1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ THU HƢƠNG HOÀN THIỆN PHP LUẬT VỀ QUẢN L
CHÂ
́
T GÂY Ô NHIÊ
̃
M TRÊN BIÊ
̉
N Ơ
̉
VIÊ
̣
T NAM
VIÊ
̣
T NAM Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: TS. V Quang
HÀ NỘI, 2013
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUẢN LÝ CHẤT GÂY Ô NHIỄM
TRÊN BIỂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT GÂY Ô NHIỄM
TRÊN BIỂN 6
1.1. Tổng quan về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển 6
1.1.1. Chất gây ô nhiễm trên biển 6
1.1.2. Quản lý chất gây ô nhiễm trên biển 11
1.2. Pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển 13
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm
trên biển 13
THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT GÂY Ô NHIỄM
TRÊN BIỂN Ở VIỆT NAM 69
3.1. Nhu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật 64
3.2. Phương hướng hoàn thiện 67
3.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật 69
3.4. Giải pháp đảm bảo thực thi pháp luật 73
3.4.1. Kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường
biển 73
3.4.2. Kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật 74
3.4.3. Tài chính và nhân lực 75
3.4.4. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật 76
5
3.5. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi các điều ước quốc tế mà Việt
Nam gia nhập, ký kết 77
3.6. Giải pháp kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật 79
3.7. Giải pháp về cơ chế chính sách 81
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
Việt Nam là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số
cao nhất về chiều dài bờ biển, mở ra 3 hướng Đông, Nam và Tây; có vùng
biển và thềm lục địa rộng lớn, diện tích vượt quá một triệu km2, lớn gấp 3 lần
diện tích đất liền; có hơn 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ, gần bờ và xa bờ, chạy suốt
từ vịnh Bắc Bộ tới vịnh Thái Lan. Những vị thế, địa lý tự nhiên và tiềm năng
kinh tế của vùng biển, đảo nước ta có tầm quan trọng trong chiến lược xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Bên cạnh đó, nhiều điều ước
quốc tế về vấn đề này được ký kết mà Việt Nam là một quốc gia thành viên
càng đòi hỏi Việt Nam phải có một hệ thống pháp luật đủ mạnh, một hệ thống
các cơ quan quản lý nhà nước đủ tầm để giải quyết được các vấn đề thực tế
đặt ra.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các vấn đề thực trạng hệ thống pháp
luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển, tìm ra những bất cập, hạn chế để từ
đó tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về vấn đề này là
một đòi hỏi bức thiết cả về lý luận và thực tiễn. Do vậy tác giả đã lựa chọn đề
tài "Hoàn thiện pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt
Nam" làm luận văn tốt nghiệp Chương trình đào tạo Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề ô nhiễm môi trường biển đã có nhiều nghiên cứu dưới dạng tạp
chí, chuyên đề, đề tài, luận văn, luận án nhưng những công trình này hoặc đi
sâu dưới góc độ quản lý tài nguyên biển, hoặc dưới góc độ các yếu tố kĩ thuật,
8
nghiên cứu về các hoạt động đối với tài nguyên biển. Nếu nghiên cứu dưới
góc độ khoa học pháp lý, các công trình này mới chỉ đề cập những quy định
của pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế trong lĩnh vực phòng chống,
khắc phục ô nhiễm môi trường biển ở một khía cạnh cụ thể của vấn đề ô
nhiễm môi trường biển như luận án tiến sĩ của Lưu Ngọc Tố Tâm với đề tài
“Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải ở
Việt Nam”; luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Vân với đề tài “Pháp luật về phòng
chống ô nhiễm dầu từ tàu biển”; luận văn thạc sĩ của Đặng Hoàng Sơn với đề
tài “Pháp luật về ô nhiễm môi trường trong họat động dầu khí ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay” Có thể nói đến nay vẫn chưa có nhiều tài liệu
nghiên cứu dưới góc độ pháp luật môi trường một cách tổng quan, toàn diện
về những vấn đề lý luận, thực trạng về các khía cạnh pháp lý trong quản lý
chất gây ô nhiễm trên biển liên quan đến kiểm tra, kiểm soát, phòng ngừa,
bản của pháp luật Việt Nam về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển.
- Xác lập cơ sở lý luận và đề xuất những kiến nghị cụ thể về việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt
Nam nhằm đáp ứng được những đòi của thực tiễn cả về trước mắt cũng như lâu
dài.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chủ yếu vận dụng phương pháp
nghiên cứu pháp luật truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, đó là:
10
- Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có như các văn bản pháp luật,
giáo trình, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học có liên
quan đến đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và so sánh luật.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp.
- Phương pháp tổng hợp.
Trong đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định là
những phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn. Từ đó rút ra những
nhận xét và kết luận trong quá trình giải quyết những nhiệm vụ mà luận văn
đề ra.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận
văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển và
pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3: Đề xuất một số ý kiến bước đầu nhằm hoàn thiện khung
pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam.
hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao
gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như
gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật và thực vật biển, gây
nguy hại cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể
cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác,
làm biến đổi chất lượng biển về phương diện sử dụng nó và làm giảm sút các
giá trị mỹ cảm của biển [22, Điều 1.4].
c. Kiểm soát ô nhiễm biển: Là tổng hợp các hoạt động, hành động, biện
pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho sự ô nhiễm xảy ra,
hoặc khi xảy ra ô nhiễm thì có thể chủ động xử lý, làm giảm thiểu hay loại trừ
được nó. Kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc ngăn ngừa ô nhiễm, làm giảm một
phần hoặc loại bỏ chất thải từ nguồn, làm sạch môi trường, thu gom, sử dụng
lại, xử lý chất thải, phục hồi chất lượng môi trường do ô nhiễm gây ra. Kiểm
soát ô nhiễm có thể chia làm hai phần: ngăn ngừa ô nhiễm hay còn gọi là
kiểm soát ô nhiễm đầu vào và làm sạch ô nhiễm hay còn gọi là kiểm soát ô
nhiễm đầu ra [14].
d. Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển: Bảo vệ môi trường là hoạt
động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động
xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy
thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Điều 3 Luật Bảo vệ môi
trường).
Từ khái niệm trên cho thấy ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển là việc
hạn chế, loại bỏ các nguồn, "giảm thiểu các khả năng, các tác động có khả
năng gây ô nhiễm môi trường hoặc ngăn chặn sự lan truyền tổn hại môi
trường từ vùng này sang vùng khác, chuyển từ trạng thái tổn hại này sang
13
trạng thái tổn hại môi trường khác" [24, tr. 434] qua đó kiểm soát, chế ngự và
hạn chế đến mức thấp nhất khả năng biển bị ô nhiễm. Trong các hoạt động
bốc dỡ hàng là dầu hoặc hóa chất độc hại.
- Ô nhiễm biển do nhận chìm và trút bỏ chất thải: Trước đây biển
được coi là nơi chứa chất thải rộng lớn do vậy các quốc gia đã tiến hành đổ
thải rất nhiều chất thải độc hại một cách có ý thức và không có ý thức một
lượng lớn các chất thải độc hại như chất thải phóng xạ, chất thải công nghiệp,
hoá chất bền vững như DDT… thậm chí nhiều quốc gia trên thế giới đã bí mật
đổ, nhận chìm chất thải hạt nhân, hóa học ra biển.
- Ô nhiễm biển từ bầu khí quyển: Ô nhiễm không khí có tác động
mạnh mẽ tới ô nhiễm biển. Nồng độ CO
2
cao trong không khí sẽ làm cho
lượng CO
2
hòa tan trong nước biển tăng. Nhiều chất độc hại và bụi kim loại
nặng được không khí mang ra biển. Sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái
đất do hiệu ứng nhà kính sẽ kéo theo sự dâng cao mực nước biển và thay đổi
môi trường sinh thái biển.
- Ô nhiễm biển từ tự nhiên: Bên cạnh các nguồn ô nhiễm nhân tạo
trên, biển có thể bị ô nhiễm bởi các quá trình tự nhiên như núi lửa phun, tai
biến bão lụt, sự cố rò rỉ dầu tự nhiên v.v
Luật Bảo vệ môi trường 2005 đưa ra định nghĩa chất gây ô nhiễm là
chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường
bị ô nhiễm và định nghĩa chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra
từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.
Như vậy, từ những khái niệm nêu trên có thể đưa ra một định nghĩa đầy
đủ về chất gây ô nhiễm biển như sau: Chất gây ô nhiễm biển là toàn bộ các
15
thành phần có nguyên nhân từ những biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc
được phát sinh trong các hoạt động kinh tế- xã hội của con người, bao gồm
trên mặt biển do tính chất lý - hóa học của nó, dưới tác động của dòng chảy,
thủy triều và của gió, ảnh hưởng lớn đến sinh hoạt và sự sống của các loài
sinh vật, động vật sống ở biển và thực vật của rừng ngập mặn. Ngoài ra còn
phải kể đến các chất gây ô nhiễm trên biển khác như các hóa chất, khí hóa
lỏng, sơn chống hà độc hại, nước ballast, các sự cố tai nạn trong hoạt động
hàng hải; hoạt động nuôi trồng khai thác thủy sản đã và đang gây nguy cơ ô
nhiễm đất, nguồn nước ngọt, môi trường nước biển ven bờ; hoạt động công
nghiệp như khai thác khoáng sản, chế biến hợp kim, lò nung gây ô nhiễm
nghiêm trọng đối với nước biển
1.1.2. Quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
1.1.2.1. Khái niệm quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
Quản lý chất gây ô nhiễm trên biển gồm các hoạt động liên quan đến
việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý,
tiêu hủy chất gây ô nhiễm trên biển.
Quản lý chất gây ô nhiễm trên biển không chỉ là các hoạt động kiểm
soát chất gây ô nhiễm mà bao gồm hàng loạt hoạt động quản lý theo một chu
trình chặt chẽ từ việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, xử lý,
tuyên truyền, phổ biến kiến thức bảo vệ môi trường biển. Thông qua đó trách
nhiệm trong việc quản lý chất gây ô nhiễm trên biển của cơ quan nhà nước và
các tổ chức, cá nhân có liên quan được nâng cao hơn để có thể vừa hạn chế,
vừa xử lý, tiêu hủy được lượng chất gây ô nhiễm phát sinh trong thực tế.
17
1.1.2.2. Ý nghĩa và vai trò của quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
Quản lý chất gây ô nhiễm trên biển hiệu quả là nhiệm vụ trọng tâm
trong việc phục vụ phát triển kinh tế - xã hội biển một cách bền vững.
Tuy nhiên, việc quản lý chất gây ô nhiễm trên biển, hải đảo còn gặp rất
nhiều khó khăn. Một số nguyên nhân chủ yếu dẫn tới những khó khăn như
sau:
- Tính đặc thù của việc quản lý chất gây ô nhiễm trên biển khác so với
trong những nguyên nhân khiến cho môi trường nói chung, môi trường biển
nói riêng ngày càng ô nhiễm trầm trọng. Vì vậy pháp luật quản lý chất gây ô
nhiễm trên biển cũng nằm trong hệ thống pháp luật môi trường và là một bộ
phận không thể thiếu của pháp luật môi trường.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý chất gây ô nhiễm trên
biển bao gồm các quan hệ phát sinh trong quá trình thu gom, vận chuyển, tiêu
hủy chất gây ô nhiễm trên biển, bồi thường thiệt hại do chất gây ô nhiễm trên
biển gây ra…
Mục đích của pháp luật quản lý chất gây ô nhiễm trên biển là bảo vệ
môi trường và sức khỏe cộng đồng, thông qua vấn đề đặt ra các khung pháp
luật quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước về môi trường; quyền
và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân liên quan đến chất gây ô nhiễm trên
biển. Pháp luật quản lý chất gây ô nhiễm trên biển đã phân định rõ quyền hạn
cho các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hoạt động quản lý nhà nước về
chất gây ô nhiễm trên biển đạt được hiệu quả cao hơn; định hướng xử sự và
19
hành vi của các chủ thể liên quan đến quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
nhằm mục đích ngăn ngừa, hạn chế số lượng chất gây ô nhiễm trên biển phát
sinh vào môi trường và giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với
môi trường và sức khỏe con người.
Từ các đặc điểm trên ta có thể hiểu: Pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm
trên biển là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý
chất gây ô nhiễm trên biển như: thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và
tiêu hủy chất gây ô nhiễm trên biển nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác
hại xảy ra cho môi trường biển, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo phát
triển bền vững, góp phần duy trì và phát triển kinh tế biển Việt Nam.
b. Đặc điểm
phát triển bền vững, thực hiện tốt các cam kết quốc tế của Việt Nam về ngăn
ngừa ô nhiễm môi trường biển.
Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử
sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc định hướng các tổ chức cá
nhân có xử sự đúng đắn trong hoạt động ngăn ngừa ô nhiễm biển thông qua
các chế tài hình sự, kinh tế, hành chính để buộc các cá nhân, tổ chức phải thực
hiện đầy đủ các biện pháp nhằm ngăn ngừa ô nhiễm biển. Pháp luật cũng góp
phần nâng cao trách nhiệm của quốc gia, của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong việc ngăn ngừa ô nhiễm môi trường biển.
Biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp thực hiện có hiệu
quả, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Biện pháp
pháp luật xác định một hành lang pháp lí và tạo ra các bảo đảm nhằm hỗ trợ
cho tất cả các biện pháp khác đạt hiệu quả nhằm quản lý chất gây ô nhiễm
21
trên biển. Bằng những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ
thể, pháp luật đã tác động trực tiếp đến các tổ chức và cá nhân, buộc các chủ
thể này khi tiến hành các hoạt động trên biển cần hạn chế đến mức thấp nhất
những thiệt hại xảy ra cho môi trường biển. Với tất cả những ý nghĩa đó, pháp
luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển có những vai trò cụ thể sau đây:
Thứ nhất, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển góp phần
thực thi nguyên tắc của pháp luật môi trường. Pháp luật về quản lý chất gây ô
nhiễm trên biển là một bộ phận của pháp luật môi trường. Vì vậy, pháp luật
về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển tuân thủ theo các nguyên tắc của pháp
luật môi trường – là những nguyên tắc chi phối một cách toàn diện việc điều
chỉnh pháp luật đối với các quan hệ làm phát sinh từ hoạt động bảo vệ môi
trường. Pháp luật môi trường Việt Nam có bốn nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt
quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật môi trường. Đó là: nguyên tắc đảm
bảo quyền con người được sống trong một môi trường trong lành, nguyên tắc
tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường, nguyên tắc đảm bảo sự
môi trường khi có sự cố và khắc phục những hậu quả xảy ra. Pháp luật về
quản lý chất gây ô nhiễm trên biển còn quy định trách nhiệm của các chủ thể
khi có sự cố xảy ra.
Thứ ba, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam
góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế biển Việt Nam, mang lại giá trị kinh tế
cho đất nước. Pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển được ban hành
để qui định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan nhằm tạo sự an toàn về
môi trường và con người, làm cho các hoạt động kinh tế biển phát huy lợi ích
và hiệu quả. Khi hoạt động kinh tế biển diễn ra an toàn, đảm bảo an ninh môi
trường, các chủ thể tiến hành hoạt động sẽ không tốn thời gian, công sức và
23
tài chính để khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường, thúc đẩy sự phát triển
ngành kinh tế biển ViệtNam.
Thứ tư, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam
giúp nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường
biển của người dân. Pháp luật được qui định và thực hiện có hiệu quả bởi hai
đặc tính, tính bắt buộc thực hiện và tính cưỡng chế. Các loại trách nhiệm pháp
lí có tác dụng ngay lập tức, buộc các chủ thể phải tuân thủ các quy định pháp
luật mà nhà nước đặt ra. Vì vậy, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên
biển sẽ góp phần tích cực vào quá trình thay đổi nhận thức và tư duy của
người dân, góp phần tăng cường ý thức của họ trong việc kiểm soát ô nhiễm
môi trường biển.
Thứ năm, pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm trên biển ở Việt Nam
nhằm thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam, từ đó xem xét gia nhập các
điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm biển nói
riêng. Khi tham gia vào các điều ước quốc tế hoặc phê chuẩn nội dung nào
trong các điều ước quốc tế này, Việt Nam đã chấp nhận việc phải thực hiện
các nghĩa vụ như một quốc gia thành viên. Để có thể thực hiện các nghĩa vụ
mà nội dung của công ước đặt ra, Việt Nam phải chuyển hóa các nội dung của
môi trường Việt Nam. Nguyên tắc này chỉ ra việc cần phải có sự quản lý tổng
hợp và cân đối giữa các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường trong việc xây
dựng các qui định pháp luật quản lý chất gây ô nhiễm. Hoạt động kinh tế biển
mang lại nhiều lợi ích kinh tế, các chủ thể tiến hành hoạt động phải tuyệt đối
tuân thủ việc quản lý chất gây ô nhiễm môi trường biển. Nguyên tắc này dựa
trên chính lợi ích của biển, cả lợi ích kinh tế lẫn lợi ích môi trường.
25
Thứ hai, khi đã có sự cố xảy ra, việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa
nhằm giảm bớt thiệt hại về tài sản, về môi trường và về tính mạng, sức khỏe
con người. Rõ ràng các biện pháp ngăn ngừa sẽ trở nên hữu hiệu hơn khi
chúng nhằm giảm thiểu các nguồn gây tổn hại môi trường biển nhiều hơn là
nhằm giải quyết hậu quả của các tác động tổn hại. Áp dụng nguyên tắc này
cũng nhằm ngăn ngừa sự lan truyền tổn hại môi trường biển từ vùng này sang
vùng khác, hoặc chuyển từ trạng thái tổn hại môi trường biển này sang trạng
thái tổn hại môi trường biển khác. Pháp luật về quản lý chất gây ô nhiễm môi
trường biển luôn đề cao và coi trọng nguyên tắc phòng ngừa bởi chính sự đặc
thù trong quản lí môi trường biển.
Thứ ba, nguyên tắc phối hợp, liên kết: Môi trường biển được quản lý
bởi nhiều chủ thể, mỗi chủ thể lại có các trách nhiệm cụ thể khác nhau theo
quy định của pháp luật. Để việc quản lý đạt hiệu quả, sự phối hợp, liên kết
giữa các chủ thể với nhau là vô cùng quan trọng. Quản lý chất gây ô nhiễm
trên biển đòi hỏi sự phối hợp giữa các chủ thể như các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền, các tổ chức, các cá nhân, các chủ thể có liên quan nhằm phòng
ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái tài nguyên biển và đặc biệt là khắc
phục hậu quả, phục hồi môi trường biển khi có sự cố môi trường xảy ra
1.2.5. Chủ thể (cá nhân, tổ chức), quyền và nghĩa vụ của chủ thể
tham gia vào hoạt động quản lý chất gây ô nhiễm trên biển
So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật môi trường là một lĩnh
vực pháp luật còn tương đối mới mẻ. Hệ thống pháp luật môi trường được