Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và thời vụ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và hàm lượng hoạt chất Phyllanthin của hai loài Diệp hạ châu thuộc chi Phyllanthus trong điều kiện vụ xuân tại Gia Lâm – Hà Nội - Pdf 28


1
- Đánh giá ảnh hưởng của thời vụ đến hàm lượng hoạt chất Phyllanthin
của 2 loài diệp hạ châu
PHẦN III. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Nguồn gốc, phân bố, đặc điểm thực vật học của chi Phyllanthus và
hai loài nghiên cứu
2.1.1 Nguồn gốc, phân bố chi Phyllanthus L.
Chi Phyllanthus L. Thuộc họ Thầu dầu (Euphorbicaceae), bộ Thầu
dầu (Euphorbiales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan
(Magnoliophyta). [1], [2], [7], [18], [4], [5], [33], [7], [34].
2
Họ Thầu dầu, với khoảng 283 chi và 7300 loài, phân bố rộng rãi khắp
thế giới, tập trung o ở Brazil và Ấn Độ, Mã Lai [33], [8]. Ở Việt Nam, họ
Thầu dầu có 79 chi và 459 loài. Riêng chi Phyllanthus, ở nước ta có tổng số
53 loài đã biết đến, trong đó có 47 loài được dân gian gọi là Diệp hạ châu
như: Diệp hạ châu Phú Quốc, Diệp hạ châu Trừng, Diệp hạ châu Ấn có 7
loài đã được dân gian sử dụng làm thuốc từ lâu đời, trong đó có 4 loài được
sử dụng làm thuốc chữa bệnh gan và các bệnh có liên quan tới gan là: P.
emblica, P. amarus, P. urinaria L. var . urinaria, P. urinaria var.
nudiscapa Ross.& Haic. [16].
2.1.2 Đặc điểm thực vật học của chi Phyllanthus L
Chi Phyllanthus là một chi có số lượng loài rất đa dạng, đồng thời đặc
điểm thực vật học trong loài cũng rất đa dạng và phong phú.
Đặc điểm chung của của chi là:
Về dạng thân, lá: thân gỗ, bụi nhỏ, bụi vừa hay thân thảo. Lá mọc
cách, đơn, nguyên, có cuống hay không có cuống, có lá kèm
Cụm hoa: cụm hoa mọc ở kẽ lá hay nách lá. Hoa nhỏ, không cánh.
Hoa đơn tính, cùng gốc, hiếm khi khác gốc.
Hoa đực: Đài 4 – 6, kiểu tiền khai hợp. Đĩa mật hình dạng khác nhau,
hiếm khi không có. Nhị 2 – 5, chỉ nhị rời hay nhị dính liền, bao phấn hình

cái có vòi nhụy tự do và dính ở các mức độ khác nhau, vòi nhụy phân chia
hoặc phân chia nhưng không dày, có khía ở mặt trên. Ở Việt Nam phân chi
này có 16 loài
- Eriococcus: Hoa đực có 4 đài, hai nhị bé và không cuống. Hoa cái có
4 – 6 đài. Ở Việt Nam phân chi này có 13 loài.
5
2.1.3 Đặc điểm thực vật 2 loài nghiên cứu
2.1.3.1 Phyllanthus amarus Schum. & Thonn.(Chó đẻ thân xanh, diệp hạ
châu đắng)
Cây thảo, cao 10 – 40 cm, ít phân cành, màu lục. Lá mọc so le,
xếp hai dãy đều trên cành trông như một lá kép lông chim, gốc tròn, đầu tù
hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới mốc. Hoa đơn tính
mọc ở kẽ lá, không có cánh hoa, màu lục nhạt, hoa đực có cuống ngắn xếp ở
dưới hoa cái, hoa cái có cuống dài. Quả nang, hình cầu, nhẵn, hơi dẹt, chia
thành 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh vỏ có 2 van chứa 2 hạt. Hạt hình tam giác,
đường kính 1mm, có cạnh dọc và vân ngang. Mùa hoa tháng 4 – 6, mùa quả
tháng 7 – 9. [9].
Diệp hạ châu đắng có nguồn gốc xa xưa ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và
hiện nay thấy phân bố ở khắp các vùng nhiệt đới cổ. Ở Châu Á, vùng phân
bố của diệp hạ châu đắng gồm các nước Ấn Độ, Malaysia, Philippin,
Indonesia, Thái lam, Campuchia, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc và cả ở
vùng đảo Salawesi. Ở Việt Nam, diệp hạ châu đắng cũng thấy ở khắp nơi, từ
các tỉnh ở vùng đồng bằng, ven biển, các đảo lớn, đến các tỉnh ở trung du và
miền núi có độ cao dưới 800m, ở các nước Đông Nam Á, độ cao phân bố
này có thể lên đến 1000m
6
Diệp hạ châu đắng là cây ưa sáng và có thể hơi chịu bóng khi còn nhỏ
hoặc mọc xen lẫn với các loài cây cỏ khác. Cây thường mọc ở đất ẩm trong
vườn, ruộng trồng hoa màu, ven đường đi hay trên nương rẫy. Cây con mọc
từ hạt thường xuất hiện vào khoảng cuối xuân, sinh trưởng nhanh trong vòng

2.2 Thành phần hóa học
2.2.1 Phyllanthus amarus Schum. & Thonn.
Trong lá Phyllanthus amarus Schum.& Thonn chứa một chất đắng là
Phyllanthin, không có quinin hoặc alcaloid khác. Lá khô chứa các chất đắng
hypophyllanthin (0,05%) và phyllanthin (0,35%) gây độc đối với cá và ếch.
Ngoài ra, trong cây có chứa niranthin, nitetralin và phyteralin. [6]
Người ta còn phát hiện trong cây có các lignan, flavonoid và các
alkaloid kiểu securinin: niuroidin, isobubbialin, epibubbialin, chất amariinic
acid, một loại ellgitannin, cùng với elaeocarpusin, geraniiic acid B và
repandusinnic acid A I-O-galloyl-2,4-dehydrohexahydroxydyphenoyl –
glucopyranose. [31], [32], 35].
Foo-Ly đã tách được, 1,6-digalloylglucopyranosid, amariin geranniin,
corilagin, cũng như rutin, quercetin-3-O-glucopyranosid từ phân đoạn phân
cực của phyllanthus amarus. [32]
Mới đây, khi nghiên cứu thành phần khoáng của cây, Vũ Văn Vụ đã
xác định trong cây có mặt Gd, La, Ce có khả năng tạo phức có hoạt tính
chống ung thư. Các kim loại nặng độc đều có hàm lượng rất thấp, chỉ có Cu
và Zn là các vi lượng trội hơn. Hàm lượng K trung bình cao (1,8%), điều
này liên quan đến tác dụng mát gan lợi tiểu của cây thuốc. [24]
9
2.2.2 Phyllanthus urinaria L.
Trong loài P. urinaria L. có mặt các acid, triterpen, một vài alkaloid và
các dẫn xuất phenol. Gần đây, từ lá người ta đã phân lập được acid ellagic,
acid gallic, một acid phenolic và một flavonoid, chất thứ nhất không tan
trong nước, các chất sau tan trong nước nóng, còn một chất gọi là coderacin.
[6]
Theo Trần Công Khánh, một tác giả người Trung Quốc đã phân lập từ
cây này được một số hợp chất, trong đó có 2 chất được xác định là
methylester dehydrochebulic và carboxylat methyl brevifolin.
Gần đây, trong công trình nghiên cứu khoa học về thành phần hóa học

mang virus viêm gan B được điều trị với liều hàng ngày 200 mg cao toàn
cây Diệp hạ châu đắng (bỏ rễ) trong 30 ngày. Kết quả, 22/37 (59%) bệnh
nhân được điều trị đã mất kháng nguyên bề mặt của viêm gan B trong khi
chỉ 1/23 (4%) bệnh nhân đối chứng có hiện tượng này. Một số đối tượng
được theo dõi 9 tháng không có trường hợp nào kháng nguyên bề mặt xuất
hiện trở lại. Không thấy có hoặc chỉ có ít tác dụng độc.
Toàn cây Diệp hạ châu đắng có tác dụng gây hạ đường máu, hạ áp và
lợi tiểu ở người. Cây cũng có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm.
Ba hoạt chất từ Diệp hạ châu đắng có tác dụng ức chế aldos reductase
là acid elargic, brefolin carboxylat và ethylbrevifolin; acid elargic có tác
dụng mạnh nhất, ức chế mạnh hơn 6 lần so với quereitrin là chất thiên nhiên
ức chế aldos reductase đã biết.
12
Nghiên cứu mới nhất của Viện Dược liệu về tác dụng dược lý của bột
phyllanthin cho thấy: Diệp hạ châu đắng có tác dụng bảo vệ gan trên mô
hình gây nhiễm độc bằng CCL
4
khi cho thỏ uống cao khô của cây Diệp hạ
châu đắng với liều 0,65 g/1kg/ngày kéo dài trong 18 ngày. Nghiên cứu cũng
khẳng định cao khô của cây Diệp hạ châu đắng có tác dụng chống viêm cấp
tốt khi cho thuốc bằng đường tiêm và đường uống, tuy nhiên đường tiêm có
tác dụng mạnh hơn đường uống. Thuốc có tác dụng chống xơ gan và
antioxydant. Khi sử dụng bột phyllanthin với liều lượng tương ứng 10g dược
liệu/kg/ngày uống liên tục 8 tuần có tác dụng bảo vệ gan tốt trên mô hình
gây xơ gan thực nghiệm 12 tuần. Về tác dụng chống antioxydant, thuốc đã
làm giảm peroxy hóa có ý nghĩa < 0,01 và hoạt tính chống oxy hóa của
thuốc là 29,76%. Với liều tính theo dược liệu khô 20 g/kg chuột cho thấy tác
dụng lợi tiểu khá rõ rệt. Đồng thời cũng khẳng định cao Diệp hạ châu đắng
có tính độc rất thấp, có độ an toàn cao trong việc sử dụng làm thuốc điều trị
cho người. [10]

làm thuốc trị dung giật và bệnh ngoài da. Ở Papua – Niu Ghine, nước hãm
toàn cây để trị đau đầu, hoặc trị nhức nửa đầu. Các thầy thuốc cổ truyền ở
Tanzania dùng cao nước thân lá của cây Diệp hạ châu đắng trị bệnh đái tháo
đường không phụ thuộc insulin. Ở Nigieria cao nước cây khô dược sử dụng
để trị tiêu chảy, lá nhai nuốt nước trị ho kéo dài, và sắc uống làm đỡ đau dạ
dày. Nhân dân bờ biển Nga uống nước sắc lá để làm đẻ dễ trong trường hợp
đẻ khó, trị vàng da, nôn, đau bụng, đau gian sườn, đau mình mẩy kèm theo
sốt và phù, đánh trống ngực, bệnh lậu, bệnh về da. [3]
15
2.3.2 Phyllanthus urinaria L.
2.3.2.1 Tác dụng dược lý
Theo Văn Chi, cây Chó đẻ răng cưa (Phyllanthus urinaria L.) với vị
ngọt, hơi đắng, tính mát có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông
huyết, điều kinh, thanh can, sáng mắt, làm se và hạ nhiệt. Người ta cũng
nhận thấy tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rõ rệt của acid phenolic và
flavonoid trong Chó đẻ răng cưa. Coderacin phân lập được từ cây dùng chế
thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, do khả năng tiêu diệt một số vi khuẩn,
nấm gây bệnh ở mắt [6]. Năm 1961, phòng Đông y – Viện vi trùng Việt
Nam nghiên cứu tác dụng kháng sinh của Chó đẻ răng cưa thấy kết quả cho
kháng sinh đồ như sau: Tụ cầu trùng (0,5), Typhi (0,9), Flexneri (1,1),
Sonnei (0), Shiga (1), Subtilis (0,4), Coli (0) cm. Kết quả này cũng hợp với
nghiên cứu mới đây (1995) chứng minh dịch chiết n – hexan của P. urinaria
có tác dụng kháng lại tất cả các loại vi khuẩn thử Proteus vulgaris,
Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Klebsiella preumonie, những vi
khuẩn thường tìm thấy ở đường tiết niệu. Còn dịch chiết dichlomethal thì
kháng Proteus vulgaris, Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Volorio
paranaemoliticus. Điều này cho thấy P. urinaria cũng rất hiệu quả trong điều
trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu.
16
Theo Huang ST và cs., sự chết tế bào theo chương trình hiện được

vàng da, trĩ và lỵ. Cây non dùng làm thuốc chữa ho cho trẻ em.
2.4 Một số bài thuốc có sử dụng diệp hạ châu
2.4.1 Phyllanthus amarus Schum. & Thonn.
Trị vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn: Diệp hạ châu đắng 20 – 40g cây
tươi, giã lấy nước hoặc 6 – 8g, sắc uống
Trị mụn nhọn, lở ngứa: Cả cây Diệp hạ châu giã đắp hoặc lấy nước
cốt bôi
18
Trị viêm gan do virus B: Diệp hạ châu đắng 10g, nghệ vàng 5g, sắc
nước 3 lần, lần đầu với 3 bát nước lấy 1 bát thuốc. Lần thứ hai và ba với 2
bát nước, mỗi lần lấy nữa bát thuốc. Trộn chung rồi thêm 50g đường, đun
sôi cho tan đường, chia làm 4 lần uống trong ngày – sau 15 ngày dùng thuốc
xét nghiệm lại, khi kết quả xét nghiệm máu đạt HbgAg (-) thì thôi dùng
thuốc.
Trị suy gan (do sốt rét, lỵ amib, ứ mặt nhiễm độc): Diệp hạ châu đắng
sao khô( 20g), cam thảo đất sao khô (20g). Hai vị bỏ chung sắc nước uống
hàng ngày
Trị xơ gan cổ trướng thể nặng: Diệp hạ châu đắng 100g sắc nước 3
lần, cho thêm 150g đường, chia nhiều lần uống trong ngày (thuốc rất đắng,
uống một đợt từ 30 – 40 ngày, nghỉ một tuần, nếu chưa khỏi uống tiếp đợt
2), phải kiên trì uống mới thấy được tác dụng của thuốc
2.4.2 Phyllanthus urinaria L.
Trị nhọt độc, sưng đau: Trộn chó đẻ răng cưa với một ít muối giã nhỏ,
chế nước sôi vào, vắt lấy nước cốt uống, bã đắp chỗ đau
Trị mắt đau sưng đỏ, viêm gan vàng da, viêm thận đái đỏ, hoặc viêm
ruột đi ngoài ra nước: Chó đẻ răng cưa 40g, Mã đề 20g, Dành dành 12g sắc
uống
Trị lở loét thối thịt không liền miệng: Dùng lá chó đẻ răng cưa, lá
Thồm thồm, liều bằng nhau, Đinh hương 1 nụ, giã nhỏ đắp
19

gây hại cao nhất trong giai đoạn sinh trưởng mạnh của cây (tháng 4, tháng
5).
Có tổng số 3 loại bệnh gây hại: Lở cổ rễ, vàng lá sinh lý, phấn trắng,
trong đó bệnh phấn trắng gây hại ở mức độ phổ biến cao. Bệnh xuất hiện
từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm trên diện tích vụ đông muộn.
Phòng trừ sâu cuốn lá bằng biện pháp thủ công cho thấy: Hiệu quả
phòng trừ đạt 81,1% ở 10 ngày sau khi tiến hành bắt sâu 2 lần (thích hợp
với diện tích sản xuất không quá lớn). Khi sử dụng thuốc hóa học Sherpa
50EC trong phòng trừ sâu cuốn lá ta thấy thuốc có hiệu lực 76,66%, áp
dụng khi diện tích sản xuất đủ lớn
Phòng trừ bệnh phấn trắng bằng thuốc Dacolin có hiệu lực 77,66%
21
ngay sau khi phun 7 ngày, thu hoạch dược liệu sau khi phun 20 ngày.[21]
2.7 Tình hình sản xuất và tiêu thụ
Hiện nay có nhiều loại thuốc và biệt dược đã được sản xuất mà
thành phần của nó có chứa hoạt chất của các cây thuộc chi Phyllanthus.
Có thể kể đến một số sản phẩm như sau:
Thuốc điều trị viêm gan FENLINAT của Trung tâm dược thuộc
tổng công ty Dược phối hợp với công ty CPDP Hà Tây sản xuất. Được biết
FENLINAT là loại thuốc được chiết xuất với công nghệ kỹ thuật cao từ
các loại cây cỏ Việt Nam, đặc biệt trong đó có thành phần rất quan trọng
được chiết xuất từ cây Diệp hạ châu (Phyllanthus urinaria) và Nấm Linh
Chi (Ganoderma lucidum) có tác dụng ức chế nhân đôi ADN của virus
viêm gan siêu vi B mạn tính. FENLINAT được Cục quản lý Dược Việt
Nam cấp số đăng ký lưu hành trên toàn quốc từ tháng 09/2005 và được
bán với giá 1.850VND/viên [27]
Thuốc VG-5, chứa tinh chất Diệp hạ châu, tinh chất nhân trần, cỏ
nhọ nồi và tinh chất râu ngô. Có tác dụng ức chế virus viêm gan B, làm
giảm HbsAg, HbeAg huyết thanh trong viêm gan; bảo vệ và phục hồi chức
năng gan, tăng khả năng giải độc của gan, hạ men gan; chống viêm gan,

Viện Dược liệu, cây diệp hạ châu (P. amarus) sau khi trồng khoảng 3
tháng có thể thu hoạch. Cây thường được thu vào buổi sáng, dùng liềm cắt
sát gốc. Sau khi thu toàn bộ cây được chặt thành đoạn dài 5 – 10 cm, đem
phơi dưới ánh nắng mặt trời khoảng 3 – 4 nắng cho khô kiệt. Sản phẩm
được đóng bao và bán cho các cơ sở sản xuất hoặc bán trực tiếp cho người
tiêu dùng. Giá bán giao động từ 60.000 – 150.000VNĐ/1kg
2.8 Một số nghiên cứu xác định mật độ trồng đối với cây dược liệu
Theo Hà Thị Thanh Bình và cộng sự (2002), cho rằng mật độ gieo trồng
với mật độ nhất định liên quan tới yếu tố cấu thành năng suất. Ở mật độ thích
hợp tạo điều kiện đồng đều cho các cá thể phát huy hết khả năng sinh trưởng,
phát triển thuận lợi cho năng suất cao. Điều này được quyết định bởi quang hợp
của quần thể. Cường độ quang hợp của quần thể chịu sự chi phối của cường độ
ánh sáng. Vì vậy việc quyết định mật độ gieo trồng có ý nghĩa trong việc sử
dụng ánh sáng. Do đó, trong quá trình trồng trọt con người cần điều khiển hoạt
động quang hợp bằng cách bố trí mật độ cây trồng một cách hợp lý
Viện Dược liệu khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng bạch chỉ
tại Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội đã có nhận
24
xét: Với mật độ 25 vạn cây/ha là thích hợp nhất, năng suất dược liệu cao
nhất đạt 3,16 kg/ô thí nghiệm.
Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội thuộc - Viện
Dược liệu tiến hành thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng
suất và chất lượng lá thanh cao trong 3 năm từ 1997 đến 1999. Kết quả cho
thấy với mật độ khoảng 16,6 vạn cây/ha không những cho năng suất lá, năng
suất Artemisinin cao nhất mà cả hàm lượng Artemisinin cũng khá nhất.
Khi tiến hành thí nghiệm mật độ trồng tục đoạn tại SaPa (Lào Cai),
Nguyễn Bá Hoạt – Viện Dược liệu cho rằng khối lượng củ Tục đoạn trên 1
cây có chiều hướng tăng dần từ mật độ trồng dày đến mật độ trồng thưa
nhưng năng suất thì có chiều hướng ngược lại. Tuy nhiên, với mật độ 12,5
vạn cây/ha cho năng suất cao nhất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status