Pháp luật về mô hình công ty mẹ công ty con và thực tiễn tổng công ty chè việt nam - Pdf 52

®¹i häc quèc gia hµ néi
khoa luËt

lª anh linh

PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ CÔNG TY CON VÀ THỰC TIỄN TỔNG
CÔNG TY CHÈ VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi 2008


đại học quốc gia hà nội
khoa luật

lê anh linh

PHP LUT V Mễ HèNH CễNG TY M - CễNG TY
CON V THC TIN TNG CễNG TY CHẩ VIT
NAM
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 50

luận văn thạc sĩ luật học

Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Hà nội - 2008

Những đặc trưng pháp lý mô hình công ty mẹ - công ty con

9

1.1.3.

Cơ cấu tổ chức của công ty mẹ

12

1.1.4.

Cơ cấu tổ chức của công ty con

25

1.1.5.

Mối quan hệ giữa các công ty trong mô hình công ty mẹ và
công ty con

26

1.1.6.

Vai trò của chủ sở hữu nhà nước với các tập đoàn theo
mô hình công ty mẹ - công ty con

29


45

42

VIỆT NAM THEO MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG
TY CON

2.1.

Thực tễn của việc chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ công ty
con

45


2.2.

Thực tễn của việc chuyển đổi sang mô hình công ty mẹ

49

- công ty con
2.3.

Sự cần thiết phải điều chỉnh cơ cấu của Tổng công ty Chè

52

Việt Nam khi tiến hành cổ phần hóa
2.3.1.


2.5.

Các vướng mắc, bất cập trong quá trình chuyển Tổng công

54

ty Chè Việt Nam sang mô hình công ty mẹ - công ty con
2.5.1.

Vấn đề làm chủ của người lao động

64

2.5.2.

Các chế độ chính sách về cổ phần hóa ban hành chậm

64

và thường xuyên thay đổi
2.5.3.

Vị trí của các đơn vị sản xuất thuộc công ty mẹ

65

2.5.4.

Mâu thuẫn trong việc xác định giá trị vườn chè


Quan hệ giữa mẹ và con còn lỏng lẻo

72

2.6.

Bài học kinh nghiệm từ thực tiễn chuyển đổi Tổng công ty

73

Chè Việt Nam sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ công ty
con


Chương 3:

KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

76

MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON

3.1.

Định hướng của Đảng về việc hoàn thiện pháp luật về mô

76

hình công ty mẹ - công ty con

84

chuyển đổi Tổng Công ty Chè Việt Nam sang mô hình
công ty mẹ - công ty con
3.2.5.

Kiến nghị về việc kiện toàn và đổi mới hoạt động của Tổ

85

công tác liên ngành - Ban Đổi mới doanh nghiệp Trung
3.2.6.

ương
Kiến nghị về thủ tục hành chính trong vấn đề chuyển đổi

85

doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty
con
3.2.7.

Tăng cường sức mạnh của tổ hợp công ty mẹ - công ty con

86

KẾT LUẬN

87


Việc tự do hóa các hoạt động đầu tư, thương mại, mở rộng liên
doanh, liên kết, góp vốn cổ phần, đầu tư thâm nhập lẫn nhau giữa các doanh
nghiệp, các thành phần kinh tế, đặc biệt là cổ phần hóa các doanh nghiệp
nhà nước đã làm thay đổi đáng kể quan hệ giữa các doanh nghiệp, trong
đó có quan hệ giữa thành viên với tổng công ty và giữa tổng công ty với các
doanh nghiệp khác ngoài tổng công ty. Điều đó đã tạo ra các tiền đề để
chuyển đổi các tổng công ty sang mô hình công ty mẹ - công ty con.
Tuy nhiên, cho đến trước khi ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước
sửa đổi năm 2003, các quy định pháp luật, điều lệ mẫu và quy chế hoạt động
của tổng công ty hầu như không thay đổi. Các tổng công ty 90 và 91 tiếp
tục là sự ghép nối, gom đầu mối các doanh nghiệp độc lập mà thành,
hầu như không có sự đầu tư vốn của doanh nghiệp này vào doanh nghiệp kia
để gắn kết với nhau chặt chẽ về tài chính. Do đó, mô hình tổng công ty
chứa đựng nhiều hạn chế. Một số tổng công ty tuy có đóng góp tích cực cho
phát triển kinh tế đất nước, nhưng chưa có tổng công ty nào trở thành
tập đoàn kinh tế mạnh, tương xứng với tiềm năng và nguồn lực được Nhà
nước trang bị và đầu tư.
Đứng trước các hạn chế của mô hình tổng công ty và tác dụng của mô
hình công ty mẹ - công ty con, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IX) đã đề ra chủ trương thí điểm
chuyển tổng công ty sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con.
Lợi ích của việc chuyển đổi là giúp phân định rõ về vốn, tài sản, quyền lợi,
nghĩa vụ giữa các đơn vị trong tổng công ty; bảo đảm lợi ích của Nhà nước.
Đồng thời, chuyển đổi tổng công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con lại
1


thúc đẩy tổng công ty tến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp thành
viên


nước năm 2003 vẫn còn hình thức tổng công ty do Nhà nước tự đầu tư
3


thành lập. Đây là một hạn chế lớn cần chuyển đổi theo mô hình công ty mẹ
- công ty con. Với xu

4


hướng phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, mô
hình công ty mẹ - công ty con sẽ phát triển với nhiều hình thức đa dạng,
có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế dưới nhiều hình thức sở hữu.
Trong xu hướng chung như vậy, Luật Doanh nghiệp sẽ đóng vai trò chủ đạo
trong việc tạo ra một hành lang pháp lý, điều chỉnh tổ chức và hoạt động của
mô hình công ty mẹ - công ty con. Với sứ mệnh lịch sử đó, Luật Doanh
nghiệp cần phải có sự thay đổi, theo đó, cần bổ sung các quy định mới nhằm
tạo dựng khung pháp lý cần thiết điều chỉnh tổ chức và hoạt động của mô
hình này.
Việc nghiên cứu các khía cạnh pháp lý của mô hình công ty mẹ - công
ty con và chuyển đổi Tổng công ty nhà nước sang mô hình này và thực tiễn áp
dụng đã và đang đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Đây cũng chính là lý do
chúng tôi chọn đề tài: "Pháp luật về mô hình công ty mẹ - công ty con và
thực tiễn Tổng Công ty Chè Việt Nam" để góp phần giải đáp một cách thiết
thực các vấn đề đặt ra từ các quy định của pháp luật cũng như thực
tiễn chuyển đổi Tổng công ty nhà nước sang mô hình công ty mẹ - công ty
con.
2. Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lý luận của đề tài
Mô hình công ty mẹ - công ty con ở Việt Nam hiện nay là một mô
hình hoàn toàn mới. Sau khi cho ra đời các tổng công ty 90, 91 với hy vọng

nhiên, các công trình này mặc dù đã thể hiện sự tiếp cận của các nhà nghiên
cứu với kinh nghiệm pháp luật của các nước về tập đoàn kinh doanh, mô
hình công ty mẹ - công ty con nhưng chưa có công trình nào đi sâu, tập trung
phân tch về mô hình tổ chức hoạt động cũng như đi sâu thực tế tại một
doanh nghiệp chuyển đổi cụ thể.
Trong quá trình phát triển hiện nay, việc nghiên cứu một cách có hệ
thống vấn đề này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đề tài mà tác giả
lựa chọn mang ý nghĩa lý luận cho việc xây dựng khung pháp lý đầy đủ, phù
hợp với pháp luật quốc tế là cơ sở pháp lý để xây dựng mô hình công ty mẹ công ty con. Những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả
thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về công
ty mẹ - công ty con để mô hình hoạt động có hiệu quả, thúc đẩy nền kinh tế
phát triển mạnh mẽ. Tác giả hy vọng và tin tưởng rằng với quá trình nghiên
cứu, tm hiểu một cách nghiêm túc thì kết quả thu được sẽ trở thành một tài
liệu tham khảo có giá trị và sẽ đóng góp một phần nhỏ vào những cơ sở lý
luận pháp lý về mô hình công ty mẹ - công ty con.
7


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các khía cạnh pháp lý, tnh thực tế
cũng như cơ sở lý luận của mô hình công ty mẹ - công ty con. Trong nội dung
trình bày, tác giả sẽ đưa ra các nhận xét, đánh giá thực tễn về sự cần thiết
của việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang mô hình công ty mẹ công ty con, các vấn đề pháp lý, các vướng mắc, bất cập khi chuyển đổi, từ
đó đưa ra các kiến nghị để hoàn thiện khung pháp lý của mô hình công ty mẹ
- công ty con. Luận văn cũng tập trung đi sâu nghiên cứu thực tiễn khi
chuyển đổi Tổng Công ty Chè Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ
- công ty con và kiến giải các bất cập pháp lý trong quá trình chuyển đổi, đề
xuất hướng phát triển tếp theo để xây dựng VINATEA trở thành một tập
đoàn kinh tế mạnh.
4. Phương pháp nghiên cứu

sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50%
số phiếu bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh
đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh
doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp
đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của
Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến
phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp Hội đồng quản trị, ban lãnh đạo.
Theo Luật công ty của Anh năm 1985, công ty mẹ được hiểu là công
ty nắm cổ phần khống chế (trên 50%) ở công ty khác (công ty con). Tuy
nhiên, theo tu chính năm 1989 để phù hợp với "Hướng dẫn chính thức lần
thứ 7 về Luật công ty" (Seventh Company Law Directive) của Cộng đồng châu
Âu (EC) thì (A) là công ty mẹ của công ty con (B) khi:
(1) A là cổ đông nắm giữ đa số phiếu bầu ở B;
(2) A là cổ đông và có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm phần lớn thành
viên Hội đồng quản trị của B;
(3) A có quyền quyết định về chính sách tài chính và sản xuất kinh
doanh của B bằng sự thỏa thuận chính thức, hợp đồng;
(4) A là cổ đông của B và có quyền kiểm soát phần lớn phiếu bầu một
cách độc lập hay liên kết với các cổ đông khác; hoặc
(5) A có quyền lợi tham gia điều hành (partcipatng interest được hiểu là nắm giữ từ 20% cổ phần) và trên thực tế thực hiện quyền chi
phối đối với B hoặc A và B có cùng một cơ chế quản lý thống nhất.


Theo Luật công ty của Cộng hòa Liên bang Nga năm 1995, một công
ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do một công ty
khác - công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốn điều lệ
hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng một thỏa
thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó. Luật không qui định một cách
cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợp
đồng, thỏa thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định của

hành quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như
các nghĩa vụ tài sản của mình. Trong các công ty này, mỗi công ty đều có
quyền và nghĩa vụ riêng biệt, hoạt động trước tiên là vì lợi ích của công
ty mình nhằm thu lợi nhuận tối đa.
Thứ hai, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập
trên cơ sở sở hữu vốn. Theo đó, công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc đầu tư phần
vốn góp chi phối vào công ty con. Tùy theo pháp luật của mỗi nước và điều lệ
của từng công ty quy định mà mức chi phối được thể hiện ở tỷ lệ vốn góp.
Thông thường, công ty mẹ chiếm từ 50% trở lên vốn góp của công ty con. Tuy
nhiên, có trường hợp vẫn được coi là công ty mẹ mặc dù vốn góp dưới
50% tùy thuộc vào điều lệ công ty.
Thứ ba, công ty mẹ là công ty nắm giữ quyền chi phối, kiểm soát công
ty con. Việc kiểm soát, chi phối của công ty mẹ đối với công ty con thể hiện ở
việc tác động tới các quyết định quan trọng của công ty con thông qua người
đại diện phần vốn góp hay người trực tiếp quản lý phần vốn của công ty
mẹ tại công ty con (các thành viên Hội đồng quản trị).
Các luật của Anh quốc và Niu Dilân quy định rằng "một công ty sẽ
được coi là công ty mẹ của một công ty khác nếu, và chỉ nếu khi công ty khác
đó là công ty con của công ty mẹ nói trên". Phụ thuộc vào một số những điều
kiện nhất định, những đạo luật này quy định rằng một công ty là công ty con
của một công ty khác nếu:


(a) Công ty khác đó:
(i) Là thành viên của công ty này và kiểm soát thành phần hội đồng
quản trị; hoặc
(ii) Nắm giữ hơn một nửa giá trị danh nghĩa của vốn cổ phần; hoặc
(b) Công ty đề cập đầu tiên là một công ty con của bất kỳ một công ty
nào là công ty con của công ty khác đó.
Định nghĩa của công ty con trong các đạo luật công ty thống nhất các

sở hữu vốn quyết định việc kiểm soát chi phối của công ty mẹ với công ty
con.
Công ty mẹ thường tiến hành kiểm soát đối với các công ty con bằng
cách bổ nhiệm các thành viên hội đồng quản trị. Đôi khi hội đồng quản trị của
công ty mẹ trở thành hội đồng quản trị của công ty con, trong các trường
hợp khác chúng ta thấy hội đồng quản trị công ty mẹ thường chỉ có đại diện
tại hội đồng quản trị của công ty con. Phương pháp áp dụng tại bất kỳ
trường hợp nào đều sẽ phụ thuộc vào một số các nguyên tắc cơ sở sau đây:
- Bản chất kinh doanh, tình hình công ty con;
- Mức độ hiểu biết chuyên môn cần thiết đối với hội đồng quản trị;
- Sở thích của các thành viên hội đồng quản trị công ty mẹ.
Sau đây là một ví dụ minh họa về cách quản trị trong mô hình công ty
mẹ, công ty con, đó là Công ty Điện thoại và Điện tín Mỹ.
Công ty này thống trị ngành công nghiệp điện thoại tại Mỹ. Đây có lẽ
là một doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ công ích lớn nhất trên thế giới
kiểm soát các công ty con bao gồm các công ty kinh doanh điện thoại chính
với một hệ thống dây đường dài trên phạm vi toàn quốc; công ty cũng là nhà
sản xuất thiết bị điện thoại hàng đầu. Vốn cổ phần của công ty được nắm
giữ bởi trên


600.000 nhà đầu tư và không có nhà đầu tư nào nắm giữ trên 1% của tổng
số vốn cổ phần và công ty được kiểm soát bởi phương pháp quản lý rất thành
công.
Cơ cấu tổ chức được miêu tả như sau:
Công ty Điện thoại và Điện tín Mỹ thuê một loạt các công ty con, mỗi
công ty được quản trị bởi một Hội đồng quản trị riêng biệt, Hội đồng quản
trị





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status