ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** LƢU ĐỨC HẠNH
ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG CHO CÁC CÔNG TY NIÊM
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Néi - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** LƢU ĐỨC HẠNH ĐIỀU LỆ MẪU ÁP DỤNG CHO CÁC CÔNG TY NIÊM
2.1.2. Về mặt kỹ thuật pháp lý.
2.2. Nội dung của Điều lệ mẫu.
Chương 3: KHẢO SÁT ĐIỀU LỆ CỦA CÁC CÔNG TY
NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ SO SÁNH
VỀ PHÁP LUẬT ÁP DỤNG CHO CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT CỦA VIỆT NAM VỚI
MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI
3.1. Khảo sát Điều lệ của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam.
3.1.1. Đánh giá chung về Điều lệ của các công ty niêm yết trên thị
Trang
1
6
7 7
16
16
18
20
25
25
25
28
34
Phụ lục 6: Đề xuất cấu trúc Điều lệ mẫu.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
68
82
83
89
94
97
97
98
100
104
114
115
117
119
119
123
126
130
133
138
LỜI CAM ĐOAN
1. Lý do chọn đề tài
Chứng khoán Việt Nam mở phiên giao dịch đầu tiên vào tháng 07 năm
2000. Tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2011, đã có tổng số hơn 700 công ty
niêm yết trên cả hai sàn (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh). Trong gần
mười hai năm hoạt động, VN Index trải qua bao thăng trầm, vui buồn, hỉ nộ ái
ố như bất cứ thị trường chứng khoán lâu đời và lừng danh nào. Bởi lẽ, suy cho
cùng, thị trường chứng khoán dù non trẻ hay lâu đời thì cũng đều là nơi giao
dịch vốn mà tiền thì quả thật ở đâu cũng hấp dẫn. Vì vậy, số lượng các công
ty tham gia niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ không dừng lại ở con số trên. Doanh
nghiệp muốn tham gia vào thị trường giao dịch tập trung phải đảm bảo những
yêu cầu chung đối với công ty được niêm yết được quy định trong “Điều lệ
mẫu” áp dụng cho các công ty niêm yết ban hành kèm theo Quyết định số
15/2007/QĐ - BTC ngày 19 tháng 03 năm 2007 (“Quyết định 15”) 2. Có thể
xem Điều lệ công ty là một đạo luật có tính chất tổng hợp về cơ cấu, tổ chức,
hoạt động của chính doanh nghiệp trên cơ sở các quy định của pháp luật kinh
doanh. Việc xây dựng một bản Điều lệ tốt là nền tảng cho hoạt động Công ty.
Tác giả chọn đề tài nêu trên vì những lý do sau đây:
- Mong muốn được nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, tổng quát
về Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Chứng khoán và các quy định có liên quan
đến tổ chức, quản lý, hoạt động của công ty cổ phần nói chung, công ty niêm
yết nói riêng.
- Luật Doanh nghiệp 2005 khi ra đời được đánh giá là một trong những
luật thành công nhất trong các luật và bộ luật. Trên thực tế, nó đã nhận được
sự đón nhận nồng nhiệt của giới doanh nhân và sự bằng lòng phần nào của
2
những người làm công tác pháp luật. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện,
Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật liên quan đã
bộc lộ nhiều nhược điểm cần được bổ sung, sửa đổi. “Điều lệ mẫu" ban hành
“Điều lệ mẫu” áp dụng cho các công ty niêm yết là sự rút gọn và tổng hợp từ
các văn bản trên nhằm xây dựng một luật tiêu chuẩn chung về cơ cấu tổ chức,
quản lý và hoạt động của công ty niêm yết. Kể từ khi Quyết định 15/2007/QĐ
- BTC về Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết ban hành ngày
19/03/2007 cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu
về “Điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết” với tư cách là một “đạo
luật” về cơ cấu, tổ chức và hoạt động của công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
Thực hiện luận văn này, tác giả sẽ tập trung vào tìm hiểu, phân tích cơ
sở pháp lý, cấu trúc, kỹ thuật pháp lý và nội dung của Điều lệ mẫu. Qua đó,
tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá về nội dung, cấu trúc của Điều lệ mẫu
trong mối tương quan với các quy định có liên quan của pháp luật trong nước
và tham khảo đến các quy định của pháp luật nước ngoài.
Việc khảo sát thực tế là một phần vô cùng cần thiết và quan trọng của
đề tài bởi lẽ thực tế là tấm gương soi đường cho lý luận, là tiền đề của lý luận,
là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển lý luận. Sự tìm tòi, khảo sát Điều lệ của
một loạt các công ty niêm yết đã minh chứng cho phần lý luận mà tác giả đã
đề cập ở các phần trên và là cơ sở để đưa ra những đề xuất và kiến nghị
nghiên cứu pháp lý sâu sắc, gắn liền với thực tiễn.
Từ đó, hướng đến việc hoàn thiện quy định về “Điều lệ mẫu" và những
đề xuất đối với các quy định pháp luật liên quan.
4. Ý nghĩa và điểm mới của đề tài
4
Đề tài mang ý nghĩa cho việc xây dựng một bản Điều lệ tương đối đầy
đủ, hợp lý, lô gích và chặt chẽ làm chuẩn mực chung cho các công ty niêm
yết. Đồng thời là cơ sở để mỗi doanh nghiệp tự xây dựng Điều lệ riêng phù
hợp với đặc thù ngành nghề, quy mô, văn hoá kinh doanh… của từng đơn vị.
Thông qua Điều lệ, các quy định pháp luật của Nhà nước được Công ty “nội
Chƣơng 3: Khảo sát Điều lệ của các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Việt Nam và một số so sánh về pháp luật áp dụng cho các công
ty niêm yết của Việt Nam với một số nước trên thế giới.
Chƣơng 4: Một số đề xuất và kiến nghị.
6
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Luật Doanh nghiệp: LDN
Luật Chứng khoán: LCK
Luật Đầu tư: LĐT
Bộ Luật Dân sự 2005: BLDS
Luật các Tổ chức tín dụng: Luật TCTD
Công ty cổ phần: CTCP
Cổ đông sáng lập: CĐSL
mình vào sân chơi chung. Trong kinh doanh cũng vậy, khi các chủ thể có nhu
cầu hợp tác với nhau cùng kiếm lợi nhuận, pháp luật yêu cầu họ phải có thỏa
thuận hay suy cho cùng Điều lệ chính là bản hợp đồng thỏa thuận giữa những
người bỏ vốn đứng ra thành lập Công ty, những người có vốn tham gia vào
Công ty. Giống như bất cứ một hợp đồng nào, Điều lệ cũng phải tuân thủ các
yếu tố của một hợp đồng. Cụ thể là:
Thứ nhất, về chủ thể: Chủ thể của Điều lệ CTCP là các cổ đông (được
gọi là người góp vốn) bao gồm các cá nhân có đủ năng lực hành vi dân sự, có
tài sản và các pháp nhân (được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp
luật) không thuộc các đối tượng bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp
luật và các văn bản quản lý chuyên ngành.
Thứ hai, về nội dung: Sự thỏa thuận hoạt động dưới tư cách một chủ
thể kinh tế duy nhất giữa các cá nhân, pháp nhân phải tuân theo các quy định
của pháp luật (các quy định cứng) và các quy định tùy nghi do các bên thỏa
thuận lựa chọn. Đó là các quy định cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện hợp
đồng. Ngoài những nội dung căn bản, giữa các bên có thể thỏa thuận các quy
định khác, miễn là không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
8
Thứ ba, Điều lệ được xây dựng trên tinh thần tự do ý chí, tự nguyện
tham gia của các bên nhằm hướng đến mục đích kinh doanh kiếm lời. Tuy
nhiên, tính chất tự nguyện, bình đẳng trong Hợp đồng - Điều lệ khác với hợp
đồng thông thường khác ở chỗ Hợp đồng - Điều lệ là sự bình đẳng tương
đương với số tiền vốn mà các chủ thể góp vào. Nghĩa là: chủ thể/nhóm chủ
thể nào có nhiều tiền thì nhóm chủ thể đó có nhiều quyền năng hơn, đồng thời
có thể sẽ phải gánh chịu nhiều rủi ro hơn. Điều đó, suy cho cùng cũng là lẽ
công bằng.
Thứ tư, Điều lệ chỉ có giá trị khi được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Không thể có một pháp nhân ra đời mà không có Điều lệ. Chỉ khi ý chí của
các chủ thể thành lập pháp nhân được thể hiện dưới một hình thức pháp lý
- Ở Anh, năm 1989, có vụ án Woods kiện Odessa Water Work, trong
đó Điều lệ quy định Công ty có quyền tuyên bố trả cổ tức cho cổ đông. Công
ty ra một nghị quyết thường niên không trả cổ tức nhưng đưa cho cổ đông trái
phiếu. Một cổ đông tên là Wood bèn kiện ra tòa, xin ngăn không cho công ty
thực hiện nghị quyết trên. Tòa án đã ra bản cho ngăn chặn với lý do: trả cổ tức
là trả bằng tiền mặt trong khi trái phiếu chỉ là một sự hứa sẽ trả 28, tr.95.
Luật của Việt Nam trước kia cũng như hiện nay chỉ xem Điều lệ như
một thành phần hồ sơ doanh nghiệp mà không đề cập đến mục đích cũng như
bản chất pháp lý của nó. Vì thế, các Điều lệ đã từng ban hành trước đây
thường hay có những điều khoản áp đặt ý chí của cơ quan công quyền hoặc
coi Điều lệ như là luật pháp của nhà nước được chi tiết hóa cho từng công ty.
Thực tế, Điều lệ của các công ty Nhà nước trước đây thuần túy là những quy
định hành chính, mệnh lệnh theo ý chí của nhà nước. Sau này, cùng với sự mở
cửa kinh tế, chính sách pháp luật đối với hoạt động kinh tế và tổ chức kinh tế
đã dần mở ra. Nhưng ý thức hệ của nhà làm luật và chính các doanh nhân sinh
10
ra, trưởng thành, phát triển trong một đất nước ngàn năm phong kiến và kế
hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp thì không thể một sớm một chiều có thể
khai thông và gặp gỡ được nhau. Điều này đã diễn ra trong các cuộc thảo luận
của Quốc hội kỳ họp tháng 05/1999, dự thảo LDN có những câu như “trừ
trường hợp điều lệ công ty quy định thời hạn khác ngắn hơn” thì đã có đại
biểu cho rằng như vậy văn bản dưới luật quy định trái ngược với luật. Thực ra
câu này chỉ nói lên nguyên tắc tự do kết ước của luật về hợp đồng. Trước áp
lực của những ý kiến đó, các câu nêu trên đã bị bỏ hết trong LDN được ban
hành năm 2000. Đến khi soạn thảo LDN 2005, trước áp lực và yêu cầu “cởi
trói” cho doanh nghiệp, tư duy pháp luật kinh tế của nhà làm luật nới thêm
một bước khi quy định: “Trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác”.
Câu này cho phép các cổ đông ghi thêm những nội dung nào họ thấy cần thiết
trong bản Điều lệ. Cũng có lẽ vì thế mà, UBCKNN thông qua Bộ Tài chính,
HĐQT. Một cách cụ thể hơn, Điều lệ công ty là sự sắp xếp trong hành lang
luật pháp của người sáng lập công ty, những người có số vốn lớn nhất, để
thực hiện ý đồ kinh doanh của mình để làm sao họ phải có nhiều quyền năng,
lợi ích nhất vì họ là người bỏ ra nhiều tiền nhất và họ cũng có thể là người
phải gánh chịu rủi ro nhiều nhất.
Vậy, có những sự khác nhau như thế nào giữa Hợp đồng thành lập công
ty và Điều lệ công ty?
Câu trả lời không quá phức tạp: Hợp đồng được tạo nên bởi ý chí của
các bên trên cơ sở tự do ý chí. Vì vậy, về mặt nguyên tắc, pháp luật không
ràng buộc hay hạn chế quyền tự do thoả thuận hay cam kết của các bên nếu
không có lý do xác đáng. Tuy hợp đồng được xem là luật của các bên tham
gia giao kết nhưng để đảm bảo trật tự xã hội và thúc đẩy giao lưu dân sự,
tránh đến mức thấp nhất các thiệt hại, tranh chấp hay khiếu kiện giữa các bên
12
nên pháp luật cũng đòi hỏi các bên ít nhất phải thoả thuận về những điểm cốt
yếu của hợp đồng.
Trong thực tế, không phải ai cũng có khả năng lập một hợp đồng đầy
đủ như các luật gia, luật sư nên đối với các hợp đồng, các bên thường chỉ cần
thỏa thuận với nhau về các điều khoản quan trọng, chủ yếu và mục đích của
hợp đồng. Khi tranh chấp xảy ra, pháp luật về hợp đồng có nhiệm vụ giải
thích cho ý chí của các bên nếu hợp đồng quy định không đầy đủ hay không
rõ nghĩa các điều khoản. Tuy nhiên, Hợp đồng thành lập công ty có nhiều đặc
điểm khác biệt với các loại hợp đồng thông thường vì nó tạo ra một pháp
nhân. Pháp nhân này có khả năng gây ảnh hưởng lớn đến xã hội. 29. Nhằm
bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và người thứ ba, bảo hộ quan hệ hợp
đồng, đặc biệt là quyền lợi của các bên, đồng thời để công ty do hợp đồng tạo
ra đi theo một định hướng nhất định phục vụ tốt cho sự phát triển kinh tế, xã
hội, pháp luật yêu cầu loại hợp đồng này phải thể hiện nhiều điều khoản bắt
buộc.
(3) Articles of association registered by a company must:
(a) be contained in a single document, and
(b) be divided into paragraphs numbered consecutively.
(4) Refenrences in the Companies Acts to a company‟s „articles” are to
its articles of association.
Qua các quy định tại Chương 2 (Articles of Association) của Luật Công
ty Anh cho thấy cái gọi là “Articles of Assocition” trong Luật Anh cũng giống
như Điều lệ công ty trong pháp luật doanh nghiệp của Việt Nam.
Luật Công ty Trung Quốc quy định: “The promoters of a joint stock
limited company shall undertake the preparatory work of the company. They
shall conclude a promoter‟s agreement to clarify their respective rights and
14
obligations during the course of establishing the company 67, Điều 80. Như
vậy, cái gọi là “promoter agreement” (thỏa thuận của các sáng lập viên) có thể
xem như là Hợp đồng thành lập công ty còn “the article of association” lại là
một văn bản khác. Đây là văn bản pháp lý bắt buộc phải có trong tài liệu
thành lập công ty và nó tương tự như Điều lệ về tổ chức và hoạt động của các
công ty Việt Nam vì nó do các cổ đông ban hành, thông qua tại cuộc họp
thành lập công ty. Điều lệ CTCP bao gồm những nội dung sau:
- Tên và địa chỉ công ty;
- Phạm vi hoạt động của công ty;
- Hình thức công ty;
- Tổng số cổ phần, mệnh giá của mỗi cổ phần và số lượng vốn đăng ký
của Công ty;
- Tên của CĐSL, cổ phần đăng ký mua, hình thức góp vốn và ngày góp
vốn;
- Việc thành lập, quyền hành, thời hạn và quy định về thủ tục của BGĐ;
- Đại diện theo pháp luật của Công ty;
- Thành phần, quyền hạn, và quy định về thủ tục của BGĐ;
kết của tất cả thành viên về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công
ty” [7, Điều 10.1].
Như vậy, pháp luật của mỗi nước quy định về Hợp đồng thành lập công
ty/Biên bản ghi nhớ về việc thành lập công ty giữa các thành viên với nhau có
thể bắt buộc có hoặc không trong hồ sơ pháp lý thành lập công ty nhưng về cơ
bản đó là văn bản pháp lý nội bộ giữa các thành viên với nhau. Trên cơ sở của
Hợp đồng thành lập công ty/Biên bản ghi nhớ này, một văn bản pháp lý khác
được hình thành để trưng ra ngoài với mọi người để mọi người biết và thừa
nhận đồng thời đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về quản lý doanh nghiệp
16
và được gọi là Điều lệ Công ty. Khi có tranh chấp xảy ra, Hợp đồng thành lập
công ty/Biên bản ghi nhớ là một trong những chứng cứ quan trọng để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Ở những nước không quy định về
Điều lệ công ty thì Hợp đồng thành lập công ty cũng có ý nghĩa như Điều lệ
công ty. Song, theo quan điểm của người viết, dưới góc độ quản trị khách
quan, khi công ty được thành lập hoặc phát triển ở một mức độ nhất định với
số lượng thành viên/cổ đông lớn, với phạm vi và quy mô hoạt động kinh
doanh đa dạng, phức tạp, nó cần tuân thủ và bám sát luật công ty - luật của tổ
chức và phân tách khỏi luật hợp đồng.
1.2. Điều lệ mẫu đối với công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng
khoán Việt Nam
Điều lệ công ty là văn bản pháp lý quan trọng trong hoạt động nội bộ
Công ty và với các bên thứ ba. Điều lệ của CTNY - đối tượng chủ thể có vai
trò và sức lan toả trong nền kinh tế, ngoài việc phải đảm bảo các yêu cầu
chung về chủ thể, nội dung, hình thức, tự do ý chí của CTCP thì còn đòi hỏi
nhiều yêu cầu và yếu tố hơn. Đó lý do ra đời của Quyết định số 07/2002/QĐ-
VPCP ngày 19/11/2002 của Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ về
việc ban hành Điều lệ mẫu áp dụng cho các CTNY (“Quyết định 07”) và sau
đó được thay thế bằng Quyết định số 15/2007/QĐ-Ttg ngày 19/03/2007 về
a) Là CTCP có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 10
tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết
phải có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn
thành các nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và có tình hình tài chính lành mạnh
đến thời điểm đăng ký niêm yết;
c) Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông
18
nắm giữ;
d) Cổ đông là thành viên HĐQT, BKS, GĐ/TGĐ, Phó GĐ hoặc Phó
TGĐ và Kế toán trưởng của công ty phải cam kết nắm giữ 100% số cổ phiếu
do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50% số cổ
phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo, không tính số cổ phiếu thuộc sở
hữu Nhà nước do các cá nhân trên đại diện nắm giữ 10, Điều 9.1, 13, Điều
1.14 và Điều 1.15.
Đấy là quy định chung đối với các chủ thể muốn niêm yết trên HOSE
và HNX. Tuy nhiên, đối với các CTNY trong từng lĩnh vực ngành nghề đặc
thù lại có những quy định riêng, chẳng hạn:
- Đối với các CTNY thuộc lĩnh vực đầu tư chứng khoán thì phải đáp
ứng điều kiện sau:
a) Có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 50 tỷ đồng
Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;
b) Thành viên HĐQT, BKS, GĐ/TGĐ, Phó GĐ hoặc Phó TGĐ, Kế
toán trưởng của công ty đầu tư chứng khoán phải cam kết nắm giữ 100% số
cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày niêm yết và 50%
số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo;
c) Có ít nhất 100 cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng
khoán đại chúng 10, Điều 8.3.
Hay việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp thành lập mới thuộc
đồng, một sự cam kết thật khó có thể hình dung về một Công ty sở hữu vốn
đến hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn tỷ đồng, nắm giữ tài sản của không
biết bao nhiêu con người và những hệ lụy về kinh tế - xã hội mà nó có thể
mang lại. Cần phải có một cơ chế pháp lý để cả nhà nước, cổ đông và cả xã
hội có thể thực hiện quyền năng của mình với mục tiêu, lợi ích khác nhau.
20
ĐLM đã và phải làm điều đó.
1.2.3. Cơ sở php lý của Điều lệ mẫu
Chứng khoán Việt Nam mở phiên giao dịch đầu tiên vào tháng 07 năm
2000 nhưng mãi đến hơn 02 năm sau, chúng ta mới có Quyết định 07.
Vậy trước đó thì sao?
Những công ty đầu tiên tham gia giao dịch trên TTCK Việt Nam là
những công ty được Nhà nước vận động nhằm thực hiện mục tiêu thí điểm
TTCK cho một đất nước Việt Nam vẫn nghèo nàn và đang “lần mò” trên con
đường học hỏi các nước phương Tây. Điều lệ về tổ chức hoạt động của các
CTNY lúc đó vẫn theo Luật Công ty, LDN cũ và có hơi hướng của một vài
quy định chứng khoán quốc tế mà chúng ta vừa học được. Mãi hai năm sau
chúng ta mới có một Bản Điều lệ cho các CTNY khi ban hành Quyết định 07.
Bản hướng dẫn Điều lệ cho CTNY này được các luật sư nước ngoài soạn và
sau đó được dịch sang tiếng Việt để ban hành chính thức 28, tr.97. Từ năm
2002 cho đến thời điểm áp dụng Quyết định 15, hàng trăm công ty đã bước
lên sàn niêm yết và tuân thủ theo Quyết định 07. Tại thời điểm năm 2002, sự
ra đời của Quyết định 07 đã là một sự cố gắng và nỗ lực của các cơ quan quản
lý. Cho dù sau đó đã có rất nhiều vần đề bàn cãi về nội dung, về văn phong
của văn bản này nhưng với Quyết định 07, có thể được xem như là một sự
định hướng ban đầu cho các CTNY.
Cùng với sự hội nhập và thúc đẩy kinh tế, pháp luật của Việt Nam, đặc
biệt là hệ thống pháp luật kinh doanh không ngừng được hoàn thiện. Sự ra đời
của LDN 2005, LCK thể hiện những bước tiến dài và vượt bậc của pháp luật