đại học quốc gia hà nội
khoa luật
lê anh linh pháp luật về mô hình công ty mẹ - công ty con
và thực tiễn tổng công ty chè việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2008
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ MÔ HÌNH
CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
6
1.1.
Khái niệm công ty mẹ - công ty con
6
1.1.1.
Khái niệm
6
1.1.2.
Những đặc trưng pháp lý mô hình công ty mẹ - công ty con
9
1.1.3.
Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ
12
1.1.4.
Cơ cấu tổ chức của công ty con
25
1.1.5.
Mối quan hệ giữa các công ty trong mô hình công ty mẹ và
công ty con
26
công ty con
45
2.2.
Thực tiễn của việc chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ -
công ty con
49
2.3.
Sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu của Tổng công ty Chè
Việt Nam khi tiến hành cổ phần hóa
52
2.3.1.
Khắc phục tồn tại của công ty mẹ theo mô hình hiện tại
52
2.3.2.
Điều chỉnh cơ cấu tổ chức nhằm phát huy vai trò công ty
mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con
52
2.4.
Phương án chuyển Tổng công ty Chè Việt Nam thành
Tổng công ty cổ phần
57
2.4.1.
Mục tiêu phát triển đến năm 2015
57
2.4.2.
Mô hình tổ chức của Tổng công ty sau đổi mới
58
2.5.
Các vướng mắc, bất cập trong quá trình chuyển Tổng công
ty Chè Việt Nam sang mô hình công ty mẹ - công ty con
72
2.6.
Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chuyển đổi Tổng công ty
Chè Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ -
công ty con
73
Chương 3: KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
76
3.1.
Định hướng của Đảng về việc hoàn thiện pháp luật về mô
hình công ty mẹ - công ty con
76
3.2.
Một số kiến nghị của tác giả về việc hoàn thiện pháp luật
về mô hình công ty mẹ - công ty con
80
3.2.1.
Kiến nghị về quan hệ về đầu tư tài chính
80
3.2.2.
Kiến nghị về cách hạch toán và cơ chế tài chính
83
3.2.3.
Kiến nghị về việc xác định giá trị lợi thế vị trí địa lý của
doanh nghiệp
84
3.2.4.
Kiến nghị về việc xác định lại giá trị vườn cây từ thực tế
bảng
Tên bảng
Trang
2.1.
Một số mục tiêu chủ yếu
58
2.2
Tình hình sắp xếp lại lao động tại thời điểm chuyển sang
cổ phần ở Tổng công ty Chè Việt Nam
63 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc tự do hóa các hoạt động đầu tư, thương mại, mở rộng liên doanh,
liên kết, góp vốn cổ phần, đầu tư thâm nhập lẫn nhau giữa các doanh nghiệp,
các thành phần kinh tế, đặc biệt là cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã
làm thay đổi đáng kể quan hệ giữa các doanh nghiệp, trong đó có quan hệ
giữa thành viên với tổng công ty và giữa tổng công ty với các doanh nghiệp
khác ngoài tổng công ty. Điều đó đã tạo ra các tiền đề để chuyển đổi các tổng
công ty sang mô hình công ty mẹ - công ty con.
Tuy nhiên, cho đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước
sửa đổi năm 2003, các quy định pháp luật, điều lệ mẫu và quy chế hoạt động
của tổng công ty hầu như không thay đổi. Các tổng công ty 90 và 91 tiếp
tục là sự ghép nối, gom đầu mối các doanh nghiệp độc lập mà thành, hầu
như không có sự đầu tư vốn của doanh nghiệp này vào doanh nghiệp kia để
gắn kết với nhau chặt chẽ về tài chính. Do đó, mô hình tổng công ty chứa
đựng nhiều hạn chế. Một số tổng công ty tuy có đóng góp tích cực cho phát
- công ty con cũng còn nhiều bất cập. Do việc thể chế hóa và xây dựng pháp
luật về mô hình công ty mẹ - công ty con và việc chuyển đổi tổng công ty
sang mô hình này được thực hiện theo chủ trương thí điểm, vừa làm vừa rút
kinh nghiệm nên pháp luật còn nhiều điểm chưa hoàn thiện như các quy định
về loại mô hình này mới chỉ tồn tại ở dạng "luật khung". Luật Doanh nghiệp
nhà nước chưa có các quy định về loại mô hình này nhằm đảm bảo sự vận
hành hiệu quả của các tổng công ty sau khi chuyển đổi; Luật Doanh nghiệp
năm 2005 cũng chỉ mới giành một chương (chương VII) với bốn điều (từ
Điều 146 đến Điều 149) quy định về nhóm công ty trong đó có mô hình công
ty mẹ - công ty con. Thậm chí trong Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003
vẫn còn hình thức tổng công ty do Nhà nước tự đầu tư thành lập. Đây là một
hạn chế lớn cần chuyển đổi theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Với xu
3
hướng phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, mô hình
công ty mẹ - công ty con sẽ phát triển với nhiều hình thức đa dạng, có sự
tham gia của nhiều thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức sở hữu. Trong xu
hướng chung như vậy, Luật Doanh nghiệp sẽ đóng vai trò chủ đạo trong việc
tạo ra một hành lang pháp lý, điều chỉnh tổ chức và hoạt động của mô hình
công ty mẹ - công ty con. Với sứ mệnh lịch sử đó, Luật Doanh nghiệp cần
phải có sự thay đổi, theo đó, cần bổ sung các quy định mới nhằm tạo dựng
khung pháp lý cần thiết điều chỉnh tổ chức và hoạt động của mô hình này.
Việc nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của mô hình công ty mẹ - công
ty con và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước sang mô hình này và thực tiễn áp
dụng đã và đang đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Đây cũng chính là lý do
chúng tôi chọn đề tài: "Pháp luật về mô hình công ty mẹ - công ty con và
thực tiễn Tổng Công ty Chè Việt Nam" để góp phần giải đáp một cách thiết
thực các vấn đề đặt ra từ các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn
chuyển đổi Tổng công ty nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty con.
2. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lý luận của đề tài
nghiệp chuyển đổi cụ thể.
Trong quá trình phát triển hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài mà tác giả
lựa chọn mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng khung pháp lý đầy đủ, phù
hợp với pháp luật quốc tế là cơ sở pháp lý để xây dựng mô hình công ty mẹ -
công ty con. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả
thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về công ty
mẹ - công ty con để mô hình hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế phát
triển mạnh mẽ. Tác giả hy vọng và tin tưởng rằng với quá trình nghiên cứu,
tìm hiểu một cách nghiêm túc thì kết quả thu được sẽ trở thành một tài liệu
tham khảo có giá trị và sẽ đóng góp một phần nhỏ vào những cơ sở lý luận
pháp lý về mô hình công ty mẹ - công ty con.
5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý, tính thực tế cũng
như cơ sở lý luận của mô hình công ty mẹ - công ty con. Trong nội dung trình
bày, tác giả sẽ đưa ra các nhận xét, đánh giá thực tiễn về sự cần thiết của việc
chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty con,
các vấn đề pháp lý, các vướng mắc, bất cập khi chuyển đổi, từ đó đưa ra các
kiến nghị để hoàn thiện khung pháp lý của mô hình công ty mẹ - công ty con.
Luận văn cũng tập trung đi sâu nghiên cứu thực tiễn khi chuyển đổi Tổng
Công ty Chè Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và
kiến giải các bất cập pháp lý trong quá trình chuyển đổi, đề xuất hướng phát
triển tiếp theo để xây dựng VINATEA trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận truyền thống của
chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy
vật lịch sử, phương pháp thống kê xã hội học và các phương pháp khác như
phân tích, so sánh các quy định của pháp luật các quốc gia điển hình trên thế
viết chỉ áp dụng đối với những công ty thực sự tiến hành hoạt động
kiểm soát, trong khi những người khác cho rằng "khả năng kiểm
soát, chứ không phải chính bản thân hành động kiểm soát là yếu tố
quyết định". Từ "kiểm soát" cũng có rất nhiều cách giải thích khác
nhau. Liệu khái niệm này chỉ nên áp dụng với trường hợp tỷ lệ cổ
phần nắm giữ đủ để công ty bầu tất cả hay đa số thành viên hội
đồng quản trị, hay nên bao hàm cả trường hợp một công ty có ảnh
hưởng quan trọng đến chính sách của một công ty khác thông qua
tỷ lệ cổ phần nắm giữ "thiểu số có tính chất ảnh hưởng" [25, tr. 7-8].
7
Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International
Accounting Standard), công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý
có ít nhất một đơn vị trực thuộc - công ty con (Subsidiary). Công ty con là
thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Kiểm soát ở đây được hiểu là:
(1) sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở
hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số
phiếu bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo,
điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của
công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp đồng; hoặc có
quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của Hội đồng quản
trị, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu
bầu tại các cuộc họp Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo.
Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công
ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy
nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với "Hướng dẫn chính thức lần thứ 7
về Luật công ty" (Seventh Company Law Directive) của Cộng đồng châu Âu
(EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi:
(1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B;
(2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành
nghiệp năm 2005) thì công ty mẹ - công ty được định nghĩa như sau:
Một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu
thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ
thông đã phát hành của công ty đó;
b) Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp bổ nhiệm đa số hoặc tất
cả các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
của công ty đó;
9
c) Có quyền quyết định việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ của
công ty đó [14].
1.1.2. Những đặc trƣng pháp lý mô hình công ty mẹ - công ty con
Tuy cách diễn giải có khác nhau, có thể rút ra những đặc trưng của
quan hệ công ty mẹ - công ty con như sau:
Thứ nhất, công ty mẹ - công ty con là một tập hợp các công ty, trong
đó, mỗi công ty là một pháp nhân độc lập, có tài sản riêng, có bộ máy điều
hành quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các
nghĩa vụ tài sản của mình. Trong các công ty này, mỗi công ty đều có quyền
và nghĩa vụ riêng biệt, hoạt động trước tiên là vì lợi ích của công ty mình
nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Thứ hai, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập trên
cơ sở sở hữu vốn. Theo đó, công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc đầu tư phần vốn
góp chi phối vào công ty con. Tùy theo pháp luật của mỗi nước và điều lệ của
từng công ty quy định mà mức chi phối được thể hiện ở tỷ lệ vốn góp. Thông
thường, công ty mẹ chiếm từ 50% trở lên vốn góp của công ty con. Tuy nhiên,
có trường hợp vẫn được coi là công ty mẹ mặc dù vốn góp dưới 50% tùy
thuộc vào điều lệ công ty.
Thứ ba, công ty mẹ là công ty nắm giữ quyền chi phối, kiểm soát công
ty con. Việc kiểm soát, chi phối của công ty mẹ đối với công ty con thể hiện ở
của một số nước như Cộng hòa Liên bang Nga thì công ty con không được phép
nắm giữ cổ phần của công ty mẹ [28, tr. 22]. Ở Việt Nam, pháp luật chưa thấy
quy định về vấn đề này và trên thực tế cũng chưa thấy xuất hiện trường hợp
công ty con nào đầu tư ngược trở lại công ty mẹ để trở thành công ty mẹ.
Thứ năm, công ty mẹ không bị ràng buộc hay phải chịu trách nhiệm
liên đới đối với các nghĩa vụ tài sản của công ty con. Các công ty tự chịu
11
trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài chính khác bằng tài
sản của mình, không sử dụng tài sản của công ty này để trả nợ cho công ty kia.
Với năm đặc trưng trên đây thì đặc trưng cơ bản nhất của mô hình
công ty mẹ - công ty con là đặc trưng về sở hữu vốn của công ty mẹ với công
ty con và sự kiểm soát chi phối của công ty mẹ đối với công ty con. Việc sở
hữu vốn quyết định việc kiểm soát chi phối của công ty mẹ với công ty con.
Công ty mẹ thường tiến hành kiểm soát đối với các công ty con bằng
cách bổ nhiệm các thành viên hội đồng quản trị. Đôi khi hội đồng quản trị của
công ty mẹ trở thành hội đồng quản trị của công ty con, trong các trường hợp
khác chúng ta thấy hội đồng quản trị công ty mẹ thường chỉ có đại diện tại hội
đồng quản trị của công ty con. Phương pháp áp dụng tại bất kỳ trường hợp
nào đều sẽ phụ thuộc vào một số các nguyên tắc cơ sở sau đây:
- Bản chất kinh doanh, tình hình công ty con;
- Mức độ hiểu biết chuyên môn cần thiết đối với hội đồng quản trị;
- Sở thích của các thành viên hội đồng quản trị công ty mẹ.
Sau đây là một ví dụ minh họa về cách quản trị trong mô hình công ty
mẹ, công ty con, đó là Công ty Điện thoại và Điện tín Mỹ.
Công ty này thống trị ngành công nghiệp điện thoại tại Mỹ. Đây có lẽ
là một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ công ích lớn nhất trên thế giới kiểm
soát các công ty con bao gồm các công ty kinh doanh điện thoại chính với một
hệ thống dây đường dài trên phạm vi toàn quốc; công ty cũng là nhà sản xuất
thiết bị điện thoại hàng đầu. Vốn cổ phần của công ty được nắm giữ bởi trên
chứng về cơ cấu hợp nhất đó tại Mỹ trước năm 1850 và tại Ôxtrâylia là trước
Thế chiến I. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 30 đến 40 năm qua, chúng đã chiếm vị
trí quan trọng trong các lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Hình thức tổ
chức này đã phát triển tới mức độ một công ty độc lập - công ty không phải là
một đơn vị trong tập đoàn công ty mẹ - giờ đây đã trở thành ngoại lệ chứ
không phải là một quy tắc. Xấp xỉ 70% số lượng niêm yết trên Sở giao dịch
13
chứng khoán Melbourne là các công ty mẹ với tổng số vốn đã góp vượt quá
85% của tất cả các công ty niêm yết. Tuy nhiên, cũng phải chấp nhận rằng có rất
nhiều các liên kết bao gồm một công ty mẹ nắm giữ cổ phần của một công ty
con và thường xuyên chỉ có công ty con tham gia vào các hoạt động giao dịch.
Người ta đã nói rằng, công ty mẹ "giờ đây trở thành một phần thiết
yếu của cơ cấu kinh doanh quy mô lớn mà nếu phá bỏ chúng hậu quả sẽ rất
nghiêm trọng, nếu không nói là mang tính sống còn đến tính hiệu quả của
ngành công nghiệp Mỹ". Nhận xét này cũng có thể áp dụng được đối với
trường hợp của Ôxtrâylia [25, tr. 9].
Tổ chức và kiểm soát
Công ty mẹ có thể thành lập nhằm mục đích sáp nhập một số những
doanh nghiệp hiện tại với mục tiêu tăng hiệu quả kinh tế hoạt động, loại trừ cạnh
tranh, đảm bảo được nguồn cung cấp nguyên liệu hoặc vì những lý do khác.
Các doanh nghiệp cùng ngành và với cùng mục tiêu thường được sáp
nhập để có được một doanh nghiệp quy mô lớn hơn và để loại trừ những cạnh
tranh không cần thiết; sự hợp nhất đó được đề cập đến như là sự mở rộng theo
chiều ngang và có những giới hạn rất rộng mà trong đó có thể gia tăng tính
hiệu quả và tăng tính kinh tế. Tuy nhiên, sự mở rộng cũng có thể được tiến
hành theo chiều dọc; đó là giữa những tổ chức không cạnh tranh với nhau, về
bản chất thì tiến hành các hoạt động kinh doanh mang tính bổ sung lẫn nhau,
ví dụ như khi một doanh nghiệp chế tạo được sáp nhập với một tổ chức sản
xuất nguyên liệu sử dụng trong quá trình hoạt động chế tạo của mình hoặc với
Anh quốc, Ôxtrâylia và Niu Dilân có các quy định tạo điều kiện cho công ty
mua được mua cổ phiếu của số cổ đông thiểu sổ bất đồng ý kiến, miễn là chín
phần mười cổ đông đồng hạng đã thông qua phương án bán cổ phiếu.
Trong trường hợp sáp nhập, cần thiết phải tiến tới định giá cổ phiếu tại
các công ty khác nhau tham gia sáp nhập. Cho đến nay, vì những cổ phiếu này
được đảm bảo bằng những tài sản vật chất nên không có khó khăn gì và nói
15
chung thường đi đến nhất trí một công thức thống nhất để định giá. Tuy
nhiên, có những trường hợp mà không phải lúc nào cũng có thể thống nhất về
một công thức định giá do thiếu số liệu làm cơ sở cho công thức định giá.
Một trường hợp như vậy xảy ra gần đây được chú ý vì có cách giải
quyết rất hay. Vụ việc có liên quan đến ba công ty tham gia vào các lĩnh vực
kinh doanh mang tính bổ trợ lẫn nhau. Các thành viên hội đồng quản trị đều
nhất trí cần thiết phải thực hiện việc sáp nhập cổ phần bằng phương pháp để
công ty mẹ có thể điều phối các hoạt động và để mở rộng ra những lĩnh vực
sản xuất mới. Tuy nhiên, người ta đã vấp phải một số khó khăn trong việc
định giá uy tín công ty, vì hai trong số công ty đó mới thành lập được thành
lập gần đây, nhưng theo thông lệ được chấp nhận chung thì uy tín của từng
công ty cũng có giá trị.
Cơ cấu tổ chức được sắp xếp như sau:
(1) Một công ty mới được thành lập để tiến hành các hoạt động sản
xuất mới và để tiến hành mua cổ phần tại 3 công ty con nói trên;
(2) Vốn đã góp của các công ty con, tất cả đều được biểu thị bằng cổ
phiếu thường, được cơ cấu lại bằng cách phát hành cho các cổ đông một số
lượng tương đương cổ phiếu hưởng lãi sau. Các cổ phiếu thường được quyền
ưu đãi khi phân phối lợi nhuận khoản cổ tức là 10% sau khi đã trích lập dự
phòng thích hợp; số dư còn lại sẽ được phân phối như là cổ tức của cổ phiếu
hưởng lãi sau;
(3) Công ty mẹ mua tất cả các cổ phiếu thường bằng cách phát hành
Khi không muốn can thiệp vào uy tín và danh tiếng của một doanh
nghiệp hiện tại, mô hình công ty mẹ đặc biệt thích hợp, vì nó rất dễ tổ chức:
Chỉ cần mua đa số cổ phiếu có quyền biểu quyết, không làm phiền đến các
chủ nợ, cổ đông ưu đãi, hoặc bất kỳ cổ đông thường chiếm thiểu số nào vì họ
có thể muốn giữ lại cổ phần của họ.
17
Các ưu điểm của việc kiểm soát tập trung và quản lý phi tập trung có
thể được kết hợp với nhau. Kiểm soát tập trung đảm bảo áp dụng một chính
sách thống nhất trên phạm vi cả tổ chức, trong khi các hội đồng quản trị riêng
biệt và các nhân viên quản lý hành chính riêng biệt đối với từng công ty con
thường có tác dụng khiến các doanh nghiệp đó hoạt động hiệu quả hơn và
kinh tế hơn khi tất cả được quản trị từ một điểm tập trung.
Rất nhiều các ưu điểm về tính kinh tế trong hoạt động có thể đạt được:
Trong lĩnh vực tiếp thị bằng cách giao từng công ty con đảm nhiệm vùng lãnh
thổ mà công ty con có thể cung cấp tiện lợi nhất và kinh tế nhất; trong lĩnh vực
quảng cáo bằng cách loại trừ hoạt động quảng cáo mang tính chất gây hại đến
nhau; trong lĩnh vực mua hàng thông qua năng lực đặt mua hàng với khối lượng
lớn; trong nghiên cứu bằng cách tránh trùng lắp, điều không thể tránh được
nếu các tổ chức nghiên cứu làm việc độc lập với nhau; về kỹ thuật, thông qua
cùng chia sẻ kinh nghiệm kỹ thuật; trong quản lý bán hàng thông qua việc loại bỏ
yếu tố cạnh tranh có thể dẫn đến chiến tranh giá cả và giá bán không kinh tế.
Trong lĩnh vực chế tạo, tổ chức công ty mẹ thường được hình thành
theo mong muốn hoặc nhu cầu cần thiết phải kiểm soát nguồn cung ứng
nguyên vật liệu, tổ chức có sở hữu những nguyên vật liệu đó thường được
thâu tóm làm công ty con. Trong trường hợp các nhà sản xuất trong cùng lĩnh
vực kinh doanh kết hợp lại với nhau, có thể tăng hiệu quả kinh tế đáng kể
thông qua việc tập trung và chuẩn hóa các phân loại sản phẩm và chuyên môn
hóa nhà máy sản xuất bằng cách phân cho từng nhà máy sản xuất các sản
phẩm nhất định có thể được chuyên môn hóa.
công ty, do có thể đảo ngược việc hợp nhất một cách dễ dàng khi kết quả
không được như mong muốn [25, tr. 14].
Những bất lợi và lạm dụng
Một số những lợi thế được đề cập trong một số trường hợp có thể lại
là những yếu tố bất lợi và một số khía cạnh có thể sẽ bị lạm dụng; những yếu
19
tố mà các thành phần kiểm soát của công ty mẹ coi là những lợi thế lại có thể
trở thành những điểm bất lợi cho xã hội.
Người ta nói rằng, các công ty mẹ có xu hướng tạo ra các thế độc quyền
và tập trung kiểm soát doanh nghiệp lớn nằm trong tay một số ít các ông chủ -
những cá nhân có thể coi thường các trách nhiệm công cộng bằng cách khai
thác những lợi ích của hiện trạng kinh tế hùng mạnh tại địa điểm của tổ chức
đó. Những lời cáo buộc sau đây được đưa ra để phán xét Công ty Dầu
Standard của Mỹ, công ty này bị Tòa án Liên bang giải thể vào năm 1912 và
thường được nêu làm ví dụ để minh họa cho nguy cơ này.
Công ty tiến hành bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh có ít
vốn hơn cho đến khi các đối thủ cạnh tranh bị loại ra khỏi lĩnh vực kinh
doanh. Thực tế, nếu đối thủ cạnh tranh có quy mô nhỏ hơn và giao hàng với
giá rẻ hơn, thì cả phương pháp lẫn kết quả của hành động này hoàn toàn đáng
lên án. Người ta còn buộc tội công ty đã ngăn các giếng dầu không cung ứng
cho những đối thủ cạnh tranh này bằng cách đề xuất mua dầu thô với giá cao
hơn và do quy mô và tầm quan trọng của công ty, công ty đã có thể loại bỏ
một công ty đường sắt này so với công ty đường sắt khác về vấn đề chi phí
vận chuyển và giành cho mình những ưu đãi.
Hơn nữa, nó thành lập nên những công ty độc lập và thương hiệu cạnh
tranh ma để bảo vệ thế độc quyền của mình và duy trì các mức giá cao tại
những nơi có ít cạnh tranh. Phương pháp hoạt động là để cho các công ty ma
do Công ty Dầu Standard kiểm soát chào bán dầu chất lượng cao với giá thấp
tại những nơi cần phải loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, và công ty ma này sẽ