BÁO CÁO CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG HIV/AIDS
I. TÌNH HÌNH DỊCH HIV/AIDS TẠI VIỆT NAM
Tính đến nay cả nước có 156.802 người nhiễm HIV đang còn sống được báo cáo, trong
đó có 34.391 bệnh nhân AIDS còn sống và đã có 44.232 người chết do AIDS. Đến nay, thành
phố Hồ Chí Minh vẫn là địa phương có tổng số người nhiễm HIV cao nhất nước chiếm 26,3%
các trường hợp nhiễm HIV phát hiện trên toàn quốc. Kế đến là Hà Nội với 15.528 người nhiễm
HIV hiện còn sống, Hải Phòng 6.540 người, Sơn La 5.183 người, Thái Nguyên 5.122 người,
Nghệ An 3.711 người, An Giang 3.667 người và Bà Rịa – Vũng Tàu 3.427 người.
Toàn quốc có tới 70,51% xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố đã
phát hiện có người nhiễm HIV. Trong 9 tháng đầu năm 2009 toàn quốc ghi nhận thêm 02 huyện
mới phát hiện có người nhiễm HIV tại hai tỉnh: Nghệ An (01 huyện) và Lai Châu (01 huyện).
82 xã, phường báo cáo mới ghi nhận có người nhiễm HIV, trong đó khu vực Miền núi phía
Bắc: 19 xã, tiếp theo là khu vực Bắc Trung Bộ: 17 xã và cuối cùng là khu vực Đồng bằng Bắc
Bộ: 16 xã. So với cùng kỳ năm 2008, số lượng huyện và xã báo cáo phát hiện nhiễm HIV giảm:
số huyện giảm 01 huyện, số xã giảm 265 xã/phường (năm 2008 tăng 337 xã/phường).
Lứa tuổi nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-29 tuổi chiếm hơn 50%,
tuy nhiên trong vài năm trở lại đây, nhiễm HIV trong nhóm tuổi 30-39 tuổi có xu hướng tăng
hơn so với các năm trước tăng từ 30% năm 2008 lên đến 41% trong năm 2009. Hình thái lây
nhiễm HIV trên toàn quốc chủ yếu qua đường máu (do tiêm chích ma túy không an toàn), tuy
nhiên hình thái có sự khác biệt giữa các vùng miền. Khu vực miền Bắc, miền núi phía Bắc chủ
yếu do tiêm chích ma túy nhưng các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Tây Nam bộ chủ yếu các
trường hợp nhiễm HIV được phát hiện do quan hệ tình dục. Tại Trà Vinh số nhiễm HIV qua
quan hệ tình dục trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV phát hiện lên tới 80,7%, Quảng Bình
73,2%, Cà Mau 69,4%, Quảng Trị 62,0%, An Giang 55,8%, Thừa Thiên Huế 50,8%.
Phân bố theo giới: đa phần các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện là nam giới, toàn
quốc chiếm 79%. Tỷ lệ nhiễm giữa nam và nữ đã có sự thay đổi qua các năm gần đây với tỷ lệ
nữ giới bắt đầu tăng từ 15% năm 2005 lên tới 23% năm 2009, tuy nhiên, dự báo trong tương lai
tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới có xu hướng tăng lên. Hiện nay nhiễm HIV không chỉ tập
trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao như nghiện chích ma tuý, gái mại dâm mà rất đa dạng
về ngành, nghề như lao động tự do, công nhân, nông dân, bộ đội, công an, học sinh, sinh viên,
nhân viên hành chính, phạm nhân và trẻ em. Điều này cũng phù hợp về hình thái lây truyền, khi
ma túy, mại dâm đã được tăng cường. Ủy ban Quốc gia phòng chống HIV/AIDS đã tổ chức các
đoàn kiểm tra, giám sát các hoạt động trên 3 lĩnh vực, các đoàn công tác đều có các chỉ đạo, các
báo cáo hết sức cụ thể và thiết thực trong các hoạt động của địa phương và đơn vị.
2. Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông thay đổi hành vi:
Hoạt động thông tin giáo dục truyền thông được thực hiện khá mạnh. Các Bộ, ngành cơ
quan Trung ương tổ chức nhiều hoạt động, đa dạng về loại hình và hướng tới nhóm đích nhiều
hơn. Các phong trào được tiếp tục thực hiện như “Phong trào “Toàn dân tham gia phòng, chống
HIV/AIDS tại cộng đồng dân cư” được triển khai ở các tỉnh do Trung ương mặt trận tổ quốc
Việt Nam, Bộ Y tế, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch phối hợp chỉ đạo và có kết quả hết sức khả
quan. Tháng hành động quốc gia phòng chống HIV/AIDS tiếp tục được tổ chức trên quy mô
rộng và tất cả các Bộ, ngành, địa phương đều tích cực hưởng ứng như Bộ Công an, Bộ Tư
pháp, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam. Bộ Y tế đã chỉ đạo việc mít tinh hưởng
ứng tại xã phường vào cùng một thời điểm thu hút được sự quan tâm của người dân tại cộng
đồng.
Trong năm 2009 đã tiếp tục đẩy mạnh và duy trì các hình thức truyền thông trực tiếp
thông qua đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống HIV/AIDS tuyến xã/phường và tuyên
truyền viên đồng đẳng cho các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Các diễn đàn tuyên truyền viên
đồng đẳng toàn quốc được tổ chức, các cuộc thi, hội thi cộng tác viên, tuyên truyền viên được
tổ chức theo các khu vực, hội nghị biểu dương cán bộ, cộng tác viên cơ sở tiêu biểu trong công
tác phòng chống HIV/AIDS đã được tổ chức góp phần động viên đội ngũ cán bộ cơ sở tiêu biểu
trong các hoạt động.
Hoạt động thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, đại chúng đã được đẩy
mạnh. Các phóng sự, tọa đàm, trao đổi được thực hiện dưới nhiều hình thức, phong phú về nội
dung. Các bài báo viết mang tính giáo dục, hướng dẫn thay đổi hành vi ngày một nhiều hơn trên
các báo viết, báo điện tử. Câu lạc bộ báo chí về công tác phòng chống HIV/AIDS tiếp tục phát
huy hiệu quả. Các thông tin hiện nay hướng tới giáo dục chống kỳ thị phân biệt đối xử, thay đổi
hành vi hơn so với trước đây. Có thể nói năm 2009 hoạt động thông tin, giáo dục truyền thông
có những bước chuyển biến rõ rệt hơn so với các năm trước đây.
3. Công tác can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV
Sau khi Luật phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải
khoảng 80.000 người nghiện được tham gia chương trình.
5. Công tác giám sát HIV/AIDS và tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện:
Cho đến nay Bộ Y tế đã thẩm định và cho phép 72 phòng xét nghiệm đủ điều kiện
khẳng định các trường hợp HIV (+) (trên 47 tỉnh, thành phố), riêng năm 2009 đã thẩm định cấp
phép thêm được 9 phòng và rút phép 3 phòng. Từ đầu năm 2009 đến nay, hệ thống giám sát các
tỉnh, thành phố đã tiến hành xét nghiệm được 586.793 mẫu máu. Về công tác tư vấn, xét
nghiệm tự nguyện: cho tới nay tại 64 tỉnh, thành phố đã có hơn 246 phòng tư vấn xét nghiệm
HIV tự nguyện. Riêng 9 tháng đầu năm 2009 đã tư vấn xét nghiệm cho tổng số 176.755 người,
số người được xét nghiệm HIV là 168.789. Trong năm 2009 một số tỉnh chưa thực hiện tốt
công tác báo cáo định kỳ hàng tháng theo quy định tại Quyết định số 1418/2000/QĐ-BYT như:
Ninh Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng, Bình Thuận và Bình Phước. Bên cạnh đó chất lượng báo cáo
số liệu chưa thật sự tốt như: An Giang, Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hà Nội.
6. Chương trình tiếp cận điều trị:
Hệ thống điều trị bệnh nhân AIDS đã thiết lập được 288 điểm điều trị bằng thuốc đặc
hiệu kháng vi rút (ARV): 14 điểm tại tuyến Trung ương, 125 điểm tuyến tỉnh, thành phố và 149
điểm tại tuyến quận. Tính đến 30/9/2009, toàn quốc đã tiến hành điều trị thuốc ARV cho
35.126 bệnh nhân, trong đó có 33.116 bệnh nhân AIDS người lớn, 1.879 trẻ em. Hiện nay một
số tỉnh, thành số bệnh nhân được tiếp cận điều trị còn thấp dưới 20 bệnh nhân như: Phú Yên,
Lâm Đồng, Kom Tum, Hậu Giang, Đắc Nông. Nhưng một số tỉnh, thành phố công tác này làm
tương đối tốt như TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hải Phòng và Thái Nguyên.
7. Chương trình Dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Trong năm 2009, Bộ Y tế đã phát động và triển khai chương trình dự phòng lây truyền
HIV từ mẹ sang con trên toàn quốc. Đây là hoạt động hết sức thiết thực và có hiệu quả nhằm
làm giảm đáng kể trẻ em bị nhiễm HIV được sinh ra từ các bà mẹ bị nhiễm HIV. Trong 9 tháng
đầu năm 2009, trên toàn quốc đã tiến hành tư vấn xét nghiệm HIV trước khi sinh cho 298.934
phụ nữ mang thai đã phát hiện 453 phụ nữ mang thai nhiễm HIV (trong đó có 369 trường hợp
được điều trị dự phòng).
8. Chương trình quản lý các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD):
Trong 9 tháng đầu năm 2009, tại các cơ sở y tế nhà nước và tư nhân của các tỉnh, thành
phố đã tiến hành khám, điều trị cho 221.376 ca mắc STI, trong đó cơ sở y tế nhà nước chẩn
khoảng 2.800 bệnh nhân trên tổng số 35.000 bệnh nhân được điều trị. Việc điều trị phụ thuộc
các nguồn tài trợ sẽ khó khăn khi các chương trình dự án kết thúc; (ii) Công tác giám sát
HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá: các tỉnh chưa có khả năng đánh giá và dự báo về tình hình
dịch. Công tác giám sát bệnh nhân AIDS tại các tuyến không thực sự được coi trọng dẫn tới số
lượng bệnh nhân AIDS chưa được thống kê đầy đủ; (iii) Công tác quản lý, theo dõi, giám sát
tình trạng nhiễm HIV của những đưa trẻ được sinh ra từ những bà mẹ bị nhiễm HIV không đầy
đủ do mất dấu sau khi sinh;
5. Về chế độ, chính sách mặc dù chế độ, chính sách còn quá khiêm tốn so với nhiệm vụ được
giao, nhưng ở một số địa phương vẫn chưa giải quyết chế độ phụ cấp, chế độ đặc thù nghề
nghiệp cho cán bộ trực tiếp tham gia chăm sóc, điều trị và giám sát dịch HIV/AIDS. Chưa có
chính sách ưu tiên trong tuyển chọn các bác sỹ tự nguyện tham gia làm công tác phòng, chống
HIV/AIDS, chế độ hưởng phụ cấp thâm niên nghề nghiệp.
IV. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG NĂM 2010:
1. Tăng cường hơn nữa vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp trong việc
quan tâm đầu tư và tổ chức triển khai thực hiện công tác phòng chống HIV/AIDS. Tổng kết
việc thực hiện Chỉ thị 54/CT-TW của Ban Bí thư về tăng cường công tác phòng chống
HIV/AIDS trong tình hình mới; sơ kết 3 năm việc thực hiện Luật phòng chống nhiễm vi rút gây
ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS). Tập trung triển khai đánh giá
Chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS đến 2010 và tầm nhìn 2020 để từ đó xây dựng
Chiến lược quốc gia cho giai đoạn 2011-2020 trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2. Đẩy mạnh đầu tư, tăng cường việc thực hiện các Quyết định đã được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt như Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 28/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc
Phê duyệt đề án tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS tuyến tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015 và Quyết định số 84/2009/QĐ-TTg
ngày 04/6/2009 về việc phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia vì trẻ em bị ảnh hưởng bởi
HIV/AIDS đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 và các Quyết định, đề án đã được các cấp
có thẩm quyền phê duyệt.
3. Tổ chức tốt các sự kiện đánh dấu 20 năm Việt Nam đương đầu với HIV/AIDS như: Tổng kết
20 năm trong phòng chống HIV/AIDS; Hội nghị Khoa học về HIV/AIDS lần thứ IV; Cuộc thi
tuyên truyền viên giỏi toàn quốc; Triển lãm 20 năm đương đầu với HIV/AIDS.