1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN PHẠM QUÝ HƢƠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ
NHẬP KHẨU VÀ THỰC TIỄN TẠI CỤC HẢI QUAN TP
ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – Năm 2014
Hà Nội – Năm 2014
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo
tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn
học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo qui định của Khoa
Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phạm Quý Hƣơng
CHƢƠNG 3 : Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế
XK, thuế NK và nâng cao hiệu quả quản lý thuế XK, thuế NK tại Cục Hải
quan TP Đà Nẵng. 96
3.1. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật quản lý thuế XK, thuế NK : 96
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý thuế XK, thuế NK tại Cục Hải quan TP
Đà Nẵng: 104
3.2.1. Nhóm giải pháp tạo lập và nuôi dưỡng nguồn thu: 104
5
3.2.2. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ nghiệp vụ
cho cán bộ công chức Hải quan. 105
3.2.3. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về hải quan. 108
3.2.4. Triển khai ứng dụng mạnh mẽ kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác quản lý thuế
XNK. 109
3.2.5. Tăng cường công tác chống buôn lậu, chống gian lận thương mại, thanh tra, kiểm
tra sau thông quan. 111
3.2.6. Tăng cường phối kết hợp với chính quyền địa phương các cấp, các cơ quan chức
năng trên địa bàn để quản lý và chống thất thu thuế XNK. 113
3.2.7. Tuyên truyền, giáo dục nâng cao trình độ nhận thức cho đối tượng nộp thuế chấp
hành tốt nghĩa vụ nộp thuế XNK. 114
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
7 DANH MỤC BẢNG BIỂU Trang
Bảng 2.1 69
Bảng 2.2 76
Bảng 2.3 78
Bảng 2.4 79
Bảng 2.5 80
Bảng 2.6 84
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử phát triển của xã hội loài người đã minh
chứng, thuế ra đời là cần thiết, khách quan gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát
triển của nhà nước. Gần đây nhất, Luật quản lý thuế đã được Quốc hội khoá XI
kỳ họp 10 thông qua ngày 29/11/2006. Điều 4 Luật này đã khẳng định: “thuế là
nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp
luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế…”.
Nhà nước để có thể tồn tại, thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ của mình
thì cần phải có nguồn tài chính nhất định. Do vậy, Nhà nước phải dùng quyền
lực chính trị vốn có để tập trung một bộ phận của cải xã hội vào tay Nhà nước.
Việc huy động, tập trung nguồn của cải đó được thực hiện bằng các cách khác
nhau, trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc được gọi là thuế. Trong cấu trúc
hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong
những sắc thuế có ý nghĩa quan trọng, vừa là nguồn động viên ngân sách quốc
gia, vừa là công cụ để điều tiết sản xuất trong nước, đồng thời cũng là đòn bẩy
Cùng với sự đổi mới, hội nhập quốc tế (HNQT), ngành Hải quan nói
chung và Cục Hải quan TP Đà Nẵng nói riêng đã cố gắng, nỗ lực hết mình,
không ngừng đổi mới và phát triển, đã có những bước chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt
kỹ năng nghiệp vụ, biện pháp quản lý cho việc gia nhập này, đặc biệt là thực
hiện và đề xuất hoàn thiện pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu góp phần
quan trọng vào việc giữ gìn nền an ninh và tài chính quốc gia; Nhìn chung, trong
những năm qua hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã đạt được
những kết quả và thành tựu đáng kể, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số tồn
tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại còn phổ biến;
hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu chưa được coi trọng đúng mức dẫn đến còn thất thu cho ngân
sách Nhà nước, chưa đảm bảo công bằng xã hội dẫn đến xuất hiện những khó
khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng tiêu cực cho công tác quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu; bên cạnh đó công tác tuyên truyền pháp luật về thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu cho đối tượng nộp thuế chưa được quan tâm thường xuyên.
Sở dĩ xảy ra tình trạng này phát sinh từ nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như: nguyên
nhân từ nội dung các quy định của pháp luật, chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập
10
khẩu còn kẻ hỡ, dễ bị lợi dụng, nguyên nhân từ năng lực, trình độ quản lý thuế của
cơ quan Hải quan còn hạn chế,
Xuất phát từ những tồn tại trong quản lý thuế XK, thuế NK nêu trên đòi
hỏi cơ chế chính sách pháp luật phải luôn được quan tâm hoàn thiện để nâng cao
hiệu lực, hiệu quả trong quản lý; đó là kiểm soát cho được tất cả các đối tượng
nộp thuế, chịu thuế, hạn chế thất thu ở mức thấp nhất, đảm bảo thu đúng, thu đủ,
kịp thời các khoản thu nộp ngân sách nhà nước(NSNN), kích thích sản xuất kinh
doanh phát triển, khuyến khích đầu tư, xuất khẩu, tạo việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định tình hình chính trị,
kinh tế. Vì vậy, pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn
áp dụng thi hành là một đề tài có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn.
thuế XK, thuế NK; đưa ra một cái nhìn tổng quát nhất các vấn đề lý luận về quản
lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thực trạng pháp luật
Việt Nam và thực tiễn áp dụng về vấn đề này tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng. Với
mục đích như trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước trong
lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu; quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
- Phân tích, đánh giá khái quát các quy định của pháp luật về quản lý thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn áp dụng như: cơ quan quản lý thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu; thủ tục hành chính quản lý thuế cơ bản như khai thuế, ấn
định thuế, thu nộp thuế; miễn, giảm, hoàn thuế; kiểm tra, thanh tra thuế; xử lý vi
phạm pháp luật vê thuế…
- Trên cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu,
nhập khẩu tại Cục Hải quan TP Đà Nẵng để rút ra những thành công, hạn chế,
nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với thuế XK, NK của Cục Hải quan TP Đà Nẵng.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định hiện hành về quản lý nhà
nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam; các cam kết quốc tế
về lĩnh vực này mà Việt Nam đã ký kết, tham gia cũng như một số quy định liên
quan về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, xác định theo các giới hạn sau:
- Đối với vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, luận văn chỉ nghiên cứu khái niệm thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu, quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;
12
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động
quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT
KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
1.1. Những vấn đề lý luận về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
* Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
Trong xu thế hội nhập quốc tế nước ta đã và đang từng bước hòa mình để
phát triển kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại.Việc buôn bán, trao đổi hàng
hóa giữa nước ta với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới ngày càng
đa dạng phong phú. Mỗi quốc gia độc lập và có chủ quyền đều sử dụng một loại
thuế thu vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới và cửa khẩu của quốc
gia mình. Thuế đánh vào hàng hóa trong các trường hợp này được gọi chung là
thuế quan. Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam thì thuế quan được gọi với
tên chung là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và là loại thuế độc lập trong hệ
thống pháp luật thuế Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Đây là loại thuế
ngoài chức năng huy động nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước (NSNN) còn bảo
hộ sản xuất, cân đối nền kinh tế và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại
thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.
Luật Thuế XK, NK hàng mậu dịch 1987 là luật thuế đầu tiên được
Quốc hội khóa VIII thông qua; Đây là loại thuế đầu tiên của nước CHXHCNVN
được ban hành bằng hình thức luật khá hoàn chỉnh nhằm tăng cường các hoạt
động XK, NK; Trong những năm tiếp theo do sự thay đổi của chính sách kinh tế
và hoàn cảnh kinh tế xã hội của đất nước mà Nhà nước ta đã ban hành luật thuế
XK, NK có sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế của từng giai đoạn vào
các năm 1991, 1993, 1998, 2005; Và cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một
khái niệm đồng nhất về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Theo từ điển kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu là khoản
thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử
dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước
khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài”. [34]
14
thuế quan và từ khu phi thuế quan đưa vào tiêu thụ trong nước.
15
- Thuế XK, thuế NK là một loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế XK,
thuế NK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu
giá cả của hàng hóa XK, NK. Vì vậy, thuế XK, thuế NK là một yếu tố cấu thành
trong giá cả hàng hóa XK, NK; người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK,
NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa XK, NK. Nhà nước thu
thuế XK, thuế NK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng
hóa XK, NK.
1.1.2. Khái niệm, vai trò của quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1.1.2.1. Khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
Quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một trong những lĩnh vực quản
lý chuyên ngành. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu trước hết cần tiếp cận khái niệm quản lý.
Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các hoạt động
theo những yêu cầu nhất định”.
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học “Quản lý là điều
khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật
hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý
muốn của người quản lý và nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [45,
tr.258].
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích: “quản lý
là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được
mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết
phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung” [45, tr.258].
Mary Parker Follett (1868-1933) cho rằng quản lý là “Nghệ thuật đạt được
các mục tiêu của tổ chức thông qua con người”
Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, đã nói đến
quản lý là nói đến các hoạt động và một loạt các nhiệm vụ mà người quản lý
Nhờ đó, một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung vào ngân sách nhà
nước để đảm bảo nhu cầu chi tiêu, giúp nhà nước thực hiện các chức năng và
nhiệm vụ của mình. Nguồn thu thuế xuất khẩu, nhập khẩu luôn chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng nguồn thu ngân sách quốc gia. Đảm bảo nguồn thu từ thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu là vai trò quan trọng hàng đầu của công tác quản lý nhà
17
nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà nước cần
phải tăng thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bằng mọi giá. Một tỉ lệ thu thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu hợp lý và ổn định sẽ vừa kích thích nền kinh tế phát
triển, hiệu quả vừa đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu của
nhà nước. Vì vậy, vai trò đảm bảo nguồn thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là
một trong những vai trò quan trọng . Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, với xu
thế hội nhập và cắt giảm thuế quan thì nguồn thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu ngày càng giảm, vì vậy việc quản lý thuế xuất khẩu, nhập khẩu và đảm bảo
nguồn thu là rất khó.
* Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Kiểm soát hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là mục tiêu chủ chốt của mỗi
quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và thế
giới. Thông qua việc quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cơ quan nhà
nước sẽ quản lý được số lượng, loại hình hàng hóa thực xuất khẩu, nhập khẩu, từ
đó kiểm soát được tất cả hàng hóa xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và hàng hóa nhập
khẩu vào thị trường Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước đưa ra
chính sách pháp luật phù hợp đối với hoạt động xuất nhập khẩu, cho phép xuất
khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào, cấm xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa nào.
* Bảo hộ sản xuất trong nước
Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có
vai trò quan trọng trong việc bảo hộ sản xuất trong nước. Nhà nước sẽ sử dụng
công cụ thuế nhập khẩu theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Thông qua các chính
sách đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Nhà nước tác động vào giá cả hàng
đều xây dựng một biểu thuế quan. Biểu thuế quan là một bảng tổng hợp quy định
một cách có hệ thống các mức thuế quan đánh vào các loại hàng hóa chịu thuế
khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Biểu thuế quan có thể được xây dựng dựa trên
phương pháp tự định hoặc phương pháp thương lượng giữa các quốc gia. Vì vậy,
quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vai trò quan
trọng trong việc thực hiện chính sách đối ngoại với từng quốc gia.
1.1.3. Những thành tố cơ bản trong quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1.1.3.1. Cơ chế quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
Theo từ điển tiếng Việt: “Cơ chế là phương thức hoạt động theo đó một quá
trình nào đó được thực hiện” [35, tr.207].
19
Theo cách định nghĩa này thì cơ chế quản lý thuế nói chung có thể hiểu là
phương thức quản lý thuế mà Nhà nước sử dụng để quản lý quá trình thu nộp thuế
từ các đối tượng nộp thuế cho NSNN.
Trong khoa học quản lý: “Cơ chế quản lý là hệ thống các quy tắc điều chỉnh
các hành vi, hoạt động của các chủ thể trong hệ thống quản lý; là hệ thống các
biện pháp, hình thức, cách thức tổ chức, điều khiển nhằm duy trì các mối quan hệ
giữa các chủ thể trong hệ thống quản lý đó phù hợp với những quy luật khách
quan theo mục tiêu đã xác định để bảo đảm cho hoạt động của hệ thống thông
suốt. Vì vậy, khi nghiên cứu cơ chế quản lý, người ta không chỉ chú ý đến cơ chế
vận hành các yếu tố cấu thành của nó mà còn phải chú ý nhiều hơn đến mối liên
hệ và tác dụng của các yếu tố cấu thành trong tổng thể hệ thống đó. Cơ chế quản
lý tác động sâu sắc đến hiệu quả quản lý. Do vậy, hiệu quả quản lý là một trong
những tiêu chuẩn quan trọng đánh giá tính đúng đắn của cơ chế quản lý” [42].
Trong quản lý thuế XK, thuế NK, người nộp thuế có trách nhiệm thực hiện
nghĩa vụ thuế với Nhà nước theo pháp luật qui định, còn cơ quan quản lý thuế XK,
NK (cơ quan Hải quan) được giao trách nhiệm tổ chức, điều hành, giám sát và bảo
đảm việc thực hiện pháp luật thuế và thu tiền thuế cho NSNN.
Trên cơ sở này đã hình thành mối quan hệ quản lý, trong đó, trách nhiệm và
quản lý rủi ro, kiểm tra, thanh tra về thuế, kiểm tra sau thông quan để phát hiện,
xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế của người nộp thuế.
Việc kiểm tra, thanh tra, kiểm tra sau thông quan của cơ quan thuế (Hải quan) đối
với người nộp thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá những
rủi ro để lựa chọn chính xác những trường hợp cần thanh tra, kiểm tra, kiểm tra
sau thông quan thuế để chi phí quản lý và không gây phiền hà cho người nộp thuế.
Như vậy, thực hiện cơ chế tự khai, tự nộp thuế không phải buông lỏng sự quản lý,
giám sát người nộp thuế mà cơ quan quản lý thuế (Hải quan) thực hiện quản lý,
giám sát bằng phương pháp mới hiện đại, hiệu quả hơn. Cơ chế quản lý thuế này
giúp tạo được sự cân bằng giữa hai chức năng chủ yếu của cơ quan quản lý thuế
(hải quan) là chức năng phục vụ và chức năng giám sát, kiểm tra hoạt động tuân
thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế; tạo nên sự kết hợp hài hoà vai trò của
cơ quan quản lý thuế (Hải quan): Một cơ quan công quyền thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về thuế XK, NK và đồng thời là một cơ quan cung cấp dịch vụ
thuế XK, NK cho cộng đồng DN và xã hội.
1.1.3.2. Mô hình tổ chức quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
21
- Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng
Là mô hình cơ quan quản lý thuế XK, NK, trong đó Tổng cục Hải quan tổ
chức bộ máy thành các bộ phận riêng rẽ để thực hiện một hoặc một số chức năng
nhất định trong qui trình quản lý đối với tất cả các loại thuế, như: Cục thuế xuất
nhập, Phòng tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế, Phòng xử lý tờ khai và dữ
liệu về thuế, Vụ Thanh tra thuế và Phòng Thanh tra thuế , Cục Hải quan địa
phương và từ các đơn vị này lại có phòng thuế XNK và các phòng ban thuộc Cục,
các Chi cục trực thuộc Cục. Mỗi đơn vị thực hiện một hoặc một số chức năng
quản lý thuế có quan hệ mật thiết với nhau để quản lý đối với tất cả các đối tượng
nộp thuế theo chức năng được phân công thực hiện. Mô hình tổ chức này có ưu
điểm:
- Có thể thích ứng với những thay đổi về chính sách thuế và người nộp
1.2.1 Khái niệm, cấu trúc pháp luật quản lý thuế XK, thuế NK:
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế XK, thuế NK:
Theo TS. Nguyễn Thị Thương Huyền: “Xét về lý thuyết, pháp luật thuế bao
gồm: pháp luật vật chất hay còn gọi pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục hay
còn gọi pháp luật hình thức; Trong đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh
chính sách thuế, còn pháp luật thủ tục quy định các vấn đề về quản lý thuế” [36,
tr.51].
Cùng với quan điểm trên, chúng tôi cho rằng: Pháp luật quản lý thuế XK,
NK là bộ phận quan trọng trong pháp luật thuế ở mỗi quốc gia, là công cụ chủ yếu
được nhà nước sử dụng để thực hiện công tác quản lý thuế XK, NK. Pháp luật
quản lý thuế XK, NK có phạm vi điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
hoạt động quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của nhà nước, hay nói cách
khác là các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện các qui định pháp
luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Các quan hệ mà pháp luật quản lý thuế
điều chỉnh khá đa dạng; Nếu căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ thì pháp luật
quản lý thuế XK, NK điều chỉnh các nhóm quan hệ sau:
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế (cơ quan hải quan) với người nộp thuế
phát sinh trong quá trình quản lý thu, nộp các loại thuế liên quan đến hoạt động
XK, NK (thuế XK, NK; thuế GTGT; thuế BVMT ).
23
- Quan hệ giữa cơ quan quản lý thuế (cơ quan hải quan) với các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến quản lý thuế XK, NK. Nhóm quan hệ này chủ yếu
liên quan đến việc cung cấp thông tin về người nộp thuế và phối hợp với cơ quan
quản lý thuế trong việc tuyên truyền, hỗ trợ và trong cưỡng chế thi hành các quyết
định hành chính thuế.
- Quan hệ phát sinh trong nội bộ cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan).
Nhóm quan hệ này liên quan đến việc tổ chức bộ máy quản lý thuế (cơ quan Hải
quan) và phân định, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền giữa các cơ quan, bộ phận
trong hệ thống cơ quan quản lý thuế (cơ quan Hải quan).
Huyền nhận xét: “Luật Quản lý thuế Việt Nam đã phản ánh, ghi nhận khá đầy đủ,
toàn diện các nội dung của quản lý thuế và đặc biệt có thêm nhiều nội dung mới
như: Nguyên tắc quản lý thuế; Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có
liên quan trong quản lý thuế; Hợp tác quốc tế về quản lý thuế; Xây dựng lực lượng
quản lý thuế; Hiện đại hoá công tác quản lý thuế; Tổ chức kinh doanh dịch vụ làm
thủ tục về thuế; Thông tin về người nộp thuế; Gia hạn nộp thuế; Xoá nợ thuế;
Cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế v.v Hoặc các vấn đề có quy định
tại các Luật thuế và văn bản hướng dẫn thi hành nhưng khó có thể quy định được
chi tiết, cụ thể như: Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền phạt; Xử lý số tiền thuế nộp
thừa; Nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; Trách nhiệm hoàn
thành nghĩa vụ nộp thuế; Các biện pháp áp dụng trong thanh tra thuế đối với
trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế; Cưỡng chế thuế v.v.” [36, tr52]
Pháp luật quản lý thuế XK, NK dù được xây dựng, thiết kế theo xu hướng
nào thì giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật thuế XK, NK bao giờ cũng cần có
mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau. Pháp luật về thuế XK, NK là cơ sở,
là tiền đề để xây dựng và hoàn thiện pháp luật quản lý thuế. Bởi vì, pháp luật quản
lý thuế gắn với việc tổ chức thực hiện các luật thuế trong đó có luật thuế XK, NK,
đưa luật thuế vào cuộc sống, hiện thực hoá các quy định của luật thuế. Cho nên, sự
thay đổi pháp luật thuế XK, NK tất yếu kéo theo sự thay đổi ít nhiều của pháp
luật quản lý thuế. Ngược lại, pháp luật quản lý thuế có vai trò hết sức quan trọng
và tác động rất lớn đến pháp luật thuế XK, NK. “Hiệu quả của các Luật thuế phụ
thuộc khá lớn vào pháp luật quản lý thuế. Cho dù các luật thuế phản ánh chuẩn
xác, khoa học về chính sách thuế nhưng nếu pháp luật quản lý thuế không phù hợp
và thiếu tính khoa học thì tính hiệu quả và mục tiêu của các luật thuế là không đạt
được” [36, tr.52].
25
Kết lại, căn cứ vào nội dung điều chỉnh thì pháp luật quản lý thuế XK, NK
có thế được định nghĩa như sau: Pháp luật quản lý thuế XK, NK là một bộ phận
của pháp luật quản lý thuế quy định về quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của người