Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHẢM

BÙI ĐỨC HIỂN

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 62.38.01.07

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
PGS.

HÀ NỘI, 2016


Công trình đƣợc hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

Phản biện 1: GS.TS. NGUYỄN THỊ MƠ

Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN THỊ THƢƠNG HUYỀN

Phản biện 3: PGS.TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH

về kiểm soát ô nhiễm không khí, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm
quyền được sống trong môi trường trong lành.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu
sau:
- Phân tích nhận thức lý luận cơ bản về kiểm soát ô nhiễm không khí,
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm, như: khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò;
mục đích của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, chủ thể kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí, đối tượng kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí, công cụ kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, nội dung kiểm soát ô
nhiệm môi trường không khí; tiêu chí của điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm mô trường không khí;
- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm không
khí ở Việt Nam và chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn
chế đó;
- Phân tích thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay;

1


- Đề xuất các kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm không khí ở Việt Nam trong điều kiện mới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án chủ yếu là các quy định
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được ghi nhận trong Luật
Bảo vệ môi trường năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan. Bên cạnh đó
luận án cũng nghiên cứu các quan điểm, học thuyết khoa học, một số quy định
pháp lý quốc tế và nước ngoài về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
- Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý

2


- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
- Xây dựng luận cứ và đề xuất các giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại Việt Nam hướng tới xây dựng
Luật Không khí sạch ở Việt Nam;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo tốt các cơ quan lập
pháp, lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
bảo vệ môi trường nói chung, đặc biệt là sự ra đời của Luật Không khí sạch ở
Việt Nam; cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đào tạo cao học, đại
học, cao đẳng chuyên ngành luật. Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các
cơ quan thực tiễn trong quá trình thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan đến
bảo vệ môi trường không khí.
7. Cơ cấu của luận án
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí
Chương 2. Những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường không khí và pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Chương 3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí ở Việt Nam hiện nay
Chương 4. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ KIỂM

Thứ ba, đặt ra một loạt các câu hỏi nghiên cứu từ lý luận đến thực tiễn
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; đưa ra các các giả thuyết
nghiên cứu để giải quyết được hiệu quả các câu hỏi nghiên cứu.
1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài luận án
Kết luận Chƣơng 1
Thứ nhất, trên cơ sở tổng quan nhóm các công trình nghiên cứu về ô
nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung của kiểm soát ô
nhiễm môi trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Qua đó chỉ ra
cách hiểu khác nhau về ô nhiễm môi trường không khí, dưới giác độ liệt kê,
dưới giác độ y học và dưới giác độ pháp lý.Dưới giác độ pháp lý, các nghiên
cứu chỉ ra: ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường
không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và
sinh vật. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đều khẳng định những ảnh
hưởng xấu của ô nhiễm môi trường đến con người và sinh vật. Hai là, các công
trình nghiên cứu đưa ra cách hiểu về kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung
của kiểm soát ô nhiễm môi trường, thu thập, quản lý và công bố các thông tin
về môi trường, xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch kiểm soát ô nhiễm;
ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn môi trường; quản lý chất thải; xử lý, khắc
phục tình trạng môi trường bị ô nhiễm,...

4


Thứ hai, tổng quan các công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm
soát ô nhiễm môi trường không khí. Đã khảo cứu các công trình nghiên cứu ở
Việt Nam về xuất xứ của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí từ năm 1960 đến nay. Từ đó chỉ ra thuật ngữ kiểm
soát ô nhiễm môi trường mới được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Luật
Bảo vệ Môi trường năm 2005. Do vậy, trong đề tài luận án này tác giả sẽ
nghiên cứu và lý giải sâu hơn về sự ra đời và phát triển cũng như ghi nhận trong

nước bằng công cụ kinh tế và nhấn mạnh việc tiếp cận thông tin môi trường sẽ

5


góp phần đảm bảo quyền con người được sống trong một môi trường không bị
ô nhiễm, xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí,... Không chỉ vậy
một số nghiên cứu cũng đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về môi trường nói
chung, trong đó có kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là chưa hiệu quả,
chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Năm là, về trách nhiệm pháp lý đối với hành vi làm ô nhiễm môi
trường không khí. Các các công trình nghiên cứu đã chỉ ra các trách nhiệm pháp
lý có thể áp dụng với cá nhân là trách nhiệm hành chính, hình sự, dân sự và
trách nhiệm kỷ luật. Lý giải phân biệt giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi làm ô nhiễm môi trường và trách nhiệm hành chính của cá nhân, pháp
nhân. Nhiều kiến nghị tăng xử phạt hành chính đối với cá nhân, pháp nhân có
hành vi làm ô nhiễm môi trường. Hơn nữa, đối với pháp nhân ngoài trách
nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự ra một số công trình nghiên cứu đề nghị
pháp nhân khi có hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể phải chịu cả trách
nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cũng có công trình phản bác lại việc đề nghị hình sự
hóa đối với pháp nhân có hành vi làm ô nhiễm môi trường do mâu thuẫn với lý
luận của luật hình sự về yếu tố lỗi.
Thứ tư, tổng quan các công trình nghiên cứu về hạn ngạch khí thải, kiểm
soát ô nhiễm môi trường không khí tầm xa. Các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước này đã tiếp cận kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí dưới giác
độ kinh tế, kỹ thuật,… trong đó đã phân tích các vấn đề từ khái niệm đến kỹ
thuật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, phân tích về cơ chế tài chính và
cơ chế linh hoạt trong ứng phó với biến đổi khí hậu nhằm đảm bảo nguyên tắc
của luật môi trường quốc tế đó là bảo đảm quyền được sống trong môi trường
trong lành,…

Thứ nhất, môi trường không khí mang tính khuếch tán, lan truyền
nhanh.
Thứ hai, môi trường không khí không thể phân chia được ranh giới.
Thứ ba, tính không xác định chủ sở hữu của môi trường không khí.
Thứ tư, tính khó xác định giá trị của môi trường không khí.
Thứ năm, sự tác động của môi trường không khí đến sức khỏe, tính mạng
con người thường chậm nên khó xác định được chính xác thiệt hại.
Thứ sáu, thành phần lý hóa cấu thành môi trường không khí khác so với
môi trường đất, môi trường nước.
2.1.2. Khái niệm, đặc điểm, phân loại ô nhiễm môi trường không khí
2.1.2.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là sự biến đổi của thành phần môi
trường không khí không phù hợp/vi phạm quy chuẩn kỹ thuật môi trường không
khí gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
2.1.2.2. Đặc điểm của ô nhiễm môi trường không khí
2.1.2.3. Phân loại ô nhiễm môi trường không khí
2.1.3. Nhu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường không khí ảnh hưởng lớn đến đời sống,
sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Từ đó đặt ra nhu cầu
cần phải kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam.
2.2. Lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng và kiểm soát ô nhiễm môi
trƣờng không khí
2.2.1. Khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

7


Kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng thể các hoạt động phòng ngừa, dự
báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện, những tác động đến môi trường,
hiện trạng môi trường, sự biến đổi của môi trường so với quy chuẩn môi

Thứ năm, tính chủ quan, bị động trong kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí.
Thứ sáu, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí.

8


2.2.3. Phân biệt kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí với bảo vệ
môi trường không khí
2.3. Lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng không khí bằng pháp luật
Để kiểm soát ô nhiễm môi trường, có nhiều công cụ có thể được sử dụng
trong quá trình này. Tuy nhiên, công cụ pháp lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng
trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Bởi:
Thứ nhất, cả lý thuyết và thực tiễn cho thấy việc sử dụng đơn lẻ các công
cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền giáo dục,… nếu không kết hợp với công cụ
pháp luật sẽ không mang lại hiệu quả triệt để trong quá trình kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí.
Thứ hai, công cụ pháp lý sẽ quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Khi các chủ thể không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng quy định pháp luật thì sẽ phải gánh chịu trách
nhiệm pháp lý. Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi, các chủ thể vi phạm
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí có thể phải chịu trách
nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm
kỷ luật;
Thứ ba, để thực hiện có hiệu quả các công cụ kinh tế, khoa học công
nghệ, hay tuyên truyền giáo dục vào kiểm soát ô nhiễm thì những công cụ này
cũng phải được luật hóa. Bên cạnh đó muốn kết hợp đồng bộ và sử dụng hiệu
quả các công cụ kinh tế, công cụ tuyên truyền giáo dục,… thì các công cụ này
cũng phải được quy định vào trong các văn bản pháp luật.

không khí
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần xác
định được nội hàm của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
Thứ hai, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần phải
xác định và quy định rõ các chủ thể có trách nhiệm, nghĩa vụ kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí là cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, các tổ chức,
cá nhân chủ nguồn thải và các chủ thể khác;
Thứ ba, về đối tượng bị kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đó
chính là hành vi vi phạm pháp luật môi trường của các chủ nguồn thải, như: cá
nhân, tổ chức, hộ gia đình cũng như hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong kiểm soát ô nhiễm;
Thứ tư, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần xác
định rõ chu trình, trình tự, thủ tục, công cụ, phương tiện kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí. Đó là các quy định về phòng ngừa, dự báo, thanh tra, kiểm
tra, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí, ngăn chặn ô nhiễm môi trường
không khí và xử lý ô nhiễm môi trường không khí;
Thứ năm, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm trường không khí cần xác định
được rõ mục tiêu của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nhằm phòng
ngừa ô nhiễm môi trường không khí, bảo đảm môi trường được trong lành.
Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí sẽ tập trung vào các nội dung sau: Pháp luật về quy chuẩn kỹ
thuật môi trường không khí và tiêu chuẩn môi trường không khí; Pháp luật về
phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí; dự báo những tác động đến môi
trường không khí và sự biến đổi của môi trường không khí;Pháp luật về thanh
tra, kiểm tra, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí;Pháp luật về ngăn chặn
ô nhiễm môi trường;Pháp luật về xử lý ô nhiễm môi trường không khí;
2.3.4. Yêu cầu đối với điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí

10

mà ngấm dần; ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng lớn đến môi trường
không khí tầm thấp gần bề mặt trái đất mà còn dẫn đến ô nhiễm môi trường
không khí tầm xa;
Thứ ba, khái quát tác động, ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí
đến sức khỏe, tính mạng, đời sống, sản xuất của con người và hệ sinh thái ở
Việt Nam. Từ đó chỉ ra nhu cầu điều chỉnh ô nhiễm môi trường không khí bằng
pháp luật.
Thứ tư, trên cơ sở nội hàm của thuật ngữ kiểm soát và đặc thù của ô
nhiễm môi trường không khí. Tác giả cho rằng, kiểm soát ô nhiễm môi trường

11


không khí là trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, tổ
chức, cá nhân chủ nguồn thải và các chủ thể khác trong phòng ngừa, dự báo;
theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện những tác động đến môi trường không
khí, hiện trạng môi trường không khí, sự biến đổi của môi trường không khí so
với quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí; ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm,
cải tạo phục hồi hiện trạng môi trường không khí; xử lý các hành vi làm ô
nhiễm môi trường không khí nhằm đảm bảo cho môi trường không khí được
trong lành, sạch đẹp. Hơn nữa, trên cơ sở đặc thù của ô nhiễm môi trường
không khí, tác giả cũng chỉ ra các đặc điểm của kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí, như: phải kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại nguồn; kiểm
soát ô nhiễm môi trường không khí cần phải có sự liên kết, hợp tác giữa các địa
phương, các vùng và giữa các quốc gia ở các cấp độ song phương, khu vực và
toàn cầu; khẳng định trách nhiệm hàng đầu của nhà nước và các chủ nguồn thải
trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; nhấn mạnh ý nghĩa, giá trị về
mặt sức khỏe, sinh tồn của môi trường không khí đối với con người trong kiểm
soát ô nhiễm môi trường không khí; tính chủ quan, bị động trong kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí; phân biệt kiểm soát ô nhiễm môi trường với với

một số các công ước khu vực và quốc tế liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí và yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam, như: Công ước Geneva
về ô nhiễm không khí xuyên biên giới có tầm xa, Thụy Sĩ 1979; Công ước
khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC); Công ước Viên về
bảo vệ tầng ô-zôn, 1985; Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng
ô-zôn, 1987; Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, 1992
(16/11/1994); Hiệp định về chống ô nhiễm khói mù xuyên biên giới ASEAN,
tháng 6 năm 2002; Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu;
CHƢƠNG 3
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM
3.1. Thực trạng quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trƣờng không khí và
tiêu chuẩn môi trƣờng không khí
Theo Luật BVMT năm 2014, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới
hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các
chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để
bảo vệ môi trường. Quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Theo pháp luật
môi trường hiện hành, quy chuẩn môi trường được chia thành hai nhóm: nhóm
quy chuẩn về chất lượng môi trường xung quanh và nhóm quy chuẩn về khí
thải.
3.1.1. Quy chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh
Về quy chuẩn chất lượng môi trường không khí xung quanh ngoài trời,
Việt Nam có 3 nhóm quy chuẩn là:
+ QCVN 05:2013/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng
không khí xung quanh thay thế QCVN 05:2009/BTNMT;
+ QCVN 06:2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất
độc hại trong không khí xung quanh thay thế TCVN 5938:2005;
+ QCVN 26:2010/BTNMT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn

nghiệp nhiệt điện;
QCVN 23 : 2009/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công
nghiệp sản xuất xi măng);
QCVN 30: 2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt
chất thải công nghiệp;
QCVN 34: 2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công
nghiệp lọc hóa dầu đối với bụi và các chất vô cơ;
Quyết định 3733: 2002/QĐ-BYT: Tiêu chuẩn vệ sinh lao động;
- QCTĐHN 01:2014/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật về khí thải công
nghiệp; đối với bụi và các chất vô cơ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội;
- QCTĐHN 03:2014/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật về khí thải công nghiệp
sản xuất xi măng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.

14


b. Về nhóm quy chuẩn khí thải đối với nguồn thải động (khí thải từ các
phương tiện giao thông (điểm d khoản 2 Điều 113) [95]:
Cho đến nay để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí từ nguồn thải
động, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành nhiều quy chuẩn về vấn đề này, như:
Thông tư số 30/2009/TT-BGTVT ngày 19/11/2009 quy định Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu
mới, gồm:
+ QCVN 04 : 2009/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe
mô tô, xe gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới;
+ QCVN 05 : 2009/BGTVT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe
ôtô sản xuất, lắp ráp và nhập khu mới.
Trên cơ sở Quyết định số 49/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ
cũng ban hành quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ô tô, xe
mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới. Bộ Giao thông Vận tải đã

3.2.4. Quy định về quản lý khí thải phòng ngừa ô nhiễm môi trường
không khí
3.2.5. Quy định về dự báo ô nhiễm môi trường không khí
3.2.6. Quy định về áp dụng các công cụ kinh tế nhằm phòng ngừa ô
nhiễm môi trường không khí
3.2.7. Quy định về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và cơ chế
phát triển sạch nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí
3.3. Thực trạng các quy định về phát hiện ô nhiễm môi trƣờng không khí
3.3.1. Các quy định về quan trắc hiện trạng môi trường không khí
3.3.2. Các quy định về thông tin về tình hình môi trường không khí
3.3.3. Các quy định về thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật môi
trường không khí
3.4. Thực trạng các quy định về ngăn chặn ô nhiễm môi trƣờng không khí
3.4.1. 3.4.1. Thực trạng quy định về nghĩa vụ ngăn chặn ô nhiễm môi
trường không khí từ nguồn thải di động của chủ nguồn thải
3.4.2. Thực trạng quy định về nghĩa vụ ngăn ngừa, giảm thiểu nguồn
thải tĩnh của chủ sở hữu nguồn thải tĩnh
3.4.2.1. Thực trạng quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu ô nhiễm
môi trường không khí từ nguồn thải di động của chủ nguồn thải
3.4.2.2. Thực trạng quy định về nghĩa vụ ngăn chặn, giảm thiểu nguồn
thải tĩnh của chủ sở hữu nguồn thải
3.5. Thực trạng quy định về xử lý ô nhiễm môi trƣờng không khí
3.5.1. Quy định về xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường không khí
nghiêm trọng
3.5.2. Quy định về khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường
không khí
3.5.3. Về xử lý hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí
3.5.3.1. Trách nhiệm hành chính
3.5.3.2. Trách nhiệm hình sự
3.5.3.3. Trách nhiệm dân sự

không khí; về ứng phó với biến đổi khí hậu và cơ chế phát triển sạch; về áp
dụng các công cụ kinh tế trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; nghĩa
vụ thực hiện các quy định cấm nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường không
khí. Qua đó khẳng định pháp luật môi trường đã có quy định về những vấn đề
này ở các mức độ khác nhau. Mặc dù vậy có nhiều quy định còn chưa hoàn
thiện đồng thời thực tiễn thực thi pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập
thiếu hiệu quả. Ví dụ: Việt Nam đã có chính sách, ưu đãi các tổ chức, cá nhân
khi tham gia vào kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, nhưng thực tiễn lại
khó thực hiện do những khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện;,…;
Ba là, phân tích các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, phát hiện
các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí và thực tiễn hoạt động này
ở Việt Nam, như: các quy định về quan trắc hiện trạng môi trường không khí,
thông tin tình hình môi trường không khí, thanh tra, kiểm tra phát hiện ô nhiễm
môi trường không khí. Theo đó chỉ ra những bất cập, thiếu sót trong quy định
và thực hiện pháp luật về vấn đề này. Ví dụ: quy định về thanh tra hiện trạng
môi trường không khí còn dàn trải, hay về thông tin tình hình môi trường không
khí với quy định trong pháp luật hiện hành như hiện nay còn chưa đảm bảo
được sự chủ động của người dân trong tiếp cận thông tin về ô nhiễm môi trường

17


không khí. Bên cạnh đó, thực hiện thực hiện cũng cho thấy thiếu hệ thống quan
trắc về môi trường không khí và người dân còn gặp nhiều khó khăn trong tiếp
cận thông tin về môi trương không khí,…
Bốn là, tiếp đó Chương này cũng phân tích rõ các nguồn thải có thể gây ô
nhiễm môi trường không khí, như nguồn thải cố định và nguồn thải di động.
Đồng thời đối với nguồn thải di động phải ngăn chặn ô nhiễm môi trường
không khí ngay từ trước khi phương tiện được phép đưa vào lưu thông. Còn đối
với các phương tiện đã đưa vào lưu thông mà vượt quá quy chuẩn môi trường


- Bốn là, xuất phát từ thực trạng các quy định pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí.
Năm là,cũng với xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa. Việt Nam ngày
càng chủ động hội nhập khu vực và quốc tế.
4.2. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả về kiểm soát ô
nhiễm môi trƣờng không khí ở Việt Nam
- Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần gắn với quá
trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam bảo đảm quyền được sống
trong môi trường trong lành;
- Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí phải gắn với quá
trình bảo đảm phát triển bền vững;
- Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần gắn với vấn
đề chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu;
- Tăng cường biện pháp bảo vệ môi trường không khí, đặc biệt tăng
cường áp dụng các công cụ kinh tế và các yếu tố thị trường vào kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí.
4.3. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng
không khí ở Việt Nam hiện nay
4.3.1. Các giải pháp chung
- Về tuyên truyền giáo dục.
- Về kinh tế.
Về nguồn lực về tài chính.
- Về nhân lực tham gia kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
- Về khoa học công nghệ.
- Về hợp tác quốc tế
- Về tổ chức hệ thống quản lý môi trường không khí trên cơ sở tập trung
trách nhiệm cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, khắc phục sự tán
thẩm quyền như hiện nay dẫn tới cha chung không ai khóc.
4.3.2. Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô

Ba là, các nguyên tắc của Luật.
Bốn là, về trách nhiệm của Nhà nước trong Luật Không khí sạch
Năm là, về trách nhiệm Luật cần quy định trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân chủ nguồn thải trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Sáu là, quy định về trách nhiệm của Nhà nước, trong thanh tra, kiểm tra,
phát hiện ô nhiễm môi trường không khí. Cụ thể: quy định về quy chuẩn kỹ
thuật môi trường không khí;
Bảy là, quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
Tám là, quy định về trách nhiệm pháp lý đối với các cơ quan nhà nước,
chủ thể có thẩm quyền và tổ chức, cá nhân khi vi phạm pháp luật môi trường
không khí;
Chín là, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại về không khí và
thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng và các lợi ích hợp pháp khác do ô
nhiễm môi trường không khí gây ra.
Mười là, quy định về sử dụng các công cụ kinh tế, đặc biệt là cơ chế phát
triển sạch tiến tới phát triển thị trường mua bán quyền phát thải nhằm kiểm soát
ô nhiễm môi trường không khí.
Mười một là, quy định về quyền biểu tình, hội họp về môi trường; quyền
khởi kiện tập thể.

20


Kết luận Chƣơng 4
Trên cơ sở những vấn đề lý luận đặt ra tại Chương 1, Chương 2 và thực
trạng pháp luật cũng như những đánh giá thực tiễn quan trọng tại Chương 3.
Chương 4 của Luận án tập trung làm sáng tỏ những vấn đề sau:
Thứ nhất, Chương này đã phần tích làm sáng tỏ nhu cầu hoàn thiện pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở nước ta. Theo đó xuất phát

trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường, nội dung của kiểm soát ô nhiễm môi
trường, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường; tổng quan các công trình
nghiên cứu trực tiếp các vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí; tổng quan các công trình nghiên cứu, thực trạng các quy định pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; tổng
quan các công trình nghiên cứu về hạn ngạch khí thải, kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí tầm xa.
Thứ hai, qua tổng quan các công trình nghiên cứu theo nhóm vấn đề của
đề tài, Luận án đã chỉ ra những thành tựu trong nghiên cứu mà luận án kế thừa
và tiếp tục phát triển và các vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa được giải quyết thấu
đáo cần tiếp tục nghiên cứu;
Thứ ba, đã xác định rõ cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài luận án, đặt
ra các câu hỏi nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu làm cơ sở cho việc nghiên cứu
đề tài luận án;
Thứ tư, luận án đã phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận xoay
quanh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, như đã phân tích
làm rõ khái niệm, đặc điểm của môi trường không khí, phân biệt môi trường
không khí với môi trường đất, môi trường nước; phân tịch và làm sáng tỏ khái
niệm, đặc điểm và phân loại ô nhiễm môi trường không khí; khái quát hiện
trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam và nhu cầu điều chỉnh ô nhiễm
môi trường không khí bằng pháp luật; phân tích các quan niệm về kiểm soát ô
nhiễm môi trường, môi trường không khí. Từ đó so sánh, đánh giá, đồng thời
trên cơ sở nội hàm thuật ngữ kiểm soát và đặc thù của ô nhiễm môi trường
không khí tác giả đưa ra cách hiểu của mình về khái niệm kiểm soát ô nhiễm
môi trường, môi trường không khí. Phân biệt kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí với quản lý nhà nước về môi trường không khí và với bảo vệ môi
trường không khí.
Thứ năm,phân tích và làm sáng tỏ khái niệm pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí, vai trò của pháp luật trong kiểm soát ô nhiễm môi


phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí;
Thứ tám, phân tích các quy định pháp luật về thanh tra, kiểm tra, phát
hiện các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không khí; các quy định pháp
luật về ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí; các quy định pháp luật về xử
lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí; các quy định pháp luật về tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí. Từ những phân tích thực trạng các quy định pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, tác giả cũng chỉ ra một số bất
cập, hạn chế, thiếu sót trong các quy định pháp luật về vấn đề này.
Thứ chín, đánh giá thực trạng dự báo, quan trắc ô nhiễm môi trường
không khí; chất lượng môi trường không khí cả nước và Hà Nội. Đồng thời chỉ

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status