Phát huy vai trò của giáo dục trung học chuyên nghiệp dạy nghề với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


NGUYỄN ĐỨC KHIÊM

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP -
DẠY NGHỀ VỚI SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG
TRUNG HỌC CHUYÊN NGHIỆP - DẠY NGHỀ Ở TỈNH VĨNH PHÚC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 60 22 85
Người hướng dẫn khoa học học: PGS, TS. NGÔ NGỌC THẮNG
HÀ NỘI - 2009
MỤC LỤC
Mở đầu 1
Chương 1. Giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề và vai trò
của nó đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
hiện nay 8
1.1. Khái niệm và đặc điểm của giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy
nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay 8
1.2. Vai trò của giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề với sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 39
Chương 2. Thực trạng phát huy vai trò của giáo dục Trung học chuyên
nghiệp - Dạy nghề ở tỉnh Vĩnh Phúc 53
2.1. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc 53

USD: Đô la Mỹ

1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng nguồn lực con người là một trong những vấn đề cốt lõi
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ngày nay, dường như
bất cứ quốc gia nào cũng đều nhận thức rõ nguồn lực con người là nhân tố quyết
định sự phát triển kinh tế - xã hội của mình.
Các nhà kinh tế hiện nay đều khẳng định: đầu tư cho nguồn lực con người
thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, được xem là hoạt
động đầu tư có hiệu quả và đóng vai trò quyết định tới khả năng tăng trưởng kinh tế
nhanh, bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đã có các
chính sách khác nhau để nâng cao chất lượng nguồn lực con người phục vụ sự
nghiệp phát triển con người và nguồn lực con người, phát triển kinh tế - xã hội mà
trọng tâm là chính sách giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo, trong đó có giáo
dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề (giáo dục nghề nghiệp) được coi là một
trong những chính sách quan trọng. Cùng với nền giáo dục quốc dân, giáo dục
Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề (THCN - DN) góp phần làm tăng giá trị toàn
diện của con người và những năng lực nghề nghiệp, giúp cho mỗi con người phát
triển và tự khẳng định mình trong cuộc sống.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự phân công lao động xã hội trong khu vực và
quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng quyết liệt
hơn, vũ khí có hiệu quả nhất trong cuộc cạnh tranh này là phát huy tối đa nguồn lực
con người, đặc biệt là nguồn nhân lực đã qua đào tạo. Bởi vậy, chỉ có nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực thông qua hoạt động giáo dục và đào tạo thì mới có thể tận
dụng được tối đa những cơ hội của toàn cầu hoá để phát triển đất nước một cách

rộng, trở thành xu thế tất yếu. Hơn nữa, Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) - Tổ chức kinh tế lớn nhất hành tinh, đòi hỏi
người lao động phải có tay nghề cao với một nền tảng học vấn vững chắc thì mới
bắt kịp với nền kinh tế tri thức, kinh tế ứng dụng.

3
Giáo dục THCN - DN ở nước ta nói chung, ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng trong
thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, nhìn chung còn
nhiều yếu kém, bất cập chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chất lượng
nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước nói chung, của tỉnh nói
riêng và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Những biểu hiện cụ thể của sự yếu kém,
bất cập của giáo dục THCN - DN hiện nay như: Chất lượng đào tạo thấp, học chưa
gắn với hành, nhân lực được đào tạo yếu về năng lực, phẩm chất; Mục tiêu, nội
dung, phương pháp và tổ chức quá trình đào tạo chậm đổi mới hoặc không đồng bộ;
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý vừa thiếu lại vừa yếu; Thiếu nghiêm trọng đội
ngũ chuyên gia nghiên cứu và thiết kế chiến lược, chính sách cho giáo dục THCN -
DN; Mạng lưới các trường THCN - DN không chỉ bị tách rời với các viện nghiên
cứu, mà còn tách biệt hẳn với các khu công nghiệp, khu chế xuất và nhà tuyển
dụng. Cơ chế, chính sách và năng lực thực hiện bất cập, thêm vào đó là tâm lý, thái
độ của xã hội đối với vấn đề giáo dục THCN - DN. Các bậc phụ huynh, nói rộng
hơn là toàn xã hội chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về giáo dục THCN - DN cũng
như vai trò của nó trong hệ thống giáo dục quốc dân. Chính vì vậy, Hội nghị lần thứ
Chín Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX chỉ rõ: “Tiếp tục triển khai trong
thực tiễn quan điểm phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc
sách hàng đầu, Tập trung chỉ đạo quyết liệt và nâng cao rõ rệt chất lượng giáo dục
và đào tạo nguồn nhân lực [16, tr.127]. Nghị quyết Đại hội Đảng X một lần nữa
nhấn mạnh: “Đa dạng hoá các loại hình nghề nghiệp, phát triển nhanh hình thức đào
tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại. Tăng nhanh tỷ lệ lao động được qua đào tạo
nghề.
Mục tiêu đề ra là: trong 5 năm tới dạy nghề cho 7,5 đến 8 triệu lao động

Nhà nước ta coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Mặc dù vậy, những bài
viết, những công trình nghiên cứu đó mới chủ yếu tập trung vào khai thác vai trò
của giáo dục và đào tạo ở bậc giáo dục đại học và cao đẳng, trong khi đó, việc phát

5
triển kinh tế - xã hội gắn giáo dục với sử dụng nguồn nhân lực không chỉ dừng lại ở
giáo dục đại học và cao đẳng, mà còn bao hàm cả giáo dục THCN - DN.
Vấn đề giáo dục THCN - DN cũng đã có một số bài viết, công trình nghiên
cứu được đăng tải trên các sách, báo và tạp chí khoa học khác nhau: PGS.TS Phạm
Đức với bài: “Một số suy nghĩ về vai trò của giáo dục và đào tạo trong việc phát
triển nguồn nhân lực”(Tạp chí Triết học, số 6/2000); GS.TSKH Trần Văn Nhung
và TS.Trần Khánh Đức với bài:“Vấn đề phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông
tin” (Tạp chí Cộng sản, số 11/04/2002); tác giả Linh Đan với bài “Hướng ra cho
trường nghề” (Tạp chí Giáo dục và Thời đại, số 35/2007); ThS Vương Tiến Dũng
với bài viết“Mối liên hệ giữa công tác đào tạo của nhà trường với việc sử dụng
nguồn nhân lực ở cơ sở sản xuất kinh doanh” (Tạp chí Giáo dục, số 111/2005);
PGS, TS Nguyễn Viết Sự với bài: “Phát triển giáo dục học nghề nghiệp đáp ứng
quá trình đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
nước ta” (Tạp chí Giáo dục, số 17/2001); Tác giả Nguyễn Quang Huỳnh với cuốn
sách“Cơ sở kinh tế - xã hội và một số vấn đề giáo dục đại học và chuyên nghiệp
của Việt Nam đầu thế kỷ XXI”, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003; GS Phạm Thế
Trường với bài:“Mối quan hệ giữa hệ thống giáo dục quốc dân với phát triển thị
trường lao động Việt Nam” (Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội 2004); TS Hoàng Hoa Cương
với bài:“Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nhu cầu phát triển đội ngũ lao
động kỹ thuật ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới” (Đặc
san Đào tạo nghề, năm 2003); tác giả Lan Hương với bài:“Việt Nam đang thiếu
nhân lực có chất lượng cao” (Dân trí. Com.vn/7/2008); tác giả Đức Bình với
bài:“Vòng luẩn quẩn của đào tạo nghề” (Báo Lao động, ra thứ Hai, ngày 07/10/08,
số 231); GS.VS Nguyễn Cảnh Toàn với bài: “Giáo dục Việt Nam tầm nhìn 2020”
(Giáo dục và Thời đại, số 15, ra ngày 3/2/2009), Những công trình, những bài viết

nghĩa duy vật lịch sử, Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
Đảng Cộng sản Việt Nam về Giáo dục và Đào tạo, đồng thời tiếp thu kết quả của

7
các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài. Luận văn sử dụng một số phương
pháp như: Phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, lôgíc và lịch sử, thống kê và
hệ thống hoá.
6. Đóng góp và ý nghĩa của luận văn
+ Làm rõ vai trò của giáo dục THCN-DN với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước
ta hiện nay nói chung, ở tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
+ Đề xuất được một hệ thống các giải pháp nhằm phát huy vai trò của giáo
dục THCN- DN với sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta và ở tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay.
+ Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu
và giảng dạy lý luận chính trị trong các nhà trường. Đồng thời, luận văn cũng có thể
làm tài liệu tham khảo cho những người làm công tác quản lý và những ai quan tâm
đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 6 tiết:
Chương 1: Giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề và vai trò của nó
đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng phát huy vai trò của giáo dục Trung học chuyên
nghiệp - Dạy nghề ở tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 2: Quan điểm chỉ đạo và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của
giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy ở ở tỉnh Vĩnh Phúc.

9
người, sáng tạo ra con người và là cơ sở cho sự phát triển của xã hội loài người. Lao
động chính là tiền đề, là cơ sở đặt nền móng làm xuất hiện nghề trong xã hội loài
người.
Trong quá trình lao động xã hội, để tăng năng suất lao động và hiệu quả lao
động đã xuất hiện sự chuyên môn hoá và sự định hình lâu dài của mỗi người. Điều
này đưa tới sự phát triển đa dạng, phong phú của nghề. Nghề xuất hiện trong xã hội
nhằm thoả mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ
và cộng đồng. Những yêu cầu về mặt số lượng, chất lượng sản phẩm của lao động
đòi hỏi người lao động phải có kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thái độ lao
động. Do đó, buộc con người muốn hoạt động được trong nghề phải được đào tạo,
học hỏi. Tức là, người lao động trong nghề đã phát triển từ cái giản đơn đến cái
phức tạp, từ lao động cá nhân đến lao động mang tính tập thể, cộng đồng trong mối
quan hệ xã hội chặt chẽ với nhau. Các nghề xã hội ngày càng phong phú, đa dạng
như: nghề đan lát, nghề cắt tóc, gội đầu, nghề trang điểm, thậm chí, trong xã hội
hiện đại, đi làm thuê, giúp việc cũng gọi là một nghề, đến các nghề phức tạp như:
nghề sửa chữa ô tô, xe máy, nghề trồng hoa cây cảnh, Trong xã hội có hàng ngàn,
hàng vạn nghề và loại nghề khác nhau ở mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội, đó là
các nghề của xã hội.
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ Trung học chuyên nghiệp có nghĩa là:
“Tổ chức giáo dục nghề nghiệp dành cho người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở
hoặc trung học phổ thông” [68, tr.1049]; Thuật ngữ dạy nghề có nghĩa là: “Truyền
lại tri thức hoặc kỹ năng một cách ít nhiều có hệ thống, có phương pháp” [68,
tr.244]. Điều 5, Luật Dạy nghề giải thích: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm
trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để
có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [40,
tr.5].



11
Dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có
năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo” [42, tr.25-26].
Vấn đề hết sức cấp thiết của chúng ta trong giai đoạn hiện nay là cần đánh
giá thực trạng của giáo dục THCN - DN, dự báo được xu thế phát triển của nó trong
5 - 10 năm tới và lâu hơn nữa, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia có nền
giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới về vấn đề này. Trên cơ sở đó, đề
xuất được các giải pháp vừa ở tầm vĩ mô về quan điểm, chính sách, chiến lược, vừa
ở tầm vi mô để đổi mới quá trình đào tạo THCN - DN, cũng như những điều kiện
để đảm bảo chất lượng đào tạo ở từng ngành, từng lĩnh vực, từng khu vực và từng
cơ sở đào tạo.
Sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đang có những bước chuyển biến
mạnh mẽ theo hướng CNH, HĐH với nhiều tác động như: xu thế toàn cầu hoá, sự
phát triển như vũ bão của tiến bộ khoa học, công nghệ, chính sách rộng mở giao lưu
với các nước trong khu vực và trên thế giới trong lĩnh vực sản xuất - dịch vụ, Sự
phát triển của kinh tế - xã hội, đòi hỏi phải đáp ứng một lực lượng lao động kỹ thuật
mới có năng lực cao, cơ cấu ngành nghề đa dạng và quy mô phát triển phù hợp về
ngành, nghề, vùng, miền theo yêu cầu mới của thị trường lao động trong và ngoài
nước.
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo đã khẳng định: “Tạo bước chuyển
biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế
giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước; của từng vùng, từng địa phương; hướng tới một xã hội học tập.
Phấn đấu đưa nền giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một số lĩnh vực
so với các nước phát triển trong khu vực. Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân
lực, đặc biệt chú trọng đào tạo nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ
quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Trong Chiến lược, còn đặc biệt quan tâm đến
việc nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tác

- Đặc điểm của giáo dục Trung học chuyên nghiệp - Dạy nghề trong hệ
thống giáo dục quốc dân.

13
Đặc điểm nổi bật của giáo dục THCN - DN là tập trung đào tạo người lao
động có kỹ năng, kỹ xảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết. Vì vậy, vấn đề
dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo
của các trường THCN - DN.
Trường THCN - DN là các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được thực hiện từ 3
đến 4 năm đối với người có bằng trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, dưới một năm đối với đào tạo nghề trình độ sơ
cấp, từ một đến ba năm đối với đào tạo nghề trung cấp, cao đẳng và thực hiện mục
tiêu: Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ sơ cấp,
trung cấp hoặc cao đẳng. Người ra trường đạt trình độ sơ cấp có tên gọi công nhân
bán lành nghề, đạt trình độ trung cấp với tên gọi kỹ thuật viên (trung cấp) hoặc nhân
viên nghiệp vụ trung cấp. Họ là những người trực tiếp sản xuất - dịch vụ với cương
vị tổ trưởng tổ sản xuất, đội trưởng sản xuất hoặc nhóm trưởng sản xuất - dịch vụ
(trình độ trung học chuyên nghiệp trở lên), tức là họ vừa có nhiệm vụ trực tiếp hành
nghề, vừa có vai trò quản lý, tổ chức trong phạm vi quy định. Đồng thời, có mối
quan hệ với công nhân, nhân viên hoạt động nghề trực tiếp với các kỹ sư hoặc lãnh
đạo cấp cao hơn trong đơn vị như: quản đốc phân xưởng, trưởng, phó phòng hoặc
ban sản xuất dịch vụ
Chính từ những yêu cầu và mục tiêu đào tạo của trường THCN - DN đã đặt
ra nội dung, đặc điểm giáo dục của nó khác biệt so với các loại hình giáo dục khác.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay đã làm nảy sinh nhiều đòi hỏi về ngành nghề, về
năng lực của người kỹ thuật viên, nhân viên nghiệp vụ. Những nét khác biệt này thể
hiện cho mọi loại hình giáo dục ở cấp trình độ xác định, có nét chung cho mọi quốc
gia và có đặc thù gắn với điều kiện đào tạo của Việt Nam.
Điều 34, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2005 của nước ta đã nêu rõ yêu cầu về
nội dung đào tạo, phương pháp giáo dục nghề nghiệp: “Nội dung giáo dục nghề

trong quá trình hình thành lòng yêu nghề, động cơ học nghề, đạo đức, lối sống và
tác phong hoạt động trong nghề cũng như trong mọi hoạt động xã hội của các em.

15
Nhận thức sâu sắc đặc điểm về tâm, sinh lý của học sinh trong trường THCN
- DN, từ đó có thể xác định và đưa ra phương pháp tác động, phương pháp giáo dục
cho phù hợp nhằm phát huy cao nhất chất lượng của quá trình đào tạo, giáo dục.
Điều đó, cũng có nghĩa là tạo ra điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng giáo dục
nói riêng, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của đất
nước nói chung. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần phải quan tâm tới xu
hướng gia tăng trí tuệ, sự phát triển nhanh về mọi mặt của thế hệ trẻ (tâm lý, sinh lý,
thể lực, khả năng nhận thức và thích ứng với cái mới, ) cũng như xu thế tăng tốc
về thông tin và sự rộng mở của thị trường lao động khu vực và thế giới.
Trên cơ sở phân tích các nét đặc điểm về nội dung đào tạo, đặc điểm về lao
động nghề nghiệp sau khi rời khỏi trường THCN - DN, cũng như đặc điểm về tâm
lý, sinh lý của các em ta có thể nhận thấy phương pháp giáo dục trong trường
THCN - DN là sự kết hợp song trùng giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề
nghiệp, sự tích hợp biện chứng giữa dạy lý thuyết và dạy thực hành nhằm hướng tới
hình thành kỹ năng vận dụng lý thuyết vào thực tiễn và phát triển kỹ năng lao động
nghề nghiệp là đặc điểm nổi bật của giáo dục THCN - DN.
Điều 34, Luật Giáo dục sửa đổi 2005 xác định: “Phương pháp giáo dục nghề
nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹ năng thực hành với giảng dạy lý thuyết để giúp
người học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu của từng
công việc” [42, tr.26].
Như vậy, giáo dục THCN - DN có các đặc điểm sau:
+ Gắn chặt với yêu cầu về năng lực, phẩm chất nghề nghiệp của thị trường
việc làm thông qua các lĩnh vực, ngành nghề và thuộc các vùng, các địa phương.
Những đòi hỏi cụ thể ấy phải được hệ thống giáo THCN - DN quán triệt để tiến
hành xây dựng mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo nhằm đạt hiệu quả tối ưu
nhất, cung cấp cho thị trường lao động những “sản phẩm” tốt nhất, đáp ứng đúng,


17
đào tạo đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và sự phát triển nhân cách của con
người.
C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I.Lênin khi thừa nhận vai trò quyết định của nhân
tố kinh tế - xã hội trong việc hình thành con người và nhân cách con người đều
đồng thời khẳng định: con người là chủ thể của lịch sử, là lực lượng tự giác, tích
cực, sáng tạo ra lịch sử. Nghĩa là, con người là sản phẩm của lịch sử, của hoàn cảnh
sống, nhưng chính bản thân con người lại làm thay đổi hoàn cảnh, thay đổi môi
trường sống. C.Mác - Ph.Ăngghen cho rằng: Bản thân xã hội tạo ra con người với
tính cách như thế nào thì nó cũng sản xuất ra xã hội như thế ấy.
Trong Luận cương thứ III về Phoiơbắc, C.Mác viết: “Cái học thuyết duy vật
cho rằng con người là sản phẩm của những hoàn cảnh và của giáo dục, rằng do đó
con người đã biến đổi là sản phẩm của những hoàn cảnh khác và của một nền giáo
dục đã thay đổi, cái học thuyết ấy quên rằng chính những con làm thay đổi hoàn
cảnh và bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục, Sự phù hợp giữa sự
thay đổi của hoàn cảnh với hoạt động của con người,chỉ có thể được quan niệm và
được hiểu một cách hợp lý khi coi đó là thực tiễn cách mạng” [44, tr.10].
Tư tưởng này cho thấy C.Mác không chỉ ủng hộ triệt để tư tưởng phát triển
toàn diện về nhân cách con người, mà đồng thời còn chứng minh một cách khoa học
tính tất yếu khách quan của nó và ông cũng chính là một trong những người đầu
tiên nêu lên con đường thực hiện nó trong thực tiễn đời sống xã hội, gắn việc đào
tạo con người, phát triển hài hoà, toàn diện con người với việc xây dựng xã hội mới.
Luận giải các quy luật phát triển của lực lượng sản xuất, C.Mác-Ph.Ăngghen
đã khẳng định rằng, chính sự phân công lao động xã hội đã làm cho con người phát
triển toàn diện, làm nảy sinh việc phân công lao động trí óc và lao động chân tay
trong lịch sử xã hội loài người. Khi đưa ra dự báo về bức tranh của nền sản xuất
hiện đại trong tương lai, hai ông cho rằng nó sẽ phát triển theo hai hướng:
Một là: Sự chuyên môn hoá ngày càng hẹp trong sản xuất sẽ làm cho tính
phiến diện trong lao động của mỗi con người ngày càng tăng lên;


19
Đồng quan điểm với Ph.Ăngghen, C.Mác khẳng định: “Những người công dân tiên
tiến nhất cũng hoàn toàn nhận thức được rằng tương lai của giai cấp họ, và do đó,
của cả loài người, hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn
lên” [46, tr.262].
C.Mác còn khẳng định: “Nền giáo dục tương lai, nó sẽ kết hợp lao động sản
xuất với trí dục và thể dục đối với tất cả những trẻ em trên một lứa tuổi nào đấy, coi
đó không chỉ là một phương pháp để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội mà còn là
một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện
nữa” [47, tr.688].
Như vậy, C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập đến nội dung giáo dục một cách toàn
diện, bao gồm: giáo dục thể lực, trí lực, khoa học kỹ, thuật tổng hợp và giáo dục gắn
liền với lao động sản xuất, tức là nội dung giáo dục bao gồm các mặt: trí, đức, thể
mỹ và giáo dục nghề nghiệp. Đồng thời, đã chứng minh một cách khoa học rằng, sự
phát triển toàn diện, phát triển mọi khả năng tiềm tàng của con người nhờ giáo dục
và đào tạo là yếu tố quyết định sự phát triển xã hội: “Việc kết hợp giữa lao động sản
xuất được trả công, giáo dục trí lực, giáo dục thể lực và giáo dục kỹ thuật tổng hợp
sẽ nâng giai cấp công nhân lên cao hơn rất nhiều so với trình độ của giai cấp quý
tộc và tư sản” [46, tr.263].
- Quan điểm của V.I.Lênin về giáo dục và đào tạo
V.I.Lênin đã kế thừa, vận dụng và phát triển những tư tưởng của C.Mác và
Ph.Ăngghen về giáo dục và đào tạo trong thực tiễn cách mạng nước Nga, trong bối
cảnh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga vào những thập niên đầu của thế kỷ
XX. Tại Đại hội Toàn Nga về công tác giáo dục lần thứ nhất diễn ra vào ngày
28/8/1918, V.I.Lênin đã khẳng định vai trò to lớn của công tác giáo dục, coi đó là
một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thắng lợi trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nói: “Sự nghiệp của nhà trường chúng ta cũng là đấu
tranh đánh đổ giai cấp tư sản; chúng ta tuyên bố công khai rằng: nói nhà trường
đứng ngoài cuộc sống, ngoài chính trị, là nối dối và lừa bịp”; “Những người lao


21
bám sát với thực tiễn cuộc sống, giáo dục và đào tạo phải trở thành đòn bẩy, thành
công cụ, thành nguồn nội lực bên trong của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Tư tưởng giáo dục tổng hợp là tư tưởng giáo dục có ý nghĩa hết sức to lớn
đối với thời kỳ CNH, HĐH ở Nga. Cuối năm 1920, khi nhận xét bản “Đề cương báo
cáo về giáo dục” của Crúpxcaia, V.I.Lênin viết: Bất cứ trong hoàn cảnh nào, chúng
ta phải phải mau chóng từng bước chuyển sang giáo dục kỹ thuật tổng hợp để
mang lại cho học sinh một tầm nhìn kỹ thuật tổng hợp và các tri thức cơ bản ban
đầu của giáo dục kỹ thuật tổng hợp, cụ thể là các bài giảng về điện, điện khí hoá,
về nông học, về hoá học. Kết hợp với tham quan nhà máy, nhất là nhà máy điện,
nông trường, bảo tàng kỹ thuật, Tư tưởng này thực hiện trong thực tế, xuất phát từ
nguyên lý giáo dục kết hợp với lao động sản xuất do C.Mác và Ph.Ăngghen tổng
kết thời kỳ đầu cách mạng công nghiệp. V.I.Lênin và các nhà giáo dục Nga đã đưa
lên thành nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa ở nước Nga, chỉ đạo
việc tổ chức nhà trường và tiến hành hoạt động giáo dục, giảng dạy. Từ đó, tất cả
các trường phổ thông đều mang tính chất giáo dục lao động và giáo dục kỹ thuật
tổng hợp.
Bên cạnh những quan điểm về giáo dục và đào tạo nêu trên, V.I.Lênin còn
đưa ra khẩu hiệu nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi!”, đã trở thành khẩu hiệu, thành
câu châm ngôn của hàng triệu, triệu các thế hệ không chỉ của nền giáo dục ở Nga,
mà còn là khẩu hiệu của nền giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có
Việt Nam.
Như vậy, cả C.Mác. Ph.Ănghen và V.I.Lênin đều khẳng định vai trò to lớn
của giáo dục và đào tạo đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động
trở lại của phát triển kinh tế - xã hội đối với giáo dục và đào tạo, chỉ rõ ý nghĩa lớn
lao và vai trò quyết định của giáo dục và đào tạo đối với việc phát triển con người,
nguồn lực con nói chung và sự nghiệp CNH, HĐH của mỗi quốc gia nói riêng.
Những quan điểm ấy có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn đối với sự nghiệp giáo
dục và đào tạo của các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng thành công chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status