Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa ở tỉnh Phú Thọ - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

ĐỖ THỊ THU HUYỀN
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC



Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. BÙI THỊ NGỌC LAN
HÀ NỘI - 2012
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chương 1. NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÔNG
NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐẶC ĐIỂM CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH PHÚ THỌ 9
1.1. Nguồn lực con người trong mối quan hệ với công nghiệp hóa, hiện đại
hóa 9
1.1.1. Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực con
người 9
1.1.2. Mối quan hệ giữa nguồn lực con người và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa 18
1.2. Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ và đặc điểm công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của tỉnh 23
1.2.1. Vài nét khái quát về tỉnh Phú Thọ 23
1.2.2. Đặc điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh Phú Thọ 26
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC CON NGƯỜI Ở TỈNH
PHÚ THỌ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 35
2.1.
Đặc điểm về số lượng, chất lượng và phân bố nguồn lực con người ở
tỉnh

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT

CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GD-ĐT: Giáo dục - đào tạo
KH-CN: Khoa học - công nghệ
NLCN: Nguồn lực con người
USD: Đô la Mỹ
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, để phát triển kinh tế - xã hội,
mỗi quốc gia phải chú ý đến các nguồn lực của mình. Trong đó, con người
được coi là nguồn lực cơ bản nhất của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi
tài nguyên, giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá (CNH, HĐH). Vì vậy, việc đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và phát triển
nguồn lực con người (NLCN) được coi là một trong những nhân tố quyết định
sự phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó.
Tại Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Phát huy tối đa
nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu
của sự phát triển” [20, tr.30]. Từ trên quan điểm này, Đảng xác định một
trong ba khâu đột phá để phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2020 là
“phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết
chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công

tế - xã hội của tỉnh nói chung.
Trước thực tế đó, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII,
(nhiệm kỳ 2010 - 2015) đã thấy rõ sự cần thiết phải đầu tư phát triển nguồn
nhân lực của tỉnh, kết hợp với khai thác các lợi thế, tiềm năng để đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng đến năm 2020 Phú Thọ
trở thành tỉnh công nghiệp. Đại hội cũng xác định, một trong ba khâu đột phá
để phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới là đào tạo, phát triển
nguồn nhân lực để khai thông những điểm “nghẽn”, tạo động lực cho sự phát
triển mạnh mẽ của tỉnh trong những năm tới. Đó là lý do để tôi chọn vấn đề:

3
“Phát triển nguồn lực con người trong quá trình CNH, HĐH ở tỉnh Phú Thọ”
làm đề tài của luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về NLCN và phát triển nguồn lực con người trong quá
trình CNH, HĐH là đề tài đã được nhiều học giả quan tâm chú ý. Liên quan
đến chủ đề, đã có nhiều công trình nghiên cứu, tiêu biểu là:
- Mai Quốc Chánh, “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” - Nxb CTQG, H., 1999. Trong
cuốn sách này, tác giả đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và sự cần thiết
phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.
- Phạm Minh Hạc, “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa” - Nxb CTQG, H., 2001. Cuốn sách trình bày
khái quát lịch sử hình thành và phát triển của ngành khoa học xã hội nghiên
cứu về con người, nêu ra một số kết quả đạt được trong chương trình nghiên
cứu con người và nguồn nhân lực, trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống giải pháp
nhằm phát triển toàn diện con người và nguồn nhân lực Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay.

rõ quan niệm nguồn nhân lực chất lượng cao, mối quan hệ giữa phát triển
kinh tế tri thức với nguồn nhân lực chất lượng cao; đánh giá khái quát thực
trạng và xu hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam,
trên cơ sở đó đề ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
Việt Nam
Nhìn chung, tuy khai thác ở những khía cạnh, những mảng khác nhau,
song các tác giả đều khẳng định sự cần thiết phải phát triển nguồn lực con
người; từ đó đánh giá thực trạng, đề xuất các phương hướng, giải pháp phát

5
triển nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu của qúa trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngoài các ấn phẩm được đề cập dưới dạng sách ở trên, liên quan đến đề
tài còn có các bài báo, tạp chí khác nhau:
- Nguyễn Hữu Dũng, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” - Tạp
chí Lý luận chính trị, số 8/2002. Trong nghiên cứu, tác giả đã nêu ra quan
niệm của mình về nguồn nhân lực chất lượng cao và đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực này ở nước ta trong thời kỳ mới.
- Đặng Hữu, “Đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa dựa trên tri thức ở nước ta hiện nay” - Tạp chí Cộng sản, số
4/2005. Tác giả làm rõ sự cần thiết phải nâng cao chất lượng của nguồn nhân
lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện mới, từ đó nêu ra một số giải pháp để thực hiện vấn đề này.
- Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại Phú Thọ, http://tin
tuc.xalo.vn. Phú Thọ: Nghiên cứu các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, Sở khoa học và công nghệ Phú Thọ (Theo
báo mới.com). Các bài viết trên đề cập đến thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh
Phú Thọ trước yêu cầu hội nhập quốc tế. Bài viết khẳng định nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh còn thiếu về số lượng, yếu về

những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực này trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa của tỉnh.
- Đề xuất những quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn
lực con người của tỉnh, đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Phú Thọ
4. Đối tƣợng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng của luận văn
Nguồn lực con người trong độ tuổi lao động ở tỉnh Phú Thọ.

7
4.2. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu thực trạng nguồn lực con người trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (từ năm 1997 cho
đến nay, năm tách tỉnh Vĩnh Phú thành Phú Thọ và Vĩnh Phúc), đồng thời
tham khảo số liệu của các Sở, Ban, Ngành có liên quan.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt
Nam về con người và nguồn lực con người, kết hợp với chủ trương, chính
sách của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ về các vấn đề có liên
quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
lôgíc - lịch sử; kết hợp với các phương pháp khác như phân tích, tổng hợp,
thống kê, điều tra xã hội học để nghiên cứu NLCN trong quá trình CNH,
HĐH ở tỉnh Phú Thọ dưới góc độ chính trị - xã hội.
6. Cái mới và những đóng góp về mặt khoa học của luận văn
6.1. Cái mới của luận văn
Về lý luận
9
Chƣơng 1
NGUỒN LỰC CON NGƢỜI TRONG MỐI QUAN HỆ
VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ ĐẶC ĐIỂM
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở TỈNH PHÚ THỌ

1.1. Nguồn lực con ngƣời trong mối quan hệ với công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
1.1.1. Quan niệm về nguồn lực con người và phát triển nguồn lực
con người
* Quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về
con người
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, nhiều quan điểm khác nhau đã bàn về
vấn đề con người, song phải đến khi chủ nghĩa Mác ra đời (vào những năm 40
của thế kỷ XIX) thì những nhận thức của nhân loại về con người mới từng
bước được làm sáng tỏ.
Theo chủ nghĩa Mác-Lênin, con người là một thực thể tự nhiên, một
cấu trúc sinh học, đồng thời là một thực thể xã hội mang bản chất xã hội. Chủ
nghĩa Mác phân biệt rõ hai mặt tự nhiên và xã hội trong con người. Trước hết,
Mác khẳng định: con người tồn tại với tư cách là những cá nhân sống, những
cá thể có đầy đủ những hành vi, những hành động mang đậm dấu ấn cá nhân.
Với tư cách là con người sinh học, con người cá nhân, thì những nhu cầu tối
thiểu của con người phải được thỏa mãn. Khẳng định điều này, Mác viết:
“Tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người và do đó là tiền đề của mọi
lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch

người. Ông khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của NLCN trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội. Trong tác phẩm: “Những nhiệm vụ trước mắt của
chính quyền Xôviết”, V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Trong một nước bị tàn phá, nhiệm
vụ hàng đầu là phải cứu người lao động. Lực lượng sản xuất hàng đầu của

11
toàn thể nhân loại là người lao động” [45, tr.430]. V.I.Lênin cũng cho rằng
đối với những con người bắt tay vào công cuộc kiến thiết chế độ mới, nếu họ
chỉ có nhiệt tình và lòng dũng cảm không thôi thì không đủ, mà còn cần phải
có hiểu biết, học vấn và kinh nghiệm đấu tranh. Do vậy, thời kỳ quá độ cũng
là thời kỳ lịch sử đặc biệt có nhiệm vụ quan trọng là nâng cao trình độ dân trí
cho người lao động để họ có thể tham gia công cuộc cải tạo và xây dựng đất
nước. Đặc biệt, V.I.Lênin rất chú trọng nguồn nhân lực chất lượng cao. Do
vậy, Người chủ trương phải “thu phục được các chuyên gia tư sản” [44,
tr.217], nhất là “những người có tài”, “những chuyên gia giỏi nhất” [44,
tr.218] bằng cách trả lương cao cho họ, đồng thời, đào tạo đội ngũ trí thức
mới của giai cấp công nhân. Những chỉ dẫn của Lênin có giá trị to lớn cả về
lý luận cũng như thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
Đối với Hồ Chí Minh, đây cũng là vấn đề mà Người đặc biệt quan tâm.
Theo Người: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần phải có những
con người xã hội chủ nghĩa” [51, tr.310]. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng
của mình, Người luôn trăn trở làm sao cho dân ta ai cũng có cái ăn, cái mặc,
ai cũng được học hành, chú trọng giáo dục phát triển toàn diện con người,
nhất là cái Đức để tạo ra động lực to lớn phát triển đất nước.
Tóm lại, những quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh về con người và phát triển nguồn lực con người là những cơ sở lý
luận và phương pháp luận quan trọng để các nhà nghiên cứu sau này kế thừa,
vận dụng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước.
* Quan niệm về nguồn lực con người
“Nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” là một khái niệm đã

NLCN từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động, thành vốn nhân lực, tức là nâng
cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế.
Con người với tiềm năng vô tận, nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và
cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì sẽ trở thành nguồn vốn vô cùng

13
to lớn. NLCN, do đó được hiểu là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng
lực xã hội của con người. Tính thống nhất đó được thể hiện ở quá trình biến
nguồn lực con người thành nguồn vốn con người.
Dưới góc độ triết học, theo các tác giả tham gia chương trình khoa học
- công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của
sự phát triển kinh tế - xã hội” (KX-07) do GS, TSKH Phạm Minh Hạc làm
chủ nhiệm thì “Nguồn lực con người là số dân và chất lượng con người, bao
gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất” [27,
tr.328]. Giáo sư TS. Hoàng Chí Bảo cũng cho rằng: “Nguồn lực con người là
sự kết hợp thể lực và trí lực, cho thấy khả năng sáng tạo, chất lượng hiệu quả
hoạt động và triển vọng mới phát triển của con người” [5, tr.14]. Ngoài thể
lực và trí lực, theo tác giả “cái làm nên nguồn lực con người là kinh nghiệm
sống, đặc biệt là những kinh nghiệm nếm trải trực tiếp của con người, là nhu
cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình, của
cộng đồng vào việc tìm tòi, sáng tạo” [5, tr.15]. Xét theo nghĩa đó, NLCN bao
hàm trong đó toàn bộ sự phong phú, sâu sắc, đổi mới thường xuyên các năng
lực trí tuệ, năng lực thực hành, tổ chức và quản lý Với quan niệm trên, tác
giả muốn nhấn mạnh đến kết cấu bên trong của NLCN, những thành tố cơ bản
không thể thiếu để tạo nên động lực cho sự phát triển.
Trong lời phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:
“Nguồn lực con người là quý báu nhất Nguồn lực đó là người lao động có
trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi
dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học,

lượng lao động giữa các ngành, vùng kinh tế.
Thứ năm, NLCN còn chỉ ra rằng trong tất cả các nguồn lực thì NLCN
là nguồn lực cơ bản nhất, quyết định nhất, bởi lẽ, những nguồn lực khác chỉ

15
có thể khai thác có hiệu quả khi NLCN được phát huy. Những nguồn lực khác
ngày càng cạn kiệt, ngược lại NLCN không bao giờ cạn kiệt, vì sáng tạo là
đặc điểm riêng có và vô tận của con người. Trí tuệ con người khi đã chuyển
hóa thành công nghệ, được vận dụng vào trong quá trình sản xuất thì nó sẽ tạo
ra sự phát triển to lớn.
Từ những nội dung trên cho thấy, NLCN trong mọi thời đại luôn luôn
giữ vị trí trung tâm của sự phát triển.
* Quan niệm về phát triển nguồn lực con người
Các học giả trong quá trình nghiên cứu tùy theo góc độ tiếp cận khác
nhau mà có những quan niệm khác nhau về phát triển nguồn lực con người.
Khái niệm phát triển NLCN (hay phát triển nguồn nhân lực, hoặc phát
triển tài nguyên người) là những cách dịch khác nhau từ cụm từ Human
Resources Development (HRD). Khái niệm này được hình thành và phát triển
từ những năm 70 của thế kỷ XX, dựa trên những quan niệm mới của Liên hợp
quốc về phát triển và vị trí con người trong sự phát triển. Theo cách tiếp cận
của Liên hợp quốc, khái niệm “phát triển nguồn lực con người” xét theo nghĩa
rộng bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc
đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo UNESCO, khái niệm “phát triển nguồn lực con người” theo nghĩa
hẹp, đó là toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan
hệ với sự phát triển của đất nước.
Dưới góc độ tiếp cận của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì phát triển
NLCN được nhìn nhận không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc
vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực
đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, để thỏa mãn yêu cầu

với quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về phát triển con người toàn diện.

17
Ở nước ta, khái niệm “Phát triển nguồn lực con người” được các nhà
khoa học nêu lên khá nhiều trong các công trình nghiên cứu, dưới các góc độ
khác nhau.
Theo GS.VS.TSKH. Phạm Minh Hạc cho biết: Phát triển nguồn nhân
lực được hiểu về cơ bản là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt như đạo
đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những
người lao động có năng lực phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu
cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội, của sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước [27, tr.285].
TS. Nguyễn Hữu Dũng cho rằng: Phát triển NLCN được coi là “quá
trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày
càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội” [13, tr.13]. Theo
tác giả, quá trình này bao gồm sự phát triển về thể lực, trí lực, khả năng nhận
thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo
của con người.
Khẳng định tính cấp thiết phải phát triển nguồn lực con người để thực
hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đất nước, Đảng ta chỉ rõ: lấy
việc phát huy NLCN làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,
nhất là trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh CNH, HĐH gắn
với phát triển kinh tế tri thức nhằm tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh
quốc tế tạo ra và tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình CNH,
HĐH đất nước theo định hướng XHCN. Một trong những đặc trưng của kinh
tế tri thức là phát triển chủ yếu dựa vào tri thức, mà tri thức là do con người
sáng tạo ra. Do đó, sự thành công hay thất bại trong công cuộc đổi mới và
CNH, HĐH đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, hoàn toàn phụ thuộc
vào sức lực và trí tuệ sáng tạo của con người Việt Nam. Vì vậy, chăm lo phát
triển NLCN, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo ra năng lực nội

mạnh của nó chưa được nhìn nhận như là một nguồn lực của bản thân quá

19
trình CNH, HĐH. Do vậy, trong một thời gian khá dài con người đã bị đặt
ngoài hệ thống các nguồn lực nội tại của sự phát triển. Đây cũng chính là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm cho quá trình CNH, HĐH trước đây
thiếu động lực và kém phát triển. Ngày nay, khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ và yêu cầu của sự phát triển đất nước, cùng với những bài học rút ra
từ thực tiễn và kinh nghiệm của quá trình CNH, HĐH, trong nhận thức và
thực tiễn đã có những thay đổi đáng kể về vai trò của con người.
Khi khẳng định NLCN là chủ thể quyết định sự nghiệp CNH, HĐH thì
vai trò đó được thể hiện ở cả hai phương diện: chủ thể và khách thể của quá
trình CNH, HĐH. Là chủ thể, con người xác định mục tiêu, nội dung, cách
thức CNH, HĐH cũng như tổ chức, khai thác các nguồn lực khác để thực hiện
CNH, HĐH. Các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia vào quá trình
CNH, HĐH, chúng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển xã hội và trở thành
nguồn lực của quá trình CNH, HĐH khi được kết hợp với NLCN.
Là khách thể, con người trở thành đối tượng được khai thác, sử dụng
tối đa để thực hiện thắng lợi quá trình CNH, HĐH; đồng thời con người cũng
chính là đối tượng được hưởng thụ những thành quả mà quá trình CNH, HĐH
đem lại. Toàn bộ năng lực, phẩm chất tâm, sinh lý, đạo đức của con người
được phản ánh qua hai yếu tố cơ bản là thể lực và trí lực. Đặc biệt ngày nay
trí lực đã và đang là cái cần được tập trung khai thác mạnh nhất ở NLCN để
phục vụ quá trình CNH, HĐH cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội nói
chung. Do đó, việc nuôi dưỡng, phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả
sức lao động, nhất là trí lực, trở thành yêu cầu cấp bách và hàng đầu trong
toàn bộ quá trình CNH, HĐH.
Mặt khác, mục tiêu của CNH, HĐH chính là vì con người. Điều này
đòi hỏi quá trình CNH, HĐH phải giải quyết toàn diện các vấn đề: tăng
trưởng đi đôi với phát triển, gắn tăng trưởng kinh tế với việc thực hiện tiến bộ

chúng đều không có nghĩa. Ngày nay, để sản phẩm có tính cạnh tranh và đứng

Trích đoạn Nhóm giải pháp chính trị Nhóm giải pháp về văn hóa xã hội
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status