BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BIỆN MINH THÀNH
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Văn Phương
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng
viên – TS Nguyễn Văn Phương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Ủy ban nhân dân
VPHC
Vi phạm hành chính
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 2.1. Tình trạng ô nhiễm tại các nhóm làng nghề
34
Bảng 2.2. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm
40
ô nhiễm môi trường làng nghề tại Hà Nội
Bảng 2.3. Kiểm tra, thanh tra cơ sở làng nghề tại Hà Nội
47
Bảng 2.4. Bảng báo giá hệ thống xử lý nước thải
50
MỤC LỤC
Trang
3.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
làng nghề ..................................................................................................... 61
3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
làng nghề đối với cấp Trung ương ............................................................. 61
3.3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
làng nghề đối với Hà Nội .......................................................................... 66
3.4. Các giải pháp tổ chức, thực hiện tại Hà Nội ...................................... 67
KẾT LUẬN ................................................................................................. 78
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một đất nước có nhiều làng nghề. Các làng nghề tập trung
ở nhiều tỉnh, thành, địa phương khác nhau không những mang lại nét văn hóa
truyền thống, bản sắc cho quê hương đất nước mà còn mang lại những lợi ích
kinh tế nhất định.
Trong các địa phương cả nước, Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề nhất.
“Theo Chi cục Bảo vệ môi trường TP Hà Nội, hiện thành phố có 1.350 làng
nghề và làng có nghề, trong đó có 286 làng được công nhận làng nghề truyền
thống. Số làng có nghề phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các huyện:
Phú Xuyên (124 làng), Thường Tín (125 làng), Chương Mỹ (174 làng), Ứng
Hòa (113 làng), Thanh Oai (101 làng), Ba Vì (91 làng),… một số huyện có số
lượng làng có nghề ít như: Thanh Trì (24 làng), Gia Lâm (22 làng), Từ Liêm
(11 làng)…”[1]
Trong thời gian qua, nhiều làng nghề đã được bảo tồn, khôi phục và
phát triển mang lại nhiều tín hiệu tích cực cho đời sống xã hội. Tuy nhiên, đi
kèm với những nét tích cực đó là tình trạng ô nhiễm môi trường trong cả nước
nói chung và Hà Nội nói riêng ngày một phổ biến và nghiêm trọng hơn. Ô
pháp luật bảo vệ môi trường tại các làng nghề ở Việt Nam ,Tạp chí Khoa học
Đại học Quốc gia Hà Nội nêu lên hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề
cũng như các cách giải quyết, khắc phục; bài viết của Nguyễn Trần Điện
(2015) về “Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về môi trường làng nghề
vùng đồng bằng sông Hồng tại Tạp chí Dân chủ và pháp đã đề cập về các
phương hướng, giải pháp hoàn thiện. Ngoài ra còn rất nhiều bài viết khác
mang lại nhiều giá trị tham khảo.
- Về luận án, luận văn: “Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường do
các hoạt động của làng nghề gây ra ở Việt Nam hiện nay” của Lê Kim
Nguyệt (2014, Đại học luật Hà Nội) là luận án đi sâu nghiên cứu về kiểm soát
ô nhiễm môi trường làng nghề bao gồm việc phân tích, bình luận các quy định
về pháp luật hiện hành, thực trạng cũng như các giải pháp hoàn thiện pháp
luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề hiện nay. “Thực hiện pháp luật
về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam”
của Nguyễn Trần Điện (2016, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) là
luận án nghiên cứu về việc thực hiện các quy định pháp luật BVMT làng nghề
trên thực tế tại nhiều tỉnh thành trong đó có Hà Nội, chỉ ra những bất cập, hạn
3
chế của việc thực hiện, áp dụng pháp luật trên thực tế cũng như các giải pháp
khắc phục.
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường
làng nghề cũng như pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề nói
chung. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng các quy định
pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn thành phố Hà
Nội cũng như một số nội dung chưa được đề cập tới đặc biệt là các nội dung
được sửa đổi bổ sung kể từ năm 2014 qua luật BVMT 2014 hay Nghị định số
19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lenin. Các phương pháp nghiên cứu
gồm: phân tích, so sánh, lịch sử, chứng minh, tổng hợp, quy nạp được kết hợp
để triển khai thực hiện đề tài. Trong đó phân tích, so sánh và chứng minh
thông qua khảo sát thực tiễn là những phương pháp chính của luận văn. Cụ
thể như sau:
- Phương pháp phân tích và khái quát hóa được sử dụng để làm sáng tỏ
các căn cứ, cơ sở khoa học cho việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật.
- Phương pháp so sánh sử dụng để đối chiếu, đánh giá pháp luật hiện
hành với các văn bản pháp luật tiền nhiệm, pháp luật nước ngoài và thực tiễn
áp dụng.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận
điểm, các nhận định và các đề xuất phương án xây dựng, hoàn thiện.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Ô nhiễm môi trường làng nghề và pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường làng nghề
Chương 2. Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường làng nghề tại Hà Nội
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường làng nghề.
5
Chương 1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ PHÁP
LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
1.1. Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề
1.1.1. Khái quát về làng nghề
1.1.1.1. Khái niệm làng nghề
6
nghề, là những làng ngoài nghề nông ra còn có thêm một số hoặc nhiều nghề
khác.
(2) Phân loại theo tính chất nghề: (i) làng nghề truyền thống là những làng
nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử và còn tồn tại đến ngày nay; (ii) làng
nghề mới là những làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng
nghề truyền thống hoặc du nhập từ các địa phương khác. Một số làng mới
được hình thành do chủ trương của một số địa phương cho người đi học nghề
ở nơi khác rồi về dạy cho dân địa phương nhằm tạo việc làm cho người dân
địa phương mình.
Khi làng nghề ngày càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, khôi
phục và phát triển làng nghề luôn được coi là một chính sách ưu đãi lớn thì
những tiêu chí để dựa vào đó xem xét, công nhận thế nào là một làng nghề
cũng đã được chú ý và được quy định trong những văn bản pháp luật. Trong
thông tư 116/2006/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn ngày 18/12/2006 về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị
định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành
nghề nông thôn, đã đưa ra một khái niệm về làng nghề: Làng nghề là một
hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các
điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Định
nghĩa này đã giới hạn rất rõ rang phạm vi của một “làng” (thôn, ấp, bản, làng,
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn).
Thế nào là “nghề” (ngành nghề nông thôn sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản
phẩm khác nhau). Tuy nhiên để được công nhận là một làng nghề thì phải đáp
ứng đủ ba tiêu chí cũng đã được nêu rõ tại Thông tư này, đó là:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề
nông thôn;
vật thể truyền thống, có những nghệ nhân tiêu biểu. Nhắc đến sản phẩm của
một làng nghề là nhớ ngay đến địa danh của nó. Những tên làng đã trở thành
niềm tự hào của dân tộc Việt Nam như gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), khảm gỗ
[4]
. />
8
Đồng Kỵ (Bắc Ninh), mây, tre đan, chiếu cói (Hưng Yên) … Hàng hóa của
các làng nghề đã và đang lan rộng, vươn xa ra các nước trên thế giới, góp
phần quảng bá thương hiệu Việt, văn hóa Việt.
Thứ hai, làng nghề Việt Nam mang lại lợi ích kinh tế to lớn
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ hải quan Việt Nam, tháng 5/2015, Việt
Nam đã thu về 20,4 triệu USD từ xuất khẩu hàng mây, tre, cói và thảm, giảm
9,1% so với tháng 4/2015, tính chung từ đầu năm cho đến hết tháng 5/2015,
xuất khẩu mặt hàng này đạt 104,4 triệu USD, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm
2014.Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, tháng 5/2015, Việt
Nam đã thu về 20,4 triệu USD từ xuất khẩu hàng mây, tre, cói và thảm, giảm
9,1% so với tháng 4/2015, tính chung từ đầu năm cho đến hết tháng 5/2015,
xuất khẩu mặt hàng này đạt 104,4 triệu USD, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm
2014. [5]
Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn
hóa đặc sắc, các làng nghề truyền thống còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng
nghề lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích. Đây là một tiềm
năng to lớn để phát triển du lịch làng nghề, đóng góp sự phát triển chung của
nền kinh tế. Nhiều địa phương đã có những cách thức phát triển du lịch làng
nghề, thu hút lượng khách du lịch đến với địa phương ngày càng đông.
Không thể phủ nhận tác dụng của làng nghề trong việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu chính là chuyển
lớn ở địa phương mà còn tạo việc làm cho hàng nghìn lao động nơi khác đến
làm thuê như nghề gốm sứ Bát Tràng (Gia Lâm), đan cỏ tế xã Phú Túc, khảm
trai xã Chuyên Mỹ (Phú Xuyên),…[6] Sự phát triển các sản phẩm xuất khẩu
của làng nghề kéo theo dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu, chuyên chở, kinh
doanh hàng hóa phục vụ ăn uống tại các làng nghề phát triển tạo ra nhiều việc
làm cho người lao động và góp phần phân công lại lực lượng lao động ở nông
thôn. Việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thống là nhân tố
[6]
. Quyết định số 7430-QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2013 về sản phẩm xuất khẩu
chủ yếu của làng nghề Hà Nội 2013-2020
10
quan trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm tăng thu nhập cho hàng triệu
lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi.
Thứ tư, làng nghề Việt Nam có tác động nhất định tới môi trường
Tại các làng nghề hiện nay, sản phẩm được sản xuất từ các nguyên, vật
liệu chủ yếu lấy từ thiên nhiên gần khu vực sản xuất, như nguyên liệu tre,
mây làm đồ thủ công mỹ nghệ; gỗ, tơ tằm, gốm, sứ … Do sự phát triển mạnh
của các làng nghề, nhu cầu xã hội ngày càng nhiều đối với các sản phẩm
truyền thống nên việc khai thác nguyên liệu ngày càng gia tăng, có khả năng
làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái.
Quy mô làng nghề, hình thức tổ chức sản xuất cũng ảnh hưởng đến môi
trường. Các làng nghề thường có quy mô nhỏ, các cơ sở sản xuất tồn tại dưới
các dạng hộ gia đình, các xưởng sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hầu
hết các cơ sở sản xuất đó hoạt động tự phát, mang tính thời vụ theo nhu cầu
của thị trường. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động
sản xuất của làng nghề nhưng vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường lại rất
đất nước. Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống không chỉ mang ý
nghĩa là giữ gìn nét văn hóa truyền thống dân tộc, mà còn tạo ra nhiều công
ăn việc làm cho người dân, giúp người dân nâng cao thu nhập, cải thiện đời
sống. Việc phát triển làng nghề vừa góp phần bảo tồn giá trị văn hóa của dân
tộc vừa nâng cao đời sống của cư dân nông thôn. Giá trị kinh tế, văn hóa, xã
hội của các làng nghề ở Việt Nam là không thể phủ nhận. Hiện nay, trước
thực trạng và nguy cơ có nhiều làng nghề bị mai một theo thời gian, chủ
trương của Đảng và Nhà nước ta là luôn quan tâm, khuyến khích và có những
chính sách ưu đãi đối với làng nghề.
Một vấn đề đặt ra là khi làng nghề được khôi phục và phát triển thì vấn
đề ô nhiễm làng nghề lại xuất hiện. Nguyên nhân do đặc thù về sản xuất nghề
mà nhiều làng nghề ô nhiễm ở mức độ nhất định. Điều này gây ảnh hưởng tới
sức khỏe của người dân trong vùng bị cũng như tới môi sinh thái. Nếu tình
trạng này tiếp diễn trong thời gian dài thì sẽ gây nên sự phát triển không bền
vững của các làng nghề. Vì vậy bảo vệ môi trường làng nghề là việc làm hết
sức cần thiết trong hiện tại và tương lai.
1.1.2. Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề
Có thể hiểu, ô nhiễm môi trường tại làng nghề là sự biến đổi các thành
phần môi trường do hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất
12
trong làng nghề mang lại, không còn phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi
trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu tới sinh vật và con người.
Nhìn chung có ba đặc điểm cơ bản sau:
- Ô nhiễm môi trường trong làng nghề là dạng ô nhiễm cục bộ trên phạm vi
một khu vực nông thôn (thôn, làng, xã)
- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang nét đặc thù của hoạt động sản xuất
theo ngành nghề và loại hình sản phẩm, tác động trực tiếp tới môi trường
+ Ô nhiễm do tiếng ồn: loại ô nhiễm này ảnh hưởng đến sức khỏe con người
khá lớn, gây các loại bệnh về thần kinh, thính giác. Tiếng ồn lớn chỉ tập trung
ở một số làng nghề như cơ khí, đúc, mộc, dệt do các thiết bị máy móc gây ra.
+ Ô nhiễm do mùi và nhiệt: Loại ô nhiễm này do nhiều nguyên nhân khác
nhau, tập trung ở nhiều các làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, nghề
gốm sứ, nghề sử dụng các loại hóa chất và nhiên liệu than, dầu.
- Ô nhiễm môi trường đất: Cũng là một dạng ô nhiễm khá phổ biến ở các làng
nghề. Tình trạng này không chỉ diễn ra ở các làng nghề sản xuất gạch ngói,
vật liệu xây dựng (cát, sỏi …), sản xuất gốm sứ - là những nghề khai thác, sử
dụng nguyên liệu trực tiếp từ tài nguyên đất, mà còn cả ở các làng nghề cơ
kim khí, đúc cán sắt, làm giấy, sản xuất đồ gỗ, tẩy nhuộm, chế biến lương
thực thực phẩm … Một mặt là do các hộ, cơ sở lạm dụng quá mức các loại đất
trong làng để mở rộng mặt bằng sản xuất, làm nhà xưởng, kho tàng, nhà ở cho
người làm công hoặc lần chiếm ao hồ, đất chuyên dùng và đất canh tác nông
nghiệp ở ven làng để làm bãi tập kết vật tư, nguyên liệu, thành phẩm và làm
bãi đổ phế thải, rác thải; mặt khác là do nguồn nước thải, chất thải và nguyên
liệu có chứa hóa chất và các chất độc hại khác gây ra. Nguồn nước thải và các
chất thải độc hại không được xử lý sẽ thấm sâu vào lòng đất, đổ ra đồng ruộng
làm thay đổi thành phần và chất lượng đất, làm ảnh hưởng đến sự phát triển
của cây cối và môi trường sinh thái nói chung.
- Ô nhiễm cảnh quan thiên nhiên và môi trường khu dân cư: Hiện tượng dễ
thấy nhất của dạng ô nhiễm môi trường này ở các làng nghề là tình trạng rác
thải, phế thải và các bãi tập kết vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất ngổn
ngang, bừa bãi ở khắp mọi nơi. Cảnh quan và điều kiện vệ sinh trong làng
cũng như khu ở của dân cư bị xuống cấp hoặc bị phá vỡ. Nhà ở và không gian
14
sinh hoạt của các hộ dân cư chật chội, xen lẫn với nhà xưởng, kho tàng sản
15
+ Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề quy định về
các chủ thể trong quan hệ kiểm soát ô nhiễm môi trường do các hoạt động của
làng nghề gây ra bao gồm các cơ quan Nhà nước và các tổ chức, cá nhân làng
nghề.
+ Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề điều chỉnh các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch
làng nghề gắn với kiểm soát ô nhiễm; quản lý thông tin về môi trường; ban
hành và áp dụng các công cụ, biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường; quy
định trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất kinh
doanh dịch vụ tại làng nghề; trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý
nhà nước, cộng đồng dân cư trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm; xử lý các
hành vi vi phạm để ứng phó, khắc phục trước các vấn đề về môi trường với
mục đích ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường và con
người, góp phần cải thiện môi trường tại các làng nghề.
- Vai trò:
Khi môi trường làng nghề ngày càng trở thành một vấn đề cấp bách thì
vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề là rất
quan trọng. Đối với các cơ quan nhà nước, pháp luật quy định chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan này hoạt
động thực sự hiệu quả. Đối với tổ chức, cá nhân là những chủ trực tiếp khai
thác, sử dụng các thành phần môi trường để phục vụ sản xuất tại làng nghề,
pháp luật đưa ra những định hướng, tiêu chuẩn để giới hạn mức độ tác động
đến môi trường. Đồng thời pháp luật quy định các chế tài buộc các tổ chức, cá
nhân phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường làng nghề, vừa có tác dụng ngăn chặn, vừa có ý nghĩa giáo dục
người dân tôn trọng và thực hiện pháp luật khi tiến hành các hoạt động sản
xuất trong làng nghề.
khuyến khích khôi phục và phát triển làng nghề. Tuy nhiên vấn đề môi trường
tại làng nghề cũng luôn được coi trọng, trong đó đặc biệt chú trọng đến công
17
tác quy hoạch “hình thành các cụm làng nghề” với các kế hoạch, biện pháp xử
lý chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại làng nghề.
Thời gian qua, Quốc hội, Chính phủ đã quan tâm đặc biệt tới công tác
BVMT làng nghề như tổ chức giám sát tối cao về BVMT làng nghề; ban hành
Nghị quyết số 19/2011/QH13 ngày 26/11/2011 về kết quả giám sát và đẩy
mạnh thực hiện chính sách, pháp luật về môi trường tại các khu kinh tế, làng
nghề. Đồng thời, phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô
nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012-2015, trọng tâm là xử lý ô
nhiễm môi trường làng nghề. Ngoài ra, Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết
số 35/NQ-CP về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực BVMT, trong đó xác
định ô nhiễm môi trường tại các làng nghề là một trong những vấn đề “nóng”
của giai đoạn hiện nay và Quyết định số 577/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 phê
duyệt “Đề án BVMT làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030”,
với hai mục tiêu tổng quát là tăng cường công tác BVMT trong quản lý và
phát triển làng nghề trên phạm vi toàn quốc, ngăn chặn phát sinh các làng
nghề ô nhiễm mới; từng bước khắc phục, cải thiện tình trạng ô nhiễm môi
trường tại các làng nghề, bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống
dân cư, góp phần phát triển kinh tế – xã hội khu vực nông thôn bền vững.
Thứ hai, các quy định về xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
Từ những chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, các cơ quan
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường làng
nghề. Cụ thể Luật BVMT 2005, gần đây có Luật BVMT 2014. Bảo vệ môi
trường làng nghề là một trong những vấn đề bức xúc, khó khăn hiện nay. Việc
trường;
b) Bố trí ngân sách cho các hoạt động bảo vệ môi trường làng nghề;
c) Chỉ đạo, tổ chức đánh giá mức độ ô nhiễm và xử lý ô nhiễm môi trường
làng nghề trên địa bàn;
d) Chỉ đạo xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải; khu tập kết, xử lý
chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại cho làng nghề;
đ) Quy hoạch khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề; có kế hoạch di
dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ra khỏi khu dân cư.