 2010, Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân có biên dịch cuốn: Chuyển
hóa nguồn nhân lực [109] của các tác giả người Anh là TS William
J.Rothwell - chuyên gia cao cấp về nguồn nhân lực, giáo sư đào tạo và phát
triển lực lượng lao động tại Đại học bang Peennsylvania; TS Robert
K.Prescott - chuyên gia cao cấp về nguồn nhân lực, Phó giáo sư ngành quản
lý nguồn nhân lực tại Khoa Kinh tế sau đại học Crummer, Đại học Rollins và
9
TS Maria W.Taylor - Giám đốc giải pháp học tập của Công ty dịch vụ chuyên
nghiệp Raytheon- một trong những công ty hàng đầu trên thế giới về dịch vụ
học tập và thuê ngoài.
Cuốn sách gồm 3 phần, phần một bàn về “Chuyển hóa nguồn nhân lực”;
phần hai nói về sự cần thiết phải “Quan tâm đến các xu hướng tương lai”;
phần ba “Thiết lập vai trò mới của lãnh đạo nguồn nhân lực”.
Mục đích chính của cuốn sách là bàn về Chuyển hóa nguồn nhân lực,
không trực tiếp bàn đến phát triển nguồn lực con người, tuy nhiên những luận
giải của các tác giả liên quan đến nguồn lực con người là tài liệu tham khảo
bổ ích, nhất là sự luận giải của các tác giả về quan niệm “con người là tài sản
quý nhất”. Theo các tác giả “Để tối đa hóa thành tố con người, phải thiết kế
cơ cấu của tổ chức, hệ thống kế hoạch và kiểm soát, quản lý nguồn nhân lực
và văn hóa… hệ thống và các chính sách được xây dựng cho việc tuyển dụng,
duy trì, đào tạo và phát triển nghề nghiệp” [109, tr.56-57]. Đây là những gợi
mở cho chúng ta khi bàn về các giải pháp phát triển nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Đặc biệt các tác giả rất quan tâm đến việc tăng cường tầm quan trọng
của vốn tri thức. Các tác giả đã dẫn lời của Peter Drucker rằng: “Tăng trưởng
kinh tế có thể chỉ đến từ sự gia tăng liên tục và mạnh mẽ năng suất lao động
của nguồn nhân lực trong đó các quốc gia phát triển vẫn có thể cạnh tranh (và
sở trình bày khái niệm phát triển nguồn nhân lực, phát triển con người, mối
quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với CNH đồng thời tác giả đã đưa một
bộ khung lý thuyết với các luận điểm chính: nguồn nhân lực đóng góp cho
tăng trưởng kinh tế; nguồn nhân lực đóng góp cho nâng cao năng suất LĐ,
tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo và bất bình đẳng; xu thế phát triển kinh tế
11
tri thức và toàn cầu hoá tạo ra nhu cầu đại chúng đối với NNL chất lượng
cao; phần thứ hai, với 4 chương, tác giả tập trung vào phân tích thực tiễn
phát triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông Á. Chương 1: Vai trò
phát triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á. Tác giả phân tích vai trò phát
triển NNL thông qua GD - ĐT bằng những dẫn chứng thực tiễn từ các nền
kinh tế, các ngành và công ty đã chứng minh những luận điểm mà tác giả đưa
ra là có cơ sở. Chương 2: Chiến lược CNH và sự phù hợp lẫn nhau với phát
triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông Á. Ở chương này, tác giả
trình bày 4 điều kiện thuận lợi bên ngoài và lợi thế bên trong để các nước
Đông Á xây dựng chiến lược CNH. Đặc biệt, tác giả đã phác thảo 4 giai đoạn
CNH và 4 giai đoạn này đặt ra những yêu cầu khác nhau của nguồn nhân lực.
Chương 3: Điều chỉnh phát triển nguồn nhân lực thông qua GD - ĐT ở Đông
Á. Trên cơ sở phác hoạ 4 giai đoạn của CNH, tác giả cho rằng, mỗi giai đoạn
có những yêu cầu khác nhau về phát triển NNL nên giáo dục cũng cần có sự
điều chỉnh thích hợp. Vì vậy, chương này tác giả nghiên cứu quá trình điều
chỉnh ở Đông Á trên các khía cạnh: mở rộng cơ hội đó cũng như xem xét các
yếu tố dẫn đến tiếp nhận giáo dục phổ thông theo tiến trình CNH; phát triển
hệ thống GD - ĐT nghề; xây dựng hệ thống giáo dục ĐH chất lượng cao.
Chương 4: Vấn đề và giải pháp hiện nay của phát triển nguồn nhân lực thông
qua GD - ĐT Đông Á. Tác giả phân tích một số vấn đề trong hệ thống phát
triển NNL thông qua GD - ĐT ở Đông Á. Đáng chú ý là tác giả trình bày các
giải pháp phát triển NNL cho kinh tế tri thức ở Đông Á: nâng cao nhận thức
xã hội về học tập suốt đời; nhấn mạnh đào tạo lại và đào tạo nâng cao; cải
cách hệ thống giáo dục chính quy; khuyến khích và phát triển các hệ thống
các nguồn lực thì nguồn lực con người có vai trò quyết định đối với quá trình
13
CNH, HĐH ở nước ta; Phần thứ hai, tác giả đánh giá khái quát thực trạng
NNL ở nước ta trên các khía cạnh: về số lượng, cơ cấu, trí lực, trình độ
chuyên môn kỹ thuật (CMKT) trên cơ sở đó tác giả đưa ra những định
hướng phát triển NNL có chất lượng đáp ứng được đòi hỏi của CNH, HĐH
bao gồm: gắn phát triển NNL với việc đẩy nhanh tốc độ phát triển KT - XH;
gắn phát triển NNL với quá trình dân chủ hoá, nhân văn hoá đời sống xã hội,
khai thác có hiệu quả các giá trị văn hoá truyền thống và hiện đại; nâng cao chất
lượng và hiệu quả sử dụng đội ngũ cán bộ KH - CN; xây dựng chiến lược con
người trên cơ sở đó, phát triển NNL có chất lượng cho CNH, HĐH; Phần thứ
ba, làm rõ vai trò của giáo dục với tư cách là yếu tố quyết định trong chiến lược
phát triển con người, phát triển NNL có chất lượng phục vụ sự nghiệp
CNH,HĐH đất nước.
Tác giả Đoàn Văn Khái có cuốn Nguồn lực con người trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [66]. Trong cuốn sách này, tác giả
đã trình bày bản chất, đặc trưng và tính tất yếu của CNH, HĐH ở Việt Nam
hiện nay, phân tích vai trò của nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, tác giả cũng đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm
khai thác và phát triển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu sự nghiệp CNH,
HĐH ở Việt Nam.
Ở chương 1, tác giả phân tích một số vấn đề chung về CNH, HĐH,
nhưng đáng chú ý nhất là sự khái quát các mô hình CNH trên thế giới. Ở
chương 2, tác giả đưa ra khái niệm nguồn lực con người với nội hàm rộng bao
hàm 6 mặt cơ bản và xuất phát từ vị trí, đặc điểm của nguồn lực con người
trong quan hệ so sánh, quan hệ tác động với các nguồn lực khác và nhấn
mạnh, trong điều kiện kinh tế tri thức vai trò của nguồn lực con người càng
tăng lên gấp bội nhờ phát huy sức mạnh trí tuệ, nó trở thành nguồn lực của
mọi nguồn lực. Trong chương 3 và chương 4, tác giả đánh giá một cách toàn
14
NNL và chính sách phát triển NNL của một số nước; phát triển NNL và chính
sách phát triển NNL thời kỳ CNH, HĐH; thực trạng chất lượng NNL ở Việt
Nam Trong đó đáng chú ý là bài viết: Vai trò của nguồn nhân lực trong nền
kinh tế thị trường.
Theo tác giả, nhân loại đang đứng trước thềm của sự phát triển mới của
xã hội loài người là chuyển sang nền kinh tế tri thức, nhưng đối với Việt Nam
mới bước đầu tiến hành CNH, HĐH, vì vậy phải đi tắt, đón đầu nếu không
chúng ta sẽ bị tụt hậu xa hơn so với các nước trên thế giới. Để làm được điều
đó, theo tác giả không có con đường nào tốt hơn là phải chú trọng phát triển
nguồn nhân lực.
Trong cuốn: Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển
vọng do Nguyễn Văn Khánh (Chủ biên) [67]. Cuốn sách gồm 4 chương.
Chương 1 giải quyết “Những vấn đề lý luận chung về trí tuệ, nguồn lực trí
tuệ, xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ”. Chương 2 bàn về “Kinh nghiệm
xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ của Việt Nam và một số nước trên thế
giới”. Chương 3 đề cập đến “Thực trạng nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội” và chương 4 chủ yếu bàn về “Xây dựng và phát
huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước”. Đối
tượng được các tác giả đề cập đến trong cuốn sách này là nguồn lực trí tuệ,
chứ không phải nguồn nhân lực nói chung, nhưng những luận giải cũng như
phương pháp tiếp cận vấn đề của các tác giả có nhiều điểm có thể kế thừa
trong quá trình NCS triển khai mục tiêu và nhiệm vụ của luận án.
Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam là cuốn sách do
Nguyễn Văn Phúc và Mai Thị Thu, đồng chủ biên [107]. Nội dung cuốn sách
được trình bày trong 3 chương. Chương 1 “Tài nguyên nhân lực Việt Nam”.
16
Chương 2 “Thực trạng khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam”.
Chương 3 “Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác, phát triển
tài nguyên nhân lực Việt Nam giai đoạn 2012-2020”. Tuy không thật đồ sộ,
nhưng cuốn sách đã cung cấp cho chúng ta bức tranh khá toàn diện về khai
Tuy nhiên, hiện tại Việt Nam đang phải từng bước vượt qua những thách thức
ngày càng trở nên gay gắt trong việc xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng
cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước đang trong quá trình đổi mới và
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Trong luận án tiến sỹ Triết học: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đà Nẵng, (2008), tác giả Dương Anh Hoàng [55]
đã phân tích, bước đầu làm sáng tỏ một số khái niệm công cụ như nguồn nhân
lực, phát triển nguồn nhân lực. Theo cách tiếp cận của mình, tác giả cho rằng,
nội hàm của khái niệm nguồn nhân lực bao gồm 2 yếu tố cơ bản cấu thành, đó
là số lượng nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực. NCS cho rằng đây
là cách tiếp cận hợp lý, mang tính khái quát triết học. Đặc biệt trong công
trình của mình, tác giả đã chỉ ra được 3 điểm tương đồng và 3 điểm khác biệt
trong phát triển nguồn nhân lực giữa Việt Nam và các nước trong khu vực để
từ đó rút ra 4 bài học kinh nghiệm về phát triển NNL cho Việt Nam nói chung
và Đà Nẵng nói riêng; làm rõ 4 đặc điểm cơ bản của quá trình CNH, HĐH ở
Đà Nẵng và theo tác giả chính những đặc điểm này quy định chiến lược phát
triển NNL của Đà Nẵng. Sau khi phân tích thực trạng phát triển NNL của Đà
Nẵng thời gian qua, tác giả đưa ra 3 quan điểm có tính chất định hướng và đề
xuất 4 giải pháp để phát triển NNL cho CNH, HĐH ở Đà Nẵng trong thời
gian tới. Các giải pháp được tác giả luận án đề cập đến đó là: phát triển KT -
XH, nâng cao chất lượng GD - ĐT, phát triển KH - CN và xây dựng nếp sống
18
văn minh đô thị. Trong đó giải pháp nâng cao chất lượng GD - ĐT được tác
giả phân tích khá thuyết phục.
Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở một địa phương thuộc khu vực miền trung có nhiều điểm tương
đồng với phạm vi đề tài nghiên cứu của NCS, do đó những kết quả đạt được
của luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho NCS trong quá trình thực hiện
luận án của mình.
Từ góc độ kinh tế học, tác giả Bùi Sỹ Lợi nghiên cứu vấn đề: Phát triển
các kết quả nghiên cứu đó (trực tiếp hay gián tiếp) đều cho rằng trong các
nguồn lực của sản xuất, nguồn lực con người giữa vai trò quan trọng nhất và,
để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đảm
bảo cả về số lượng và chất lượng, hợp lý về cơ cấu.
Tuy nhiên các công trình đó hoặc là nghiên cứu ở tầm vĩ mô, hoặc là ở
một địa phương nào đó chứ chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách
hệ thống, căn bản (từ góc độ triết học cũng như các lĩnh vực khoa học khác) về
phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Nghệ An hiện nay. Đây là vấn đề luận án cần phải đi sâu nghiên cứu.
1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN
ĐẠI HOÁ
Do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là phân tích tầm quan
trọng của việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng, từ đó đề xuất
quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực
con người trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An
20
hiện nay, nên vấn đề CNH, HĐH - với tư cách là bối cảnh để phát triển nguồn
lực con người - không được tác giả tổng quan thành một mục riêng.
Có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu chuyên biệt về giải pháp
phát triển nguồn lực con người không nhiều, sự nghiên cứu đó thường chiếm
một dung lượng không lớn trong một số công trình có liên quan đến nguồn
nhân lực, đến phát triển nguồn lực con người. Trong một số cuốn sách, bài
viết nhất là trong các luận án, luận văn có liên quan đến vấn đề này, việc đề
xuất các giải pháp để phát triển nguồn lực con người thường xuất hiện sau khi
khảo sát thực trạng nguồn nhân lực hay phát triển nguồn nhân lực.
Một trong những nghiên cứu trực diện về vấn đề này đó là đề tài nghiên
cứu khoa học cấp cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III "Những
giải pháp phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
ấn hành năm 2012) [107], đã đưa ra “Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu
quả khai thác, phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam giai đoạn 2012-
2020”. Theo đó, nhóm thứ nhất bao gồm “Những giải pháp nâng cao hiệu quả
khai thác, sử dụng tài nguyên nhân lực Việt Nam” [107, tr.198-214]; nhóm
thứ hai, “Nhóm giải pháp phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” [107,
tr.215-245]. Trong nhóm giải pháp này, các tác giả đặc biệt quan tâm đến giải
pháp “Cải cách và nâng cấp hệ thống đào tạo và phát triển tài nguyên nhân
lực” [107, tr.218-223]. Điều này xuất phát từ thực trạng “Trình độ chuyên
môn, kỹ thuật thấp… số lao động đã qua đào tạo của Việt Nam thuộc loại
thấp trong khu vực cũng như trên thế giới. Năm 2010… số lao động được các
cơ sở đào tạo, dạy nghề cấp bằng, chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ (tức là số
lao động có nền tảng kiến thức nghề nghiệp cơ bản) chỉ chiếm gần 17,2%
tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế” [107, tr.104].