BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍTỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. PHẠM HỮU NGHỊ
Hà Nội – 2017
NGUYỄN THỊ VÂN ANHLUẬT KINH TẾ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
2015 - 2017
PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍ TỪTHỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI - 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 01
1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................... 01
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ........................................................................ 02
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn................................................. 04
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ................................................. 05
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu............................................ 05
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn .......................................................... 05
7. Kết cấu của luận văn .......................................................................................... 06
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ ............................................. 07
1.1. Những vấn đề chung về ô nhiễm môi trường không khí và kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí ............................................................................................ 07
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của môi trường không khí ........................................... 07
1.1.1.1. Khái niệm môi trường không khí .............................................................. 07
1.1.1.2. Đặc điểm của môi trường không khí ......................................................... 07
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại ô nhiễm môi trường không khí ................... 08
1.1.2.1. Khái niệm phân loại ô nhiễm môi trường không khí.................................. 08
1.1.2.2. Đặc điểm của phân loại ô nhiễm môi trường không khí ............................ 09
1.1.2.3. Phân loại ô nhiễm môi trường không khí .................................................. 10
1.2. Sự cần thiết của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và khái
niệm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ...................................11
1.2.1. Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí .................................... 11
1.2.2.Khái niệm, vai trò của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
2.2.4. Đánh giá ưu điểm và những hạn chế, bất cập của việc thực hiện pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố Hải Phòng ........................ 73
2.2.4.1. Những ưu điểm và nguyên nhân................................................................ 73
2.2.4.2. Những hạn chế, thiếu sót, bất cập và nguyên nhân .................................... 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 81
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
KHÔNG KHÍ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ......................... 82
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí ............................................................................................ 82
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí ................................................................................................... 83
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ............... 85
3.2.2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí ................................................................................................... 88
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ...................................................................................... 96
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 98
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
BTNMT
Bộ Tài nguyên và Môi trường
BGTVT
HĐND
Hội đồng nhân dân
HST
Hệ sinh thái
IPCC
Tổ chức liên chính phủ về biến đổi khí hậu
KCN
Khu công nghiệp
KHCN
Khoa học công nghệ
KT-XH
Kinh tế - Xã hội
KSÔN
Kiểm soát ô nhiễm
KSÔNKK
SO2
Sunfua điôxít
VOCs
Hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Không khí là một thành phần quan trọng cấu thành môi trường tự nhiên trái
đất, cung cấp điều kiện thiết yếu đảm bảo sự hình thành, tồn tại, phát triển của con
người và các sinh vật. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh của kinh tế xã hội,
bên cạnh những thành tựu, nhân loại cũng đã và đang đối mặt với nhiều mặt trái,
đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí… gây biến đổi khí hậu và suy giảm tầng
ozôn,… đe dọa cuộc sống của con người cũng như sinh vật trên thế giới.
Ở Việt Nam ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối
với xã hội. Công nghiệp hóa càng mạnh, đô thị hóa càng phát triển thì nguồn thải
gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chất lượng
không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khí
càng quan trọng. Thực tiễn này đặt ra vấn đề là phải hoàn thiện các cơ chế nhằm
kiểm soát ô nhiễm không khí có hiệu quả, bảo vệ môi trường, trong đó có việc hoàn
thiện các quy định pháp luật về vấn đề này.Về chính sách, pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí ngày càng hoàn thiện, nhưng vẫn còn bộc lộ nhiều
thiếu sót. Việt Nam hiện vẫn thiếu các quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí đối
với mùi và quy chuẩn môi trường không khí trong nhà. Các chính sách về ưu đãi
liên quan đến sự tham gia của tổ chức, cá nhân vào kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí còn quy định chung chung, chưa rõ ràng, các chính sách, quy định về
trường không khí là vấn đề không chỉ của riêng các đô thị, và là một tác nhân âm
thầm ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cộng đồng, xã hội. Chính vì vậy, việc nhận
diện những bất cập trong hệ thống quy định pháp luật sẽ thật sự có ý nghĩa khi được
các cơ quan chức năng ghi nhận, đánh giá và điều chỉnh trực tiếp vào hoạt động
thực tiễn quản lý trong đời sống xã hội. Do đó, tác giả chọn vấn đề:“Pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí từ thực tiễnthành phố Hải Phòng” là đề
tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chủ đề về môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí và pháp luật
về ô nhiễm môi trường không khí đã được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý quan
tâm nghiên cứu.
2
Trong cuốn “Môi trường không khí”, của giáo sư Phạm Ngọc Đăng, NXB
Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội- 2003, khái niệm môi trường không khí, đặc điểm
của môi trường không khí, vai trò của môi trường không khí và nhu cầu đề ra chính
sách, pháp luật về bảo vệ môi trường không khí đã được đề cập.
Tác giả Đinh Xuân Thắng trong tác phẩm “Ô nhiễm không khí”, NXB Đại
học Quốc gia, TP Hồ Chí Minh, năm 2003 đã phân tích khái niệm ô nhiễm môi
trưởng không khí, tác hại của ô nhiễm môi trường không khí, chỉ ra các nguyên
nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường không khí và đề xuất một số giải pháp kiểm
soát, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam.
Năm 2001 tác giả Vũ Thị Duyên Thủy, Đại học Luật Hà Nội đã viết luận văn
thạc sĩ với đề tài: “Pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam - Thực trạng
và hướng hoàn thiện”. Trong luận văn này, khi khi làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về pháp luật bảo vệ môi trường không khí, tác giả đã phân tích, đánh giá thực
trạng pháp luật bảo vệ môi trường không khí ở Việt Nam và đề xuất phương hướng
và giải pháp hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này.
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận
và thực tiễn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trườngkhông khí (thông qua tìm
hiểu việc thi hành tại thành phố Hải Phòng). Từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm không khí, pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm;
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm
khôngkhí và chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí tại thành phố Hải Phòng.
- Đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
không khí từ thực tiễn thành phố Hải Phòng.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật và thực tiễn thi hành pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
và thực tiễn xoay quanh pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Địa
ô nhiễm môi trường không khí nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường không khí và pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Chương 2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
ở và thực tiễn thi hành tại thành phố Hải Phòng
Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
6
Chương1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ
1.1. Những vấn đề chung vềô nhiễm môi trường không khí và kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của môi trường không khí
1.1.1.1. Khái niệm môi trường không khí
Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều cách hiểu khác nhau về
môi trường. Luật Bảo vệ môi trường 2014 hiện hành định nghĩa “Môi trường là
hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và
phát triển của con người và sinh vật [19]. Cho rằng, môi trường không khí là hỗn
hợp các chất khí bao quanh trái đất và được giữ lại bởi lực hấp dẫn của trái đất,
như nitơ (78,1% theo thể tích) và oxy (20,9%), với một số lượng nhỏ agon (0,9%),
dioxit cacbon (dao động khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí khác có tác
hữu chung của tất cả mọi người, của các quốc gia và của toàn cầu. Môi trường
không khí do tính bao trùm không xác định được ranh giới của nó nên việc xác định
quyền sở hữu về môi trường không khí dường như là điều không thể. Qua đó có thể
khẳng định môi trường không khí là tài sản chung và phải được bảo vệ.
Tóm lại, với tư cách là một trong các thành tố chính cấu thành môi trường
sống, môi trường không khí có vai trò rất quan trọng đối với đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Nếu không có không khí con người và
sinh vật sẽ không thể tồn tại và phát triển được. Mặc dù môi trường không khí có
tầm quan trọng như vậy song môi trường không khí nói riêng đang đứng trước nguy
cơ ô nhiễm ở nhiều nơi và ngày càng trở nên trầm trọng.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại ô nhiễm môi trường không khí
1.1.2.1. Khái niệm phân loại ô nhiễm môi trường không khí
Môi trường không khí ban đầu vốn cân bằng là điều kiện thuận lợi cho con
người và sinh vật tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, khi bị chất ô nhiễm tác động sẽ
làm thành phần môi trường không khí bị biến đổi theo chiều hướng xấu đi gây nguy
hại đến con người và sinh vật. Chất ô nhiễm là một số chất có nồng độ cao hơn mức
8
giới hạn cho phép hoặc thường không có trong không khí. Dưới góc độ vật lý, chất
ô nhiễm là chất và yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi
trường bị ô nhiễm [18]. Dưới giác độ pháp lý “Chất gây ô nhiễm là các chất hóa
học, các yếu tố vật lý và sinh học khi xuất hiện trong môi trường cao hơn ngưỡng cho
phép làm cho môi trường bị ô nhiễm” (khoản 11, Điều 3 [19, 4]).
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù
hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh
vật. Ônhiễm không khí, theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,”là sự thay đổi lớn
trong thành phần của không khí hoặc có sự xuất hiện các khí lạ làm cho không khí
thậm chí là ảnh hưởng đến nhiều quốc gia. Do vậy, mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm
môi trường không khí thường rất lớn.
- Ô nhiễm môi trường không khí thường tác động đến sức khỏe, tính mạng
của con người động, thực vật, tuy nhiên nó không thể hiện ở mức độ cấp tính ngay
mà ngấm dần. Do vậy vấn đề bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
thường không được quan tâm kịp thời.
- Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng lớn đến môi trường không khí
tầm thấp gần bề mặt trái đất mà còn dẫn đến ô nhiễm môi trường không khí tầm xa
làm suy giảm tầng ozon, hay gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính dẫn đến biến đổi
khí hậu toàn cầu gây ra những hiện tượng tự nhiên bất thường, như bão, động đất,
sóng thần, núi lửa phun trào,…
- Thành phần lý hóa cấu thành môi trường không khí khác so với môi trường
đất, môi trường nước. Không khí là một hỗn hợp các chất khí không màu, không
mùi, không vị bao quanh trái đất với những phần tử khí cần thiết bảo đảm sự tồn tại
phát triển bình thường của con người và hệ sinh thái. Do vậy, khi các chất gây ô
nhiễm tác động nó sẽ làm biến đổi thành phần môi trường không khí theo hướng bất
lợi với đời sống của con người và sinh vật.
Mặc dù không khí rất quan trọng với cuộc sống của con người, nhưng nhận
thức của người dân về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí còn chưa đầy đủ.
Rất nhiều các cơ sở công nghiệp, các làng nghề, các cá nhân thường chỉ chú ý đến
lợi ích kinh tế của cá nhân mà quên đi bảo vệ môi trường không khí cho cả cộng
đồng.
1.1.2.3. Phân loại ô nhiễm môi trường không khí
Căn cứ vào nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường không khí, có thể chia ô
nhiễm môi trường không khí thành: Ô nhiễm khí thải, ô nhiễm bụi, ô nhiễm chì Pb,
10
ô nhiễm mùi, ô nhiễm khói, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm ánh sáng, ô nhiễm sóng,…;
11
Từ điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2006 thì: “kiểm soát là xem xét để
phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định”.Hay kiểm soát là kiểm tra, rà soát
để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Theo quan điểm trên thì kiểm
soát thường gắn với sự vận động bất thường khi có vi phạm xảy thì đặt ra vấn đề
phải kiểm soát. Hay theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, kiểm soát ô nhiễm là
một từ dùng trong quản lý môi trường,bao gồm việc kiểm soát phát thải và chất thải
vào không khí, nước và đất. Nếu không có việc kiểm soát ô nhiễm, các chất thải từ
các hoạt động tiêu thụ, sản xuất, vận tải, đốt nhiên liệu tạo nhiệt, và các hoạt động
khác của con người sẽ làm tích tục hoặc phát tán chất ô nhiễm sẽ làm giảm chất
lượng môi trường sống. Trong các cấp kiểm soát, phòng chống ô nhiễm và giảm
thiểu chất thải được xem là các biện pháp hiệu quả [7]. Có thể thấy quan điểm này
hiểu kiểm soát ô nhiễm theo hướng chủ động hơn, bao gồm cả hoạt động phòng
ngừa ô nhiễm.
Kiểm soát là việctheo dõi, kiểm tra, giám sát nhằm nắm được sự việc đang
diễn tiến thế nào, dự báodiễn tiến đến đâu, có đi đúng hướng không để phòng ngừa,
ngăn chặn, xử lý, uốn nắn, điều chỉnh đưa vào trật tự, làm đúng, tốt và có hiệu quả
hơn. Do vậy, kiểm soát không chỉ là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi
phạm mà kiểm soát được đặt ra theo các chiều hướng khác nhau và phải hướng đến
hiệu quả của công việc, tức là hiểu được bản chất, nhằm vào cái chưa hài lòng, chưa
tốt để thực hiện có hiệu quả. Có thể thấy kiểm soát vốn đời sống nó đã có, tuy nhiên
mức độ ban đầu người ta kiểm soát hành vi vi phạm, ngày nay kiểm soát được hiểu
rộng hơn không chỉ kiểm soát vi phạm mà còn là dự báo, cảnh báo, phòng ngừa,
ngăn chặn nắm được hoạt động của nó và uốn nắn theo hướng nhất định (kiểm soát
chủ động).
Theo quan điểm được ghi nhận trong Giáo trình Luật Môi trường của Đại
học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân năm 2011 thì “kiểm soát ô nhiễm môi
nhiễm môi trường và khi họ vi phạm thì phải chịu trách nhiệm pháp lý. Góp phần
đảm bảo công lý phải được thực thi bởi các chủ thể có chức trách, nhiệm vụ rõ ràng
và tránh tạo nên quá nhiều hiệp sĩ đường phố mà về mặt pháp lý cũng như thực tiễn
họ không đủ khả năng có thể thực hiện, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang
23. Tổng cục Môi trường - Cục Kiểm soát ô nhiễm: Nhiệm vụ điều tra, khảo sát, xây dựng các bộ tiêu chí
khoanh vùng ô nhiễm và đề xuất dự án xây dựng bản đồ ô nhiễm trên phạm vi toàn quốc, Hà Nội 2010.
13
xây dựng Nhà nước pháp quyền thì việc nhấn mạnh trách nhiệm này là cần thiết.
Bên cạnh đó, việc khẳng định trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường của tổ
chức, cá nhân chủ nguồn thải không có nghĩa là triệt tiêu quyền được bảo vệ môi
trường của cá nhân, tổ chức khác. Ví dụ: A có chứa nguồn thải độc hại thì về
nguyên tắc A phải kiểm soát không để nguồn thải đó gây ô nhiễm môi trường. Nếu
A làm nguồn thải đó thoát ra ngoài môi trường thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền
phải có trách nhiệm kiểm soát, xử lý hành vi vi phạm pháp luật của A. Còn nếu A
gây thiệt hại cho B thì đương nhiên lúc này B có quyền yêu cầu A dừng ngay hành
vi gây ô nhiễm, bồi thường thiệt hại và tố cáo nên cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
*Đặc điểm của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Môi trường không khí là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, nên
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cũng là một phần trong kiểm soát ô nhiễm
môi trường nói chung. Tuy vậy, ngoài các đặc điểm chung của kiểm soát ô nhiễm
môi trường, như: về chủ thể kiểm soát, mục tiêu kiểm soát, phương thức kiểm
soát,... thì so với môi trường đất, nước, môi trường không khí có nhiều điểm đặc
biệt từ tính chất lý hóa đến vai trò, tầm quan trọng của không khí đối với mọi mặt
của đời sống xã hội...
- Phảikiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại nguồn. Môi trường không
khí mang tính khuếch tán, lan truyền nên khi môi trường không khí bị ô nhiễm
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt là các cá nhân, tổ chức chủ nguồn thải.
- Nhấn mạnh ý nghĩa, giá trị về mặt sức khỏe, sinh tồn của môi trường không
khí đối với con người trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Đối với tài
nguyên nước, tài nguyên đất,... giá trị về mặt kinh tế được thể hiện rõ ràng ngay lập
tức nên con người rất quan tâm và tìm nhiều cách để bảo vệ, còn tài nguyên không
khí mặc dù rất quan trọng nhưng không được biểu hiện rõ ràng ngay lập tức mà nó
là giá trị lâu dài nên con người ít quan tâm bảo vệ nó. Do vậy để kiểm soát được ô
nhiễm môi trường không khí cần xác định bảo vệ giá trị sống còn của môi trường
không khí với cuộc sống của con người.
- Tính chủ quan, bị động trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Thường tác động đến sức khỏe, tính mạng của con người động thực vật, tuy nhiên
nó không thể hiện ở mức độ cấp tính ngay mà ngấm dần. Do vậy vấn đề bảo vệ,
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí thường không được quan tâm kịp thời.
15
- Ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí. Như đã trình bày phần trên không khí là một hỗn hợp các chất
khí mà mắt thường chúng ta khó có thể nhìn thấy được và khi không khí bị ô nhiễm
hay nhiễm độc nếu không có các thiết bị chuyên dụng để đo đạc, để xác định thì
việc phát hiện là không hề dễ dàng và hậu quả xảy ra đối với môi trường và con
người có thể sẽ rất lớn. Thậm chí do đặc thù của môi trường không khí việc sử dụng
các thiết bị công nghệ để kiểm soát ô nhiễm cũng khác so với môi trường đất, nước.
Chúng ta không thể kiểm tra chất lượng không khí bằng lấy các mẫu thử như nước
hay đất mà phải thông qua hệ thống quan trắc môi trường không khí,...Do vậy, phải
thông qua quan trắc tại chỗ để kiểm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và
việc ứng dụng các thiết bị chuyên dụng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí là tất yếu.
rất quan trọng.
* Vai trò của pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Pháp luật có vai trò trọng trong đời sống xã hội, pháp luật là phương tiện để
thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, là phương tiện để nhà nước quản lý
đời sống xã hội và cũng là phương tiện để người dân thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình. Với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật luôn tác
động mạnh mẽ tới các quan hệ nói chung, sự tác động đó được thể hiện ở nhiều mức
độ khác nhau và trong bảo vệ môi trường không khí, vai trò của pháp luật thể hiện ở
các khía cạnh sau:
- Pháp luật quy định những quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi
tác động vào môi trường không khí. Môi trường không những là yếu tố quyết định
đối với sự sống của con người mà còn là đối tượng tác động trong hoạt động của
con người. Trong đời sống hàng ngày, con người tiến hành nhiều hoạt động tác
động vào môi trường không khí, những tác động này có thể theo chiều hướng tốt
hoặc xấu đối với chất lượng không khí.
- Pháp luật quy định các chế tài để ràng buộc con người thực hiện những đòi
hỏi của pháp luật trong việc khai thác và sử dụng môi trường không khí. Trong thực
tế, các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật môi trường thường không tự giác thực
hiện hành vi bảo vệ môi trường không khí mà pháp luật đã quy định. Bởi vì trong
bối cảnh kinh tế thị trường người ta quan tâm nhiều đến lợi ích, vì lợi ích cá nhân,
17
hay lợi ích của một nhóm người, người ta sẵn sàng hy sinh những lợi ích chung của
toàn xã hội. Họ sẵn sàng bỏ qua các nghĩa vụ đối với môi trường mà lẽ ra họ phải
thực hiện vì không muốn bỏ thêm chi phí gây ảnh hưởng đến lợi nhuận. Cũng chính
điều đó các chủ thể luôn tìm cách để lẩn trốn nghĩa vụ pháp lý đối với môi trường.
Lúc đó, các chế tài hình sự, hành chính, dân sự, kỷ luật của pháp luật môi trường trở
lên rất quan trọng. Các chế tài đó nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mọi tổ chức,