BÙI THẾ MẠNH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
2014 - 2016
HỌ VÀ TÊN: BÙI THẾ MẠNH
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT
VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
HỌ VÀ TÊN: BÙI THẾ MẠNH
CHUYÊN NGÀNH
nhận lời hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến quý thầy phản biện, quý thầy trong hội
đồng chấm luận văn đã đồng ý đọc, duyệt và đóng góp ý kiến để tôi hoàn chỉnh luận
văn và nghiên cứu trong tương lai.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài. ........................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. .............................................................................. 2
3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. .................................. 3
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. ................................................ 4
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. ................................................................... 4
6. Kết cấu của luận văn ......................................................................................... 5
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT 6
1.1. Những vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. ........................ 6
1.1.1. Ô nhiễm môi trường đất................................................................................ 6
1.1.2. Kiểm soát ô nhiễm môi trường đất .............................................................. 10
1.2 Những vấn đề chung về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất........ 14
1.2.1. Khái niệm, nội dung pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất ............ 14
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. . 17
1.2.3. Các biện pháp bảo đảm thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất.
.............................................................................................................................. 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 22
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM ....................................................................... 23
2.1. Các quy định của pháp luật về xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát
các yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất. ........................................... 24
triển bền vững, sản xuất và tiêu dùng thân thiện với môi trường. ....................... 56
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải đảm bảo sự
đồng bộ của hệ thống pháp luật môi trường. ....................................................... 57
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất phải đáp ứng yêu
cầu hội nhập kinh tế, quốc tế và hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường .......... 57
3.2.Các giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất tại
Việt Nam. ............................................................................................................. 58
3.2.1. Các giải pháp pháp lý.................................................................................. 58
3.2.2. Các giải pháp khác...................................................................................... 63
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 .................................................................................... 66
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 69
PHỤ LỤC ............................................................................................................. 72
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV
Bảo vệ thực vật
BVMT
Bảo vệ môi trường
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
1
trở lên gay gắt trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của hiện tượng biến đổi khí
hậu gây nên [20,21].
Đất bị ô nhiễm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua tiếp
xúc trực tiếp với đất hoặc qua đường hô hấp do sự bốc hơi của chất gây ô nhiễm đất.
Chẳng hạn như: Gây ra những tổn thương cho gan, thận và hệ thống thần kinh trung
ương; Ảnh hưởng đến sức khỏe như nhức đầu, buồn nôn, mệt mỏi, kích ứng mắt và
phát ban da; Thực vật trồng trên đất ô nhiễm sẽ bị nhiễm bệnh, con người ăn vào
cũng sẽ nhiễm bệnh; Gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, các chất độc công nghiệp,
thuốc trừ sâu, trừ cỏ là nguyên nhân gây bệnh ung thư, đột biến, quái thai.
Vì vậy, kiểm soát ô nhiễm môi trường đất là vấn đề cấp bách cần được thực
hiện để bảo vệ môi trường và sức khỏe con người. Tuy nhiên, về phương diện pháp
lý, việc kiểm soát ô nhiễm đất ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, cần được nghiên cứu,
phát hiện và bổ sung, sửa đổi. Với lý do đó, tôi chọn “Pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường đất” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Ở Việt Nam, vấn đề thực thi pháp luật nói chung và thực thi pháp luật về bảo
vệ môi trường trên từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội đã được Đảng, Nhà nước
và đặc biệt là các nhà khoa học, những người làm công tác lý luận đặc biệt quan tâm
nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau. Cho đến nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu về thực hiện pháp luật nói chung được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác
nhau như: đề tài, luận văn, đề án, giáo trình... Trong đó là các giáo trình lý luận chung
về nhà nước và pháp luật của các học viện, các trường đại học ở nước ta.
Liên quan đến bảo vệ đất và kiểm soát ô nhiễm môi trường đất, có một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu của các cá nhân, tập thể đã được công bố trong thời
gian qua như:
- Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và quản lý chất thải của Bộ Khoa học Công
nghiên cứu.
3.2. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu: phân tích, thống kê, tổng hợp, quy nạp. Trong
đó, phân tích, thống kê, so sánh và chứng minh được xác định là những phương
pháp nghiên cứu chủ yếu của luận văn. Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận
3
văn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lí các tài liệu, số liệu...
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
- Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm, các
nhận định về thực trạng pháp luật, thi hành pháp luật và tác động của nó.
- Phương pháp tổng hợp, qui nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu.
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu các quan điểm, luận điểm, các văn bản pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường đất và các báo cáo, số liệu về tình hình ô nhiễm môi
trường đất cũng như thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường đất và thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất; nghiên cứu tình
hình thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các cơ quan quản lý
nhà nước; việc chấp hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các tổ
chức, cá nhân.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Mục đích nghiên cứu:
5
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƯỜNG ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG ĐẤT
1.1. Những vấn đề chung về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất.
1.1.1. Ô nhiễm môi trường đất.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
đất đai dân cư xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Vậy
đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của loài người. Môi
trường đất là môi trường sinh thái hoàn chỉnh, bao gồm vật chất vô sinh sắp xếp
thành cấu trúc nhất định. Các thực vật, động vật và vi sinh vật sống trong lòng trái
đất. Các thành phần này có liên quan mật thiết và chặt chẽ với nhau. Môi trường đất
được xem như là môi trường thành phần của hệ môi trường bao quanh nó gồm
nước, không khí, khí hậu [23, tr.34].
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật cạn, là nền
móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa của con
người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài nguyên đất vào
hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm
cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp
và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp,
chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích đất bình quân đầu người giảm. Hiện
nay, cùng với ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí thì ô nhiễm đất đai đang trở nên
đáng báo động. Ô nhiễm đất làm ảnh hưởng xấu đến các tính chất của đất, làm giảm
năng suất cây trồng và làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người.
Cho đến nay, khái niệm về ô nhiễm môi trường đất đã được nhiều tài liệu nhắc
đến. Ô nhiễm môi trường đất được xem là tất cả các hiện tượng làm nhiễm bẩn môi
ấy mới xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường đất.
Môi trường đất có thể bị ô nhiễm do rất nhiều nguyên nhân. Sau đây là một số
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này:
7
Thứ nhất: Ô nhiễm do hoạt động tại các khu công nghiệp và đô thị.
Quá trình phát triển công nghiệp và đô thị cũng ảnh hưởng đến tính chất lý và
hóa học đất. Những tác động về vật lý đất như: gây xói mòn, nén chặt đất và phá
hủy cấu trúc đất do kết quả của các hoạt động xây dựng, sản xuất khai thác mỏ.
Những tác động về hóa học như: các chất thải rắn, lỏng và khí tác động đến đất. Tác
động của công nghiệp và đô thị đến đất xảy ra rất mạnh từ cuộc cách mạng công
nghiệp thế kỷ XVIII – XIX, đặc biệt là trong những thập niên gần đây. Các chất thải
công nghiệp ngày càng nhiều và có độc tính ngày càng cao, nhiều loại rất khó bị
phân hủy sinh học. Các chất thải độc hại có thể được tích lũy trong đất trong thời
gian dài gây ra nguy cơ tiềm năng đối với môi trường.
Thứ hai: Ô nhiễm do chất thải.
Có thể phân chia các chất thải gây ảnh hưởng xấu đối với môi trường đất ra
thành 4 nhóm chính: Chất thải xây dựng, Chất thải kim loại, Chất thải khí, Chất thải
hóa học và hữu cơ.
- Chất thải xây dựng: Chất thải xây dựng như gạch ngói, thủy tinh, gỗ, ống
nhựa, dây cáp, bêtông, nhựa…trong đất các chất này bị biến đổi theo nhiều con
đường khác nhau, nhiều chất rẩ khó bị phân hủy…
- Chất thải kim loại: Các chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng (Pb,
Zn, Cd, Cu và Ni) thường có nhiều ở các khu vực khai thác mỏ, các khu công
nghiệp và đô thị. Nguồn gốc chính của kim loại nặng trong chất thải: Các loại bình
điện (pin, ac quy) có mức chất thải kim loại nặng cao nhất: 93% tổng số lượng thủy
ngân, khoảng 45% số lượng Cadmium (Cd); Sắt phế liệu chứa khoảng 40% số
lượng chì (Pb), 30% đồng (Cu), 10% crôm (Cr). Các chất thải mịn (
Thứ ba: Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Các loại chất thải nông nghiệp gây ô nhiễm môi trường đất là: phân bón, thuốc
bảo vệ thực vật, tàn tích sản phẩm và cây trồng nông nghiệp, chất thải gia súc và tàn tích
rừng. Thuốc bảo vệ thực vật bao gồm: thuốc trừ sâu, bệnh (nấm, tuyến trùng…), thuốc
diệt cỏ, chất kích thích sinh trưởng đều là các chất hoá học hữu cơ hay vô cơ… là rất cần
thiết để diệt sâu, bệnh, cỏ dại bảo vệ cây trồng, nhưng vì bản chất của các chất này là diệt
sinh học nên ít nhiều đều ảnh hưởng đến môi trường đất. Các hoá chất này gây ô nhiễm
môi trường đất và hoạt tính của chúng sẽ là chất độc cho các động vật và con người. Nó
9
cú th tn ti lõu trong t, xõm nhp vo thnh phn cõy, nht l tớch lu cỏc b phn
ca cõy, con ngi s dng cỏc sn phm ny s gõy ng c.
c tớnh ca thuc tr sõu bnh l tớnh bn trong mụi trng sinh thỏi. Sau khi
xõm nhp vo mụi trng v tn ti mt thi gian di trong cỏc dng cu trỳc sinh
hoỏ khỏc nhau hoc to cỏc dng hp cht liờn kt trong mụi trng t. Cỏc hp cht
mi ny thng cú c tớnh cao hn bn thõn nú. Vớ d nh DDT sau mt thi gian
s dng cú to ra DDE, c hn DDT gp 2-3 ln. Thuc tr sõu Aldrin tn ti lõu
di trong t b phõn thnh Dieldrin, m tớnh cht ca nú c nhiu ln so vi Aldrin.
Cỏc thuc bo v thc vt thng cha nhiu kim loi nng nh: As, Pb, Hg.
Mt s loi thuc bnh nh: CuSO4, Zineb, Macozeb cha cỏc kim loi nng nh
Zn, Cu, Mn s dng nhiu v lõu di s tn lu cỏc kim loi trong t. Tỏc hi khỏc
ca thuc tr sõu bnh l s xõm nhp ca nú vo mụi trng t lm cho c lý hoỏ
tớnh t gim sỳt, mc gõy hi tng t nh phõn bún hoỏ hc. Nhng kh nng
dit khun cao nờn thuc tr sõu bnh cng ng thi tiờu dit nhiu vi sinh vt cú
ớch lm cỏc hot tớnh sinh hc ca t b gim.
1.1.2. Kim soỏt ụ nhim mụi trng t
Kim soỏt ụ nhim l quỏ trỡnh phũng nga, phỏt hin, ngn chn v x lý ụ
nhim (iu 3 Lut Bo v mụi trng 2014). So vi khỏi nim qun lý nh nc
Ti Vit Nam, kim soỏt ụ nhim mụi trng t l hot ng ó c thc
hin t nhiu nm, song cha dnh c s quan tõm ỳng mc nờn hiu qu cha
cao. iu ú c phn ỏnh c th qua thc trng ụ nhim v suy thoỏi t trờn
phm vi c nc.
Theo B TN&MT, hin tng thoỏi húa, ụ nhim t ang lm nh hng n
50% din tớch t ton quc, trong ú phn ln l nhúm t i nỳi nm cỏc khu vc
nụng thụn. Mt s loi hỡnh thoỏi húa t ang din ra trờn din rng nhiu vựng
nụng thụn Vit Nam, vớ d nh ra trụi, xúi mũn, hoang húa, phốn húa, mn húa, khụ
hn, ngp ỳng, l quột v xúi l t. Bờn cnh ú, vic s dng bt hp lý cỏc loi húa
cht trong sn xut v x thi trc tip ra mụi trng khụng qua x lý l nguyờn nhõn
chớnh gõy ra cỏc vn ụ nhim t nụng thụn. ỏng bỏo ng hin nay l tỡnh trng
lm dng cỏc loi phõn bún, thuc bo v thc vt trong nụng nghip.
Cng theo bỏo cỏo ca B TN&MT, Vit Nam, phõn bún húa hc c s
dng cũn ph bin do u th v chi phớ v hiu qu nhanh chúng tỏc ng lờn cõy
11
trồng. Ở một số vùng thâm canh tăng vụ cao, lượng phân bón hóa học sử dụng trong
sản xuất nông nghiệp còn cao hơn. Ước tính trên 50% lượng đạm, 50% kali và xấp
xỉ 80% lượng lân dư thừa từ việc áp dụng phân bón không đúng kỹ thuật trực tiếp
hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường đất.
Đơn cử tại tỉnh Lâm Đồng, khảo sát về mức sử dụng các loại phân bón cho
thấy, lượng phân bón thường cao hơn từ 30 - 40 %, đặc biệt đối với loại phân NPK
thì lượng dùng lớn hơn tới 60%. Bên cạnh đó, tập quán ở một số vùng phía Bắc còn
sử dụng các loại phân bắc, phân chuồng tươi là nguyên nhân đáng kể gây ô nhiễm
môi trường đất [20].
Số liệu quan trắc mẫu đất ở một số địa phương, ví dụ như ở Đồng Tháp, một
tỉnh trồng lúa điển hình của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, trong số
15 mẫu đất phân tích có 60% số mẫu có kết quả chỉ tiêu Asen vượt ngưỡng QCVN
chính là các khu vực đất bị nhiễm dioxin lưu trong môi trường lâu, khó phân hủy,
xử lý hoặc cải tạo để phục vụ nhu cầu sử dụng của người dân. Theo Bộ TN&MT,
kết quả đánh giá gần đây, về thực trạng tồn lưu Dioxin trong đất và trầm tích cho
thấy, điểm nóng về Dioxin tập trung ở 3 khu vực chính gồm các sân bay Biên Hòa,
Đà Nẵng và Phù Cát. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy một số vùng nông
thôn đã phát hiện hàm lượng Dioxin và Furan trong mẫu đất và trầm tích do ảnh
hưởng của chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh. Ước tính khoảng 15% tổng
diện tích đất khu vực miền Nam còn chịu ảnh hưởng ở mức độ khác nhau từ các
chất độc hại sử dụng trong chiến tranh, trong đó diện tích bị phun rải các chất có
hoạt tính chiếm 9,7% tổng diện tích. Cho đến nay, hàm lượng Dioxin trong đất ở
các hầu hết các vùng bị phun rải chất độc hóa học trong chiến tranh đều ở ngưỡng
cho phép, trừ một số điểm nóng [33].
Theo Văn phòng Ban chỉ đạo 33 (Bộ TN&MT), ô nhiễm Dioxin tại sân bay
A So (Thừa Thiên Huế) là một ví dụ điển hình. Cụ thể, kết quả phân tích 28 mẫu đất
và trầm tích cho thấy hàm lượng Dioxin và Furan trong môi trường đất và trầm tích
xung quanh sân bay A So có nguồn gốc từ chất da cam/Dioxin sử dụng trong chiến
tranh tại căn cứ không quân A So giai đoạn 1963- 1966. Ước tính khoảng 5.000 m2
đất bề mặt khu sân bay này có hàm lượng Dioxin vượt ngưỡng QCVN 45:2012 đối
với đất trồng cây lâu năm. Theo các chuyên gia, ô nhiễm môi trường đất do chất hóa
học tồn lưu là một trong những loại ô nhiễm nguy hiểm, ảnh hưởng không nhỏ tới
13
chất lượng cuộc sống của người dân khu vực bị ô nhiễm. Bởi vậy, cần nâng cao hơn
nữa công tác truyền thông trong cộng đồng, có hướng dẫn cụ thể nhằm thúc đẩy
những tập quán, hành vi an toàn để xử lý ô nhiễm trong quá trình canh tác. Bên
cạnh đó, tại khu vực có nhiều kênh mương, sông ngòi cần ngăn chặn cô lập bằng
các tuyến mương và tường chắn, ngăn không cho nước mặt chảy qua khu ô nhiễm
cuốn theo đất ô nhiễm gây ô nhiễm thứ cấp trên diện rộng, ảnh hưởng tới cuộc sống
thuỷ sinh… Các quy định pháp luật về vấn đề này tập trung giải quyết các mối quan
hệ xã hội phát sinh theo hướng đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các
tổ chức cá nhân khi khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phục vụ
cho các hoạt động phát triển, đồng thời gắn chặt trách nhiệm của họ với việc bảo
tồn và sử dụng hợp lý chúng, đảm bảo lợi ích chung lâu dài về môi trường của cộng
đồng trong hiện tại và tương lai.
Vấn đề thứ hai được pháp luật môi trường điều chỉnh là kiểm soát, ngăn ngừa ô
nhiễm môi trường (thường được gọi là mảng nâu). Điều chỉnh về lĩnh vực này, pháp
luật môi trường được xây dựng và thực hiện theo hướng ràng buộc trách nhiệm của
các cơ quan Nhà nước và các tổ chức cá nhân có liên quan để giảm thiểu các chất gây
ô nhiễm môi trường, phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động xấu cho
môi trường do ảnh hưởng của các loại chất thải, kiểm soát nguy cơ làm ô nhiễm môi
trường. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất thuộc mảng này.
Như vậy, dựa trên cách thức tiếp cận nêu trên, có thể định nghĩa pháp luật
kiểm soát ô nhiễm môi trường đất như sau: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
đất là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm các quy phạm pháp luật, các
nguyên tắc pháp lý điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong quá trình con
người tiến hành các hoạt động liên quan đến môi trường đất nhằm phòng ngừa,
giảm thiểu và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đất.
* Nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất
Để đảm bảo phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục tình trạng ô nhiễm đất,
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất điều chỉnh bốn nội dung cơ bản sau:
- Các quy định pháp luật về xác định, thống kê, đánh giá và kiểm soát các
yếu tố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan
trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. Nó đảm bảo cơ sở thực tiễn phù hợp
cho việc thực hiện các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường đất của các cơ quan
15
16
trường đất. Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của mình, các hoạt động quản lý và kiểm
soát ô nhiễm của các cơ quan này sẽ được thực hiện ở những góc độ chuyên môn
khác nhau trên cơ sở đảm bảo sự phối hợp đồng bộ và đảm bảo hiệu quả quản lý.
1.2.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất.
Nguyên tắc của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất là những tư
tưởng chỉ đạo, chi phối một cách toàn diện các quan hệ xã hội phát sinh giữa các
chủ thể tham gia vào hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. Đây là cơ sở để
xây dựng các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất. Các nguyên
tắc này được xác định một cách khách quan, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của hoạt
động kiểm soát ô nhiễm môi trường đất thì sẽ đảm bảo tính khả thi của các quy định
pháp luật được ban hành, đáp ứng được các yêu cầu quản lý nhà nước về kiểm soát
ô nhiễm môi trường đất.
Ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc chung của pháp luật môi trường, pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường đất được xây dựng và tổ chức thực hiện dựa
trên ba nguyên tắc cơ bản sau:
Thứ nhất, nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững: Đây là một trong
những nguyên tắc quan trọng không chỉ trong pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường đất mà còn thể hiện trong hệ thống pháp luật về môi trường, xuất phát từ xu
thế chung của nhân loại. Xét về bản chất, nguyên tắc này là sự kết hợp giữa phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Với tư cách là một thành phần quan trọng của
môi trường, đất giữ vai trò là vật mang. Vì vậy kiểm soát ô nhiễm đất có ý nghĩa hết
sức quan trọng trong đời sống xã hội loài người. Nó đòi hỏi việc khai thác, sử dụng
tài nguyên đất để phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội hiện tại phải gắn
liền với các các hoạt động bảo tồn, gìn giữ và phát triển nhằm không làm suy thoái
nguồn tài nguyên này, đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thế hệ sau.
Tại Việt Nam, phát triển bền vững đã trở thành quan điểm, đường lối của
Đảng và chính sách của Nhà Nước trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.