Vấn đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay ( tóm tắt) - Pdf 24

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia,
dân tộc, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất, là yếu tố cơ bản
quyết định các nguồn lực khác; quyết định đến sự thành công hay thất bại
của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung và quá trình tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, vấn đề nguồn lực con người luôn
được quan tâm. Hiện tượng các nước công nghiệp mới (NICs) châu Á là
những minh chứng rõ ràng nhất cho việc quan tâm đúng mức đến vai trò
quyết định của nguồn lực con người trong quá trình CNH - HĐH. Một trong
những nguyên nhân mang tính đặc trưng chung cho tất cả các nước này để đi
đến thành công chính là chỗ họ sớm nhận thức được vai trò quyết định của
nguồn lực con người và đầu tư thỏa đáng cho chiến lược con người; đặt lên
hàng đầu chất lượng nguồn lao động, đặc biệt là các yếu tố văn hóa, kỹ thuật
và kỷ luật, đi trước một bước về giáo dục và đào tạo, coi đó là chìa khóa của
cánh cửa tăng trưởng, là điều kiện đảm bảo cho thắng lợi của sự nghiệp CNH
- HĐH. Đây là một trong những bài học hết sức bổ ích cho Việt Nam. Với ý
nghĩa đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng ta đã xác định,
một trong những quan điểm chỉ đạo quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước là: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ
bản cho sự phát triển nhanh và bền vững”.
Hiện nay chúng ta đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ diễn ra một
cách hết sức mạnh mẽ; toàn cầu hoá
, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đã và đang trở thành xu thế
lớn của thời đại. Đây không chỉ là thách thức, mà đó còn là thời cơ, điều
kiện, là cơ hội thuận lợi để cho chúng ta có thể vận dụng tiến bộ khoa học
và công nghệ để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo
con đường rút ngắn, đi tắt, đón đầu. Để tận dụng có hiệu quả thời cơ, vượt

theo trình độ, độ tuổi ); làm thế nào để khai thác, sử dụng một cách có
hiệu quả nhất nguồn lực con người - với tư cách là nguồn lực nội tại, cơ
bản và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế- xã hội nói
chung, đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng; làm thế
nào hướng sự phát triển kinh tế- xã hội do chính con người tạo ra vào phục
vụ con người một cách tốt nhất; làm thế nào thu hút được lực lượng lao
động chất lượng cao về Nghệ An công tác v.v. Đó là những câu hỏi đã và
đang được đặt ra và cần sớm có lời giải đáp. Đề tài "Vấ n đề phát triể n
nguồ n lự c con ngư ờ i trong quá trình công nghiệ p hóa, hiệ n đạ i hóa ở
tỉ nh Nghệ An hiệ n nay" mà nghiên cứu sinh lựa chọn làm luận án tiến sĩ
Triết học, chuyên ngành CNDVBC và CNDVLS muốn góp một phần nhỏ
vào việc giải quyết vấn đề lớn trên đây.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mụ c đích nghiên cứ u
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản việc
phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng, luận án đề xuất quan
3
điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn lực
con người trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ
An hiện nay.
2.2. Nhiệ m vụ nghiên cứ u
Để đạt được mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau:
Th󰗪 nh󰖦t: phân tích thực trạng, tầm quan trọng, yêu cầu cơ bản của
việc phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở nước ta hiện nay.
Th󰗪 hai: Phân tích thực trạng nguồn lực con người và thực trạng phát
triển nguồn lực con người ở tỉnh Nghệ An trong những năm qua và những
vấn đề đặt ra.
Th󰗪 ba: Đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu

tìm giải pháp để phát triển nguồn lực con người trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án góp phần làm rõ vai trò của việc phát triển nguồn lực con
người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở
tỉnh Nghệ An nói riêng.
- Đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa ở Nghệ An hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần luận giải vai trò, tầm quan trọng của việc phát
triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An nói riêng.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu,
giảng dạy và những ai quan tâm đến vấn đề phát triển nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở tỉnh
Nghệ An nói riêng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án
gồm 4 chương, 7 tiết.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
NGUỒN LỰC CON NGƯỜI, PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
Có thể nói rằng trong nhiều thập niên gần đây vấn đề nguồn lực con
người, phát triển nguồn lực con người đã thu hút sự quan tâm, chú ý của
nhiều học giả ở nhiều nước và vùng lãnh thổ khác nhau. Nhóm các công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này chiếm một số lượng khá lớn, có
thể nói đến mức chúng ta không thể nào bao quát hết. Trong Bản tóm tắt

1.2. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP
HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Do mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là phân tích thực
trạng và tầm quan trọng của việc phát triển nguồn lực con người trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, ở tỉnh Nghệ An
nói riêng, từ đó đề xuất quan điểm định hướng và một số giải pháp chủ yếu
nhằm phát triển nguồn lực con người trong quá trình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay, nên vấn đề CNH, HĐH -
với tư cách là bối cảnh để phát triển nguồn lực con người - không được tác
giả tổng quan thành một mục riêng.
6
Có thể thấy rằng những công trình nghiên cứu chuyên biệt về giải
pháp phát triển nguồn lực con người không nhiều, sự nghiên cứu đó
thường chiếm một dung lượng không lớn trong một số công trình có liên
quan đến nguồn nhân lực, đến phát triển nguồn lực con người. Năm 2005
,có đề tài cấp cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III Nh󰗰ng
gi󰖤i pháp phát huy ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i trong s󰗲 nghi󰗈p công nghi󰗈p hóa,
hi󰗈n 󰖢i hóa 󰗠 thành ph󰗒 à N󰖶ng”, do Nguyễn Văn Nam làm chủ nhiệm;
Các tác giả trong cuốn Ngu󰗔n l󰗲c trí tu󰗈 Vi󰗈t Nam- L󰗌ch s󰗮, hi󰗈n tr󰖢ng
và tri󰗄n v󰗎ng (Nguyễn Văn Khánh, chủ biên, Nxb CTQG 2012) sau khi
đưa ra các quan điểm và giải pháp chung đã đề xuất một số giải pháp cụ
thể nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam hiện nay; Tạp chí Cộng
sản số 854 (tháng 12-2013), có bài V󰗂 các gi󰖤i pháp c b󰖤n phát tri󰗄n
ngu󰗔n nhân l󰗲c hi󰗈n nay của Trần Sỹ Phán và Nguyễn Thị Tùng; Tạp
chí Giáo d󰗦c lý lu󰖮n số tháng 2-2014 có bài Phát huy ngu󰗔n l󰗲c con
ng󰗞i trong xây d󰗲ng n󰗂n kinh t󰗀 󰗚c l󰖮p t󰗲 ch󰗨 󰗠 n󰗜c ta hi󰗈n nay của
Trần Thị Thu Hường.
Kết quả nghiên cứu liên quan đến giải pháp để phát triển nguồn lực
con người (kể cả nguồn nhân lực trẻ) của một số công trình trên đây nhìn

60.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII (tháng 12/ 2010)
tập trung phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và xu thế
phát triển chung của nền kinh tế.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 04 - NQ/TU của Tỉnh ủy
(khóa XV) về chương trình phát triển nguồn nhân lực. Chú trọng nâng cao
trình độ tay nghề của người lao động, nhất là nông dân gắn với việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế với cơ cấu lao động trên cơ sở làm tốt công tác
đào tạo theo các ngành nghề, Nghệ An chú trọng phát triển nguồn nhân lực
đảm bảo cả về thể lực và trí lực trên cơ sở củng cố hệ thống giáo dục từ
bậc mầm non, phổ thông, đến đào tạo chuyên nghiệp và phát triển hạ tầng
xã hội như giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung
chính sách thu hút nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội của tỉnh, tạo điều kiện môi trường thuận lợi để đội ngũ trí thức
phát huy năng lực.
Đổi mới mạnh mẽ công tác tổ chức cán bộ. Trên cơ sở đánh giá khách
quan để bố trí đúng cán bộ có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt vào các
vị trí then chốt trong bộ máy Đảng và chính quyền từ tỉnh đến cơ sở. Nâng
cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy đảng, hiệu quả và hoạt động của chính
quyền các cấp trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội.
Có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình, đề tài nào
nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học vấn đề phát triển
nguồn lực con người ở tỉnh Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Điều đó thôi thúc tác giả luận án đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu vấn
đề này.
Kết luận chương 1
Tổng hợp tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy vấn đề nguồn lực
con người, phát triển nguồn lực con người cho đến nay đã có nhiều công
8
trình nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Sau khi khảo cứu kết

ch󰖦t, tinh th󰖨n, trình 󰗚 tri th󰗪c, nng l󰗲c th󰗲c t󰗀, k󰗺 nng ngh󰗂 nghi󰗈p,
ph󰖪m ch󰖦t 󰖢o 󰗪c, tính chuyên nghi󰗈p và tác phong lao 󰗚ng c󰗨a m󰗘i
cá nhân tham gia vào quá trình lao 󰗚ng s󰖤n xu󰖦t t󰖢o ra c󰗨a c󰖤i v󰖮t
ch󰖦t và tinh th󰖨n cho xã h󰗚i.
9
2.1.1.2. Cấ u trúc củ a nguồ n lự c con ngư ờ i
Cũng như quan niệm về ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i, c󰖦u trúc của nguồn lực
con người có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ở mức độ khái quát
nhất, tác giả luận án cho rằng cấu trúc nguồn lực con người bao gồm hai
thành tố cơ bản, đó là: số lượng và chất lượng nguồn lực con người. Hai
thành tố này quan hệ biện chứng với nhau trong quá trình phát triển nguồn
lực con người.
2.1.2. Phát triển nguồn lực con người và các yếu tố cơ bản tác
động đến phát triển nguồn lực con người ở nước ta hiện nay
2.1.2.1. Khái niệ m phát triể n nguồ n lự c con ngư ờ i
Với cách tiếp cận trên đây, có thể hiểu phát tri󰗄n ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i
là quá trình làm gia tng s󰗒 l󰗤ng và ch󰖦t l󰗤ng ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i; là
t󰖢o i󰗂u ki󰗈n, c h󰗚i 󰗄 nâng cao vai trò c󰗨a ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i qua ó
làm tng nh󰗰ng giá tr󰗌 ích th󰗲c và ý ngha l󰗜n lao c󰗨a ngu󰗔n l󰗲c này
trong quá trình phát tri󰗄n kinh t󰗀 - xã h󰗚i.
2.1.2.2. Các yế u tố cơ bả n tác độ ng đế n phát triể n nguồ n lự c con
ngư ờ i trong quá trình công nghiệ p hóa, hiệ n đạ i hóa ở nư ớ c ta hiệ n nay
Từ phương pháp tiếp cận hệ thống, chúng ta thấy rằng sự tồn tại và
phát triển của con người, của nguồn lực con người chịu sự tác động của
nhiều nhân tố khác nhau, cả khách quan lẫn chủ quan; cả môi trường tự
nhiên lẫn môi trường xã hội, cả kinh tế lẫn chính trị, văn hóa v.v. Trong
khuôn khổ luận án này, chúng tôi tiếp cận vấn đề từ góc độ nhân tố khách
quan và nhân tố chủ quan - sự tác động của các nhân tố khách quan và
nhân tố chủ quan đến sự phát triển nguồn lực con người trong sự liên hệ
biện chứng của nó.

thông qua chính sách mở cửa và hội nhập.
Tính hai mặt của toàn cầu hoá và hội nhập thế giới đang tác động đến
khả năng phát triển nguồn lực con người đòi hỏi chúng ta phải có chiến
lược phù hợp, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức để đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhân tố chủ quan, ngoài một số nhân tố khách quan trên, sự phát
triển nguồn lực con người Việt Nam còn chịu sự tác động của các nhân t󰗒
ch󰗨 quan như: vai trò lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; công tác tổ
chức, bố trí, sắp xếp nguồn lực con người, cũng như vai trò của chính bản
thân nguồn lực con người Việt Nam hiện nay. Trong đó sự tác động từ chủ
trương, đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của các chủ thể quản
lý, các cấp, các ngành là hết sức to lớn. Một số chính sách như: giáo dục
đào tạo, đào tạo lại; chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động; chính sách
tiền lương, bảo hiểm, chăm sóc y tế v.v. là những chính sách ảnh hưởng
trực tiếp đến phát triển nguồn lực con người, nhất là về mặt chất lượng của
nó. Tại Đại hội lần thứ VII, Đảng ta chỉ rõ: “Chính sách xã hội đúng đắn vì
hạnh phúc con người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của
nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”
Chúng ta có thể khẳng định rằng, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá có thành công hay không, đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI có
vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không phần lớn tuỳ thuộc
11
vào nguồn lực con người Việt Nam. Quan điểm đó đòi hỏi chúng ta phải
hiểu một cách sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân
tố con người, nguồn lực con người - chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn
của cải vật chất và tinh thần, mọi nền văn minh của các quốc gia - dân tộc.
Nắm vững, thấu hiểu tinh thần nhân văn sâu sắc ấy sẽ giúp cho chúng ta có
niềm tin khoa học để bước vào “thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” như Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII đã đề ra.

2.2.2. Tầm quan trọng của việc phát triển nguồn lực con người
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Phát triển nguồn lực con người được coi là khâu đột phá, là nhân tố
quyết định thắng lợi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
điều đó được cắt nghĩa bởi mấy lý do chính sau đây:
Th󰗪 nh󰖦t, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình
phát triển kinh tế - xã hội nói chung, của quá trình CNH, HĐH nói riêng.
Chăm lo cho hạnh phúc của con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của
chế độ ta. Thực tiễn lịch sử loài người đã và đang ngày càng chứng minh
rằng coi trọng nhân tố con người và phát triển nguồn lực con người - nhất
là chất lượng nguồn nhân lực - là bí quyết thành công của mỗi quốc gia
dân tộc, ưu thế của sự phát triển bền vững.
Th󰗪 hai, con người - nguồn lực con người, vừa là sản phẩm, vừa là
chủ thể của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Con người là sản
phẩm của hoàn cảnh, nhưng hoàn cảnh lại do chính con người tạo ra và
con người có khả năng làm thay đổi hoàn cảnh. Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa không phải tự nhiên mà có và cũng không thể do ai đưa đến cho ta, đó
phải là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của toàn Đảng, toàn
dân ta với những con người phát triển cả về trí lực, thể lực, khả năng lao
động, sáng tạo và tính tích cực chính trị - xã hội cao
Th󰗪 ba, do yêu cầu ngày càng cao của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Để thực hiện quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng lao
động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng
với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự
phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ, tạo ra năng
suất lao động xã hội ngày càng cao, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực (hay là
nguồn lực con người) phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng - nhất là
chất lượng nguồn nhân lực.
2.2.3. Yêu cầu cơ bản của việc phát triển nguồn lực con người

Để có nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội cũng như nhu cầu đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước, đòi hỏi chúng ta
phải chú ý phát triển nguồn lực con người một cách hợp lý cả về số lượng
lẫn chất lượng cũng như cơ cấu. Mọi bất cập giữa số lượng với chất lượng
hay cơ cấu cũng như mọi sự phát triển không đồng bộ giữa chúng sẽ dẫn
đến chỗ triệt tiêu sức mạnh của nhau.
Từ những kinh nghiệm và bài học rút ra từ việc phát triển nguồn lực
con người của các nước trong khu vực và trên thế giới giúp cho chúng ta
có cơ sở để khẳng định rằng, chúng ta tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại
hoá không có con đường nào tốt hơn là phải quan tâm đến việc phát triển
nguồn lực con người và sử dụng nguồn lực đó một cách có hiệu quả nhất.
14
Chương 3
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN
NAY - THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. I󰗁U KI󰗇N T󰗱 NHIÊN, KINH T󰖿, VN HÓA - XÃ H󰗙I 󰖣NH
H󰗟NG 󰖿N VI󰗇C PHÁT TRI󰗃N NGU󰗓N L󰗱C CON NG󰗝I TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHI󰗇P HÓA, HI󰗇N 󰖡I HÓA 󰗟 T󰗉NH NGH󰗇 AN HI󰗇N NAY
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn lực
con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ
An hiện nay
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc - trung Bộ, có diện tích tự
nhiên 16.488 km
2
và dân số trung bình 3.105 nghìn người (tính đến năm
2013). Về mặt hành chính có 19 huyện, thị và 1 thành phố (trong đó có 11
huyện, thị ở miền núi). Nghệ An là tỉnh có 󰗌a hình đa dạng, phức tạp, sự
chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm khá cao. Thêm vào đó, Nghệ
An là một trong những vùng đất chịu ảnh hưởng nặng nề của gió Tây

3.2.1. Thực trạng nguồn lực con người trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay
V󰗂 m󰖸t s󰗒 l󰗤ng ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i
So với cả nước, Nghệ An là một trong những tỉnh có dân số tương
đối đông và nguồn lực con người tương đối dồi dào. Trong khoảng 3
triệu công dân của tỉnh, bình quân mỗi năm có thêm 33.000 lao động bổ
sung vào 1,7 triệu lao động sẵn có. Phần lớn số lao động được bổ sung
này là học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông không trúng tuyển vào
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, số còn lại là bộ đội hoàn
thành nghĩa vụ trở về địa phương.
V󰗂 m󰖸t ch󰖦t l󰗤ng ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i.
V󰗂 trình 󰗚 h󰗎c v󰖦n: so với mức bình quân chung của vùng, tỷ lệ dân
trên 15 tuổi biết chữ trong tổng số dân của Nghệ An tương đối cao, đạt
97%. Tỷ trọng nhóm người có trình độ học vấn thấp (chưa đi học bao giờ
và chưa tốt nghiệp tiểu học) giảm từ 3,86% năm 2000 xuống còn 2,64%
năm 2010, thấp hơn hẳn so với cả nước (tỷ lệ này cả nước là 18,3%).
V󰗂 trình 󰗚 chuyên môn k󰗺 thu󰖮t: Nghệ An đã phát triển nhiều cơ sở
dạy nghề dưới nhiều hình thức.Hiện nay trên địa bàn tỉnh (không kể 6
trường đại học) có tới 52 cơ sở dạy nghề, trong đó có 5 trường cao đẳng và
8 trường trung cấp nghề; 17 trung tâm dạy nghề và 22 cơ sở khác tham gia
đào tạo nghề.Ngoài ra tỉnh cũng rất quan tâm đến chm sóc s󰗪c kh󰗐e cho
người dân, tạo mọi cơ hội cho người lao động có thể phát huy được năng
lực sẵn có của mình trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Về mặ t cơ cấ u nguồ n lự c con ngư ờ i
Do lịch sử để lại, do điều kiện, tập quán sinh sống từ bao đời nay, dân
cư tỉnh Nghệ An nhìn chung phân bố không đều, mật độ dân số tập trung ở
các vùng đồng bằng ven biển, như thành phố Vinh 2.912 người/km
2
, trong
lúc đó Tương Dương , Quế Phong chỉ có 25 người/km

HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
Thứ nhấ t, mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh về số lượng với sự phát triển
chậm về chất lượng nguồn lực con người - nhất là vùng nông thôn và miền
núi. Cũng như cơ cấu dân số cả nước, dân số tỉnh Nghệ An cũng đang ở
giai đoạn cơ cấu dân số vàng, trong đó nhóm dân số trong độ tuổi lao động
có tỷ trọng khá cao. Trong khoảng 3 triệu dân của tỉnh, có khoảng 1,7 triệu
lao động, bình quân mỗi năm có 33.000 lao động được bổ sung vào nguồn
nhân lực của địa phương.
Tuy có số lượng lao động tương đối dồi dào, nhưng nhìn chung nguồn
lực con người của Nghệ An chưa thật mạnh. Nguồn nhân lực - nhất là
nhân lực chất lượng cao -nhất là trình độ tay nghề, tính chuyên nghiệp,
khả năng thích nghi, thích ứng với môi trường làm việc đầy biến động
17
như hiện nay chưa tốt. Nhiều kỹ năng - nhất là các kỹ năng mềm (kỹ
năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng
quản lý- lãnh đạo) vẫn còn hạn chế.
Thứ hai, cơ cấu nguồn lực con người chưa hợp lý, tình trạng “thừa
thầy thiếu thợ” vẫn chưa được khắc phục. Số chuyên gia và công nhân
lành nghề trong lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ cao còn quá ít. Lực lượng lao
động làm trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp chiếm hơn 64 % lực lượng lao
động của tỉnh.
Lực lượng lao động trong các nghề đòi hỏi có trình độ chuyên môn
hoặc kỹ thuật cao vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp. Cụ thể như thợ vận hành máy
và lắp ráp máy móc thiết bị chỉ chiếm 3,7%, lao động có chuyên môn bậc cao
và các nhà lãnh đạo và quản lý cũng chỉ chiếm 3,1% trong tổng số lao động
toàn tỉnh. Không chỉ trong cơ cấu đào tạo, cơ cấu ngành nghề, ngay cả cơ
cấu vùng- miền vẫn còn nhiều bất cập
Thứ ba, những khó khăn, hạn chế trong việc nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần; đảm bảo dịch vụ y tế và các dịch vụ khác cho người dân địa
phương. Nghệ An là một tỉnh gần như “thuần nông”, lực lượng lao động làm

sản xuất gặp không ít khó khăn. Đây là một trong những trở ngại cho quá
trình CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh.
Kể từ khi đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, Nghệ
An đã chú trong hình thành một số cụm công nghiệp, khu công nghiệp tập
trung. Để đáp ứng nhu cầu lao động, lãnh đạo tỉnh đã có nhiều chủ trương,
chính sách đào tạo, thu hút nguồn lực con người ( nhất là nguồn lực chất
lượng cao) để phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH trên địa bàn tỉnh.
Tuy đạt được những kết quả nhất định, góp phần to lớn đến quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhưng trên thực tế việc phát tri󰗄n
ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i ở Nghệ An trong thời gian qua cũng còn không ít vấn
đề đặt ra, không ít vấn đề bất cập, cần phải giải quyết. Trong đó nổi lên
mấy vấn đề chính sau đây:
Th󰗪 nh󰖦t, mâu thuẫn giữa sự tăng nhanh về số lượng với sự phát triển
chậm về chất lượng nguồn lực con người - nhất là vùng nông thôn và miền
núi. Th󰗪 hai, cơ cấu nguồn lực con người chưa hợp lý, sắp xếp, sử dụng
nguồn lực đó còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH. Th󰗪
ba, những khó khăn, hạn chế trong việc nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần; đảm bảo dịch vụ y tế và các dịch vụ khác nhằm nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người dân.
Chương 4
QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ
TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH NGHỆ AN
HIỆN NAY
4.1. QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON
NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở
TỈNH NGHỆ AN HIỆN NAY
4.1.1. Phát triển nguồn lực con người là khâu đột phá để thực
hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh

như cơ cấu vùng, miền v.v. Đồng thời ưu tiên phát triển nguồn lực con
người ở những lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, so sánh.
Nhìn chung nguồn lực con người của chúng ta hiện nay phát triển
chưa toàn diện, thiếu cân đối. Hiện tại, nguồn lực lao động trong nông
nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá cao, trong lúc đó nguồn lực con người phục
vụ trong một số ngành công nghiệp - dịch vụ nhìn chung vẫn thấp. Riêng ở
Nghệ An, lao động trong nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 64 % lao động toàn
tỉnh. Việc nhận thức một cách đúng đắn những bất cập này, tìm ra giải
pháp để phát triển nguồn lực con người một cách toàn diện là việc làm hết
sức cần thiết ở Nghệ An hiện nay.
20
4.1.3. Phát tri󰗄n ngu󰗔n l󰗲c con ng󰗞i là sự nghiệp, là trách nhiệm
của toàn xã hội
Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn lực con người, nhất là nguồn
lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của
quá trình CNH, HĐH, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.
Do đó phải làm cho mọi người ý thức được rằng đây là nhiệm vụ của toàn
xã hội, mang tính xã hội, đòi hỏi có sự tham gia của các cấp ủy đảng,
chính quyền, nhà trường, doanh nghiệp, gia đình.v.v. cũng như bản thân
người lao động.
Là công việc, nhiệm vụ mang tính xã hội, do đó phát triển nguồn lực
con người cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các chủ
thể tham gia phát triển nguồn nhân lực.
Ngoài ra cần phải tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để thúc đẩy
quá trình đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập thế giới. Ưu tiên cho việc đào tạo có chát lượng
nguồn lực con người ở các ngành trọng điểm, các nghề mới hiện đại, đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐHH.
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT TRIỂN NGUỒN
LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI

năng quản lý vĩ mô, định hướng, dẫn dắt bằng hệ thống khung khổ pháp
lý và chính sách khuyến khích phát triển nhân lực.
Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho đào tạo nhân lực với các
hình thức khác nhau, nhất là việc thành lập cơ sở đào tạo trong doanh
nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, nhu cầu xã hội.
Ngoài ra phải tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế để phát triển
nhân lực. Đặc biệt phải biết ưu tiên cho việc đào tạo nguồn nhân lực
đạt đẳng cấp quốc tế, nhân lực các ngành trọng điểm, các nghề mới
hiện đại để có khả năng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước.
4.2.2. Nhóm giải pháp về công tác tuyển dụng, sử dụng, quy
hoạch, sắp xếp nguồn lực con người ở Nghệ An hiện nay
4.2.2.1. Giả i pháp về tuyể n dụ ng, sử dụ ng nguồ n lự c con ngư ờ i ở
tỉ nh Nghệ An
Thực tế cho thấy, nếu nguồn nhân lực được sử dụng đúng, quản lý tốt,
biết phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo… sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
- xã hội cao. Để góp phần khắc phục tình trạng “thừa” nguồn nhân lực một
cách giả tạo, ngoài việc xét tuyển các ứng viên đã có kinh nghiệm làm việc
đáp ứng được yêu cầu của các cơ quan, doanh nghiệp, tỉnh Nghệ An cần làm
tốt hơn nữa công tác tuyển dụng các sinh viên có kết quả học tập tốt, có năng
lực, tốt nghiệp tại các trường đại học trong nước và quốc tế về làm việc tại
địa phương.
Ngoài ra tỉnh cần đẩy mạnh công tác quảng bá, tuyên truyền chính
sách thu hút nhân tài để có thể tuyển dụng được nguồn nhân lực có chất
lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở địa phương.
Nhất là việc xây dựng cơ sở giữ liệu về nguồn cán bộ khoa học công nghệ
ở trong nước và các chuyên gia là việt kiều (chủ yếu là con em quê ở Nghệ
An) trong các ngành công nghệ mũi nhọn, các nhà khoa học trình độ cao
22
tham gia công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyển giao công nghệ tại các cơ

sản, thủy sản) và một số ngành công nghiệp khác (như khai khoáng, thủy
điện v.v ). Đây là giải pháp hoàn toàn có tính khả thi đối với một tỉnh nghèo
nhưng giàu tiềm năng và lắm lợi thế như Nghệ An.
4.2.3.2. Phát huy tính tích cự c, chủ độ ng, sáng tạ o, truyề n thố ng
quê hư ơ ng ở nguồ n lự c con ngư ờ i Nghệ An
Để phát triển nguồn lực con người, ngoài những giải pháp mang tính
khách quan, cần có những giải pháp mang tính chủ quan. Giải pháp khách
23
quan có khả thi đến đâu đi nữa nhưng không được nội tâm hóa, không
thâm nhập được vào “lực lượng thực tiễn”, vào lực lượng vật chất - tức là
nguồn lực con người- thì không bao giờ trở thành hiện thực, trong đó phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, truyền thống quê hương ở nguồn lực
con người Nghệ An là một trong những giải pháp hết sức cần thiết.
Một trong những ưu tiên để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nghệ
An đã có những chủ trương, chính sách ưu đãi nhằm thu hút nhân tài; tích
cực đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật và phương tiện làm việc trong thực thi
công vụ. Thực hiện các chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần đối với đội
ngũ công chức, viên chức, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của một trong
những thành phần quan trọng nhất trong cơ cấu nguồn lực con người của tỉnh
KẾT LUẬN
Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi
dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố
quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Gần
đây trong Chi󰗀n l󰗤c phát tri󰗄n b󰗂n v󰗰ng Vi󰗈t Nam giai o󰖢n 2011-
2020, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12 tháng 4 năm 2012
cũng khẳng định “Con người là trung tâm của phát triển bền vững. Phát
huy tối đa nhân tố con người với vai trò là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và
là mục tiêu của phát triển bền vững; đáp ứng ngày càng đầy đủ hơn nhu
cầu vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân; xây dựng đất nước

hướng để phát triển nguồn lực con người và đề xuất một số nhóm giải
pháp cơ bản sau đây: m󰗚t, nhóm giải pháp về lĩnh vực giáo dục và đào tạo,
huy động các nguồn lực đầu tư để phát triển số lượng và chất lượng nguồn
lực con người ở Nghệ An hiện nay; hai, nhóm giải pháp về công tác tuyển
dụng, sử dụng, quy hoạch, sắp xếp nguồn lực con người ở Nghệ An hiện
nay và ba, nhóm giải pháp về xây dựng môi trường kinh tế- xã hội để phát
triển số lượng và chất lượng nguồn lực con người trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Nghệ An hiện nay.Thực hiện đồng bộ các nhóm
giải pháp trên đây sẽ tạo ra các tác động tích cực, cùng chiều đối với vấn
đề phát triển nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở tỉnh Nghệ An hiện nay.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status