Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHẢM

BÙI ĐỨC HIỂN

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 62.38.01.07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Hữu Nghị

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHẢM

BÙI ĐỨC HIỂN

PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM
MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM

giả có thể hoàn thành được công trình nghiên cứu của mình.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ KIỂM
SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ .......................................................... 7
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án ............................................................... 7
1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ..................................... 18
1.3. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài luận án .......................................................... 20
CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG
KHÔNG KHÍ VÀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHÔNG
KHÍ ................................................................................................................................... 25
2.1. Lý luận về môi trường không khí và ô nhiễm môi trường không khí ...................... 25
2.2. Lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí ............................................................................................................................. 35
2.3. Lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí bằng pháp luật ...................... 41
2.4. Quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong các công ước quốc tế 54
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI
TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .................................................. 67
3.1. Thực trạng pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí và tiêu chuẩn
môi trường không khí ............................................................................................... 67
3.2. Thực trạng các quy định về phòng ngừa, dự báo ô nhiễm môi trường không khí ... 82
3.3. Thực trạng các quy định về phát hiện ô nhiễm môi trường không khí................... 103
3.4. Thực trạng các quy định về ngăn chặn, khắc phục ô nhiễm môi trường không khí 111
3.5. Thực trạng quy định về xử lý hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí .................. 116
CHƢƠNG 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ Ở VIỆT NAM ................ 133
4.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí ở Việt Nam hiện nay
.........................................................................................................................................133

quy định pháp luật về vấn đề này. Vấn đề đặt ra, quy định và thực thi pháp luật, trong đó
có pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí như thế nào để vừa giữ gìn được một môi
trường không khí sạch, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của
người dân đồng thời vẫn có các điều kiện phát huy tối đa các nguồn lực cho phát triển
kinh tế đất nước là vấn đề hết sức quan trọng.
Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm không khí
trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, có thể thấy Luật quy định còn khá chung
chung, nhiều thiếu sót, chưa mang tính hệ thống, thiếu minh bạch, thiếu cụ thể dẫn tới
khó khả thi. Ví dụ: về nội hàm kiểm soát ô nhiễm không khí chưa được làm rõ, quy định
về đánh giá tác động môi trường không khí còn thiếu sót dẫn tới nhiều cơ sở sản xuất,
kinh doanh vẫn có thể lách qua các quy định pháp luật để không phải lập báo cáo đánh
giá tác động môi trường; thiếu các quy định về phí bảo vệ môi trường với khí thải, về
1


xác định thiệt hại môi trường không khí,…Bên cạnh đó, quy định về quy chuẩn môi
trường không khí hiện nay đã lạc hậu so với khu vực và thế giới; chưa có quy định cụ
thể về quy chuẩn môi trường không khí trong nhà. Những điểm thiếu sót hạn chế trong
các quy định pháp luật đã gây khó khăn rất lớn cho các cơ quan quản lý nhà nước cũng
như người dân trong kiểm soát ô nhiễm không khí.
Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã, đang và sẽ tham
gia vào các sân chơi chung của khu vực và thế giới như: Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN, Tổ chức Thương mại thế giới WTO, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
(TPP), Liên minh thuế quan Nga, Kazakhstan, Belarusia,… Việc tham gia vào các sân
chơi chung này đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện các quy định pháp luật trong nước phù
hợp với luật chơi chung của thế giới. Bên cạnh đó, Việt Nam đã tham gia một số công ước
quốc tế về bảo vệ môi trường không khí, ứng phó với biến đổi khí hậu, như: Công ước
khung về ứng phó với biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc, Nghị định thư Kyoto về ứng
phó với biến đổi khí hậu, Công ước về bảo vệ tầng ozon,... Bởi vậy, nghiên cứu, hoàn
thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí là một đòi hỏi cấp thiết.

- Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm không khí ở
Việt Nam và chỉ ra các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó;
- Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không
khí ở Việt Nam hiện nay;
- Kiến nghị nhằm xây dựng, hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí
ở Việt Nam trong điều kiện mới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án chủ yếu là các quy định pháp luật
về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được ghi nhận trong Luật Bảo vệ môi
trường năm 2014 và các văn bản pháp lý liên quan khác. Bên cạnh đó, tác giả cũng có
sự quan tâm thích đáng đến việc nghiên cứu các quan điểm, lý thuyết khoa học về kiểm
soát ô nhiễm môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng cũng như một số
các quy định pháp luật quốc tế và một số nước trên thế giới về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí.
- Về phạm vi nghiên cứu của đề tài, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận,
pháp lý và thực tiễn xoanh quanh pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Không gian nghiên cứu của đề tài luận án là Việt Nam và thời gian nghiên cứu ở thời
điểm hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu để có những đánh giá mang tính toàn diện về chủ đề
nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ có sự quan tâm thích đáng đến pháp luật của một số nước
trên thế giới về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cũng như các cam kết khu vực,
quốc tế liên quan đến vấn đề này. Bên cạnh đó, luận án cũng nghiên cứu về kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí trong mối quan hệ với ứng phó, thích nghi với biến đổi khí
hậu. Bởi nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu là do việc xả thải quá nhiều chất ô nhiễm,
như CO2, CFCs,… vào bầu khí quyền trái đất gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính và
biến đổi khí hậu toàn cầu và ứng phó với biến đổi khí hậu góp phần vào kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí. Tuy nhiên, luận án này sẽ không đi quá sâu vào phân tích
thực trạng pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, mà ứng phó với biến đổi chỉ là một
trong các nội dung quan trọng của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.


- Chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phỏng vấn chuyên
gia, các nhà quản lý để đánh giá các nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của pháp luật về
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, nguồn gốc ra đời của kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí, so sánh để phân biệt kiểm soát ô nhiễm môi trường với quản lý nhà
nước về môi trường không khí, bảo vệ môi trường. Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn
chuyên gia cũng nhằm xác định các tiêu chí điều chỉnh pháp luật, nội dung điều chỉnh
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí;
- Chương 3, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, đánh giá những
quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, so sánh đưa
4


ra các số liệu để đánh giá thực trạng, rút ra những bất cập, hạn chế, thiếu sót trong quy
định và thực hiện pháp luật về vấn đề này. Bên cạnh đó, để đánh giá thực tiễn thực hiện
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, tác giả dự kiến sử dụng phương
pháp điều tra xã hội học để tìm hiểu ý kiến quan điểm của các cơ quan quản lý nhà
nước, tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải và người dân về vấn đề này.
- Chương 4, tác giả sử dụng phương pháp tọa đàm, phỏng vấn chuyên gia,
phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách,
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam đồng thời dự báo xu
hướng phát triển của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong tương
lai gần.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Đưa ra các khái niệm, đặc điểm của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trên cơ sở nội hàm của kiểm soát
và đặc thù của ô nhiễm môi trường không khí. Làm sáng tỏ nguồn gốc của thuật ngữ
kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, phân biệt với thuật ngữ bảo vệ môi trường
không khí;
- Xây dựng các cơ sở lý luận nhằm xác định rõ mục đích kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí, chủ thể kiểm soát, cách thức, công cụ kiểm soát, nội dung kiểm soát ô

nhiễm môi trường không khí ở nước ta hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của Luận án có giá trị tham khảo tốt các cơ quan lập pháp,
lập quy trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi
trường nói chung, đặc biệt là sự ra đời của Luật Không khí sạch ở Việt Nam; cho việc
nghiên cứu, giảng dạy tại các trường đào tạo cao học, đại học, cao đẳng chuyên ngành
luật. Luận án cũng có giá trị tham khảo đối với các cơ quan thực tiễn trong quá trình
thực thi, giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường không khí.
7. Cơ cấu của luận án
Mở đầu
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí
Chương 2. Những vấn đề lý luận về pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí
Chương 3. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt
Nam hiện nay
Chương 4. Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường không khí
Kết luận
Danh mục các công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án
Danh mục tài liệu tham khảo

6


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT
Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG KHÔNG KHÍ
1.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án
Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp cận các tài liệu, sách, báo, bài viết của các học giả
trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu này, nghiên cứu sinh tổng quan tình



quan trọng. Vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường không chỉ thu hút sự quan tâm nghiên
cứu của học giả, các nhà khoa học các nước mà cả các tổ chức quốc tế, như các tổ chức,
như: Ngân hàng thế giới (WB), Tổ chức Y tế thế giới, Chương trình môi trường liên hợp
quốc (UNEP) và nhiều tổ chức quốc tế khác,... cũng đã có những nghiên cứu, hoặc tài
trợ cho nhiều công trình nghiên cứu về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Theo Bách khoa
toàn thư mở đã định nghĩa kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới giác độ liệt kê kiểm soát
các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường là các chất thải và phát thải đồng thời đề cao
biện pháp phòng ngừa ô nhiễm môi trường, cụ thể: Kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc
kiểm soát phát thải và chất thải vào không khí, nước và đất. Nếu không có việc kiểm
soát ô nhiễm, các chất thải từ các hoạt động tiêu thụ, sản xuất, vận tải, đốt nhiên liệu
tạo nhiệt, và các hoạt động khác của con người sẽ làm tích tụ hoặc phát tán chất ô
nhiễm sẽ làm giảm chất lượng môi trường sống. Trong các cấp kiểm soát, phòng chống
ô nhiễm và giảm thiểu chất thải được xem là các biện pháp hiệu quả [11]. Kiểm soát ô
nhiễm môi trường (Polluton control) được hiểu một cách tổng quát là tổng hợp các hoạt
động, hành động, biện pháp và công cụ nhằm phòng ngừa, khống chế không cho ô
nhiễm xảy ra, hoặc khi có ô nhiễm xảy ra thì có thể chủ động xử lý làm giảm thiểu hay
loại trừ được nó. Các hoạt động, hành động, biện pháp và công cụ phải được áp dụng
với cấu trúc có sẵn, đó chính là thể chế, luật pháp, chính sách văn bản, tiêu chuẩn, quy
định, các giải pháp công nghệ, các công cụ kinh tế, đánh giá tác động môi trường, quan
trắc và giám sát môi trường,...[124]. Có thể thấy dưới giác độ kinh tế, kỹ thuật các công
trình nghiên cứu trong và ngoài nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường cho thấy hoạt
động này được áp dụng chủ yếu trên hai phương diện là mục tiêu giảm thiểu và kiểm
soát các loại chất thải thông thường, chất thải nguy hại...;
Tiếp cận dưới giác độ pháp lý, quan điểm ghi nhận trong Giáo trình Luật Môi
trường của Trường Đại học luật Hà Nội, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội năm 2007
cho rằng: kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các hoạt động của Nhà nước, của
các tổ chức và cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường;
phòng ngừa ô nhiễm môi trường; khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây

Không chỉ đưa ra cách hiểu về kiểm soát ô nhiễm môi trường dưới các giác độ
khác nhau, một số công trình nghiên cứu còn xác định nội dung kiểm soát ô nhiễm môi
trường. Trong Luận án tiến sĩ: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt
động hàng hải ở Việt Nam, của Lưu Ngọc Tố Tâm đã liệt kê kiểm soát ô nhiễm môi
trường, gồm: đánh giá môi trường, quản lý chất thải, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi
trường; giải quyết các tranh chấp môi trường; kiểm soát ô nhiễm môi trường trong các
hoạt động cụ thể...[90]. Trong Dự án Nhiệm vụ điều tra, khảo sát, xây dựng các bộ tiêu
chí khoanh vùng ô nhiễm và đề xuất dự án xây dựng bản đồ ô nhiễm trên phạm vi toàn
quốc của Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng Cục Môi trường đã xác định, kiểm soát ô nhiễm
bao gồm: kiểm soát các nguồn thải gây ra ô nhiễm môi trường (nguồn thải khí ô nhiễm,
nguồn thải nước ô nhiễm, nguồn thải chất thải rắn, nguồn thải tiếng ồn, nguồn thải bức
xạ), kiểm soát ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, kiểm soát ô nhiễm môi trường các
ngành sản xuất công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm môi trường xung quanh ở các khu vực đô
thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, các làng nghề... và kiểm soát ô nhiễm môi trường
không khí, môi trường nước mặt, nước ngầm và môi trường nước biển ven bờ [91].

9


Các khái niệm ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường được nêu và
phân tích ở trên là những kết quả nghiên cứu quan trọng của nhiều nhà nghiên cứu. Tác
giả sẽ có sự kế thừa hợp lý trong quá trình nghiên cứu đề tài của mình.
Thứ hai, tổng quan các công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về kiểm soát
ô nhiễm môi trường không khí.
Một là, về xuất xứ của thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí. Qua khảo cứu một số các công trình nghiên cứu của nước
ngoài cũng trong nước có thể thấy trên thế giới kiểm soát ô nhiễm môi trường là thuật
ngữ vẫn còn rất mới trong nhiều ngôn ngữ của nhiều quốc gia. Thuật ngữ này được bắt
đầu được đề cập từ năm 1960 của thế kỷ XX sau những cảnh báo được đưa ra bởi các
nhà khoa học khi nghiên cứu về hiện trạng ô nhiễm môi trường và những ảnh hưởng tiêu

làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng. Việc sử dụng nhiều các
phương tiện giao thông như ô tô, xe gắn máy cũng là một loại ô nhiễm tiếng ồn và khí
thải đáng lo ngại [135] [136] [137]. Việc thải các chất gây ô nhiễm vào tự nhiên đã làm
ô nhiễm bầu khí quyển tạo nên sự ngột ngạt và "sương mù", gây nhiều bệnh cho con
người. Nó còn tạo ra các cơn mưa axít làm huỷ diệt các khu rừng và các cánh đồng.
Điều đáng lo ngại nhất là con người thải vào không khí các loại khí độc như: CO2, đã
gây hiệu ứng nhà kính. Theo nghiên cứu thì chất khí quan trọng gây hiệu ứng nhà kính
là CO2, nó đóng góp 50% vào việc gây hiệu ứng nhà kính, CH4 là 13%, nitơ 5%, CFCs
là 22%, hơi nước ở tầng bình lưu là 3%... Nếu như chúng ta không ngăn chặn được hiện
tượng hiệu ứng nhà kính thì trong vòng 30 năm tới mặt nước biển sẽ dâng lên từ 1,5 –
3,5 m (Stepplan Keckes). Có nhiều khả năng lượng CO2 sẽ tăng gấp đôi vào nửa đầu thế
kỷ sau. Điều này sẽ thúc đẩy quá trình nóng lên của Trái Đất diễn ra nhanh chóng. Nhiệt
độ trung bình của Trái Đất sẽ tăng khoảng 3,60°C (G.I.Plass), và mỗi thập kỷ sẽ tăng
0,30 °C. Theo các tài liệu khí hậu quốc tế, trong vòng hơn 130 năm qua nhiệt độ Trái
Đất tăng 0,40 °C. Tại hội nghị khí hậu tại Châu Âu được tổ chức gần đây, các nhà khí
hậu học trên thế giới đã đưa ra dự báo rằng đến năm 2050 nhiệt độ của Trái Đất sẽ tăng
thêm 1,5 – 4,50 °C nếu như con người không có biện pháp hữu hiệu để khắc phục hiện
tượng hiệu ứng nhà kính. Một hậu quả nữa của ô nhiễm khí quyển là hiện tượng lỗ
thủng tầng ôzôn. CFC là "kẻ phá hoại" chính của tầng ôzôn. Sau khi chịu tác động của
khí CFC và một số loại chất độc hại khác thì tầng ôzôn sẽ bị mỏng dần rồi thủng [62].
Do vậy, giữ gìn môi trường không khí được trong lành, để bảo vệ được tầng ozon, ứng
phó với biến đổi khí hậu, vấn đề đặt ra là phải kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí
có hiệu quả.
Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là một thuật ngữ mới mang tính
chuyên sâu. Nếu kiểm soát ô nhiễm môi trường bao hàm trong đó là kiểm soát ô nhiễm
đất, nước,… thì kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí mang tính đặc thù hơn. Hiện
nay, có một số công trình nghiên cứu [67] [77] [96] [100] [110] [116] đã đưa ra các ý
kiến về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Cụ thể trong đề tài: Pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm không khí của tác giả Hà Thị Phương Ngọc đã định nghĩa: kiểm soát ô
nhiễm môi trường không khí là hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng như tổ chức,

đất, môi trường nước,… Vấn đề này đã có một số công trình nghiên cứu phân tích, nhận
diện [67] [77] [96] [100] [110], trong đó trong đề tài: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường không khí, của tác giả Nguyễn Kim Thoa đã nhấn mạnh một số đặc điểm,
như: không khí không thể phân chia được cho nên không có biên giới, nó có phạm vi rất
rộng lớn và điều này dẫn tới việc xác định quyền sở hữu và sử dụng không khí là không
thể. Không khí thuộc quyền sở hữu của tất cả các quốc gia, tổ chức và cá nhân. Do vậy
rất khó kiểm soát được ô nhiễm không khí nên cần phải kiểm soát được khí thải trước
khi nó được thải ra ngoài môi trường; giá trị môi trường không khí không biểu hiện
ngay trước mắt, đặc biệt là lợi ích kinh tế, hơn nữa ảnh hưởng của không khí thường tác
động đến sức khỏe con người mang tính lâu dài nên mọi người chưa quan tâm bảo vệ; ô
nhiễm môi trường không khí là tác nhân dẫn đến biến đổi khí hậu, do vậy ứng phó với
biến đổi khí hậu cần gắn với kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; kiểm soát ô
nhiễm không khí cần dựa trên công nghệ kỹ thuật tiên tiến,…[100].
12


Thứ ba, tổng quan các công trình nghiên cứu thực trạng các quy định pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Để bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành, đảm bảo phát triển bền
vững đất nước, việc tạo hành lang pháp lý cho vấn đề này đóng vai trò quan trọng. Theo
hướng nghiên cứu này hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu tập trung vào các
nội dung pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường, môi trường không khí, như [15]
[42] [61] [67] [77] [90] [100] [110] [113] [116]… trong đó đề tài: Pháp luật về bảo vệ
môi trường không khí ở Việt Nam, của tác giả Lê Thị Phương Thảo đã tập trung phân
tích thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí; pháp luật về đánh
giá tác động môi trường không khí; pháp luật về trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá
nhân trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí và xử lý các hành vi làm ô nhiễm
môi trường không khí,...[116];
Một là, về quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí. Quy chuẩn kỹ thuật môi
trường nói chung, quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí nói riêng là xương sống của

động xấu đối với môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi
14


trường khi triển khai dự án đó [96]. Đánh giá tác động môi trường áp dụng với các dự án
đầu tư cụ thể có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, trong đó có môi trường không khí.
Đánh giá tác động môi trường lần đầu tiên được ghi nhận ở Hoa Kỳ năm 1970 trong
Luật về chính sách môi trường quốc gia. Sau đó ĐTM được lan rộng sang các hệ thống
pháp khác như Anh, Cộng hòa liên bang Đức và phần lớn Bắc Âu. Do tầm quan trọng
của việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nên các định chế tài chính quốc tế
như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu Á đã tích cực thúc đẩy việc tiến
hành ĐTM. Đánh giá tác động môi trường ĐTM đã được chính thức ghi nhận trong Luật
Bảo vệ môi trường năm 1993 của Việt Nam. Trong luận văn thạc sĩ: Pháp luật Việt Nam
về đánh giá tác động môi trường, thực trạng và hướng hoàn thiện, của tác giả Võ Trung
Tín, Đại học luật Tp. Hồ Chí Minh năm 2005, đã phân tích thực trạng pháp luật Việt
Nam về đánh giá tác động môi trường, trong đó có đánh giá tác động môi trường không
khí. Bên cạnh đó, một số công trình nghiên cứu khác [67] [77] [96] [100] [110] tuy
không trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về đánh giá tác động môi trường không
khí, nhưng cũng có đề cập đến hiện trạng các quy định pháp luật về đánh giá tác động
môi trường chỉ ra những bất cập trong quy định về hội đồng thẩm định, về tổ chức dịch
vụ thẩm định, về ý kiến của cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án đầu tư,... Đây cũng là
cơ sở quan trọng cho nghiên cứu sinh trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án liên quan
đến vấn đề này.
Bốn là, tổng quan các công trình nghiên cứu về tổ chức và trách nhiệm của các
cơ quan quản lý nhà nước trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Đảng và Nhà
nước ta đã khẳng định bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước và là nghĩa vụ
của mọi tổ chức, cá nhân. Nhân dân thành lập ra nhà nước để quản lý xã hội, nộp thuế
để Nhà nước thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, trong đó có trách nhiệm
kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, môi trường không khí nói riêng. Do vậy, Nhà
nước phải có trách nhiệm hàng đầu trong kiểm kiểm soát ô nhiễm môi trường không

không khí của mình mà có hành vi gây ảnh hưởng, ô nhiễm môi trường không khí thì họ
cần phải chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định. Các công trình, bài viết nghiên cứu
về vấn đề này, như: Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
làm ô nhiễm môi trường gây ra, của tác giả Bùi Kim Hiếu; Những điểm mới về tội phạm
môi trường trong Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009, của PGS.TS. Phạm Văn Lợi; Ngăn
ngừa, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng – Nhìn từ cơ chế,
chính sách, pháp luật về đầu tư, tài chính, lao động, đất đai, môi trường, của
PGS.TS.Phạm Hữu Nghị,... [23] [33] [42] [60] [69] [77] [100] [110] [116] đã chỉ ra các
trách nhiệm pháp lý có thể áp dụng với cá nhân là trách nhiệm hành chính, hình sự, dân
sự và trách nhiệm kỷ luật. Lý giải phân biệt giữa trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
hành vi làm ô nhiễm môi trường và trách nhiệm hành chính của cá nhân, pháp nhân.
Nhiều kiến nghị tăng xử phạt hành chính đối với cá nhân, pháp nhân có hành vi làm ô
nhiễm môi trường. Hơn nữa, đối với pháp nhân ngoài trách nhiệm hành chính, trách
nhiệm dân sự ra một số công trình nghiên cứu đề nghị pháp nhân khi có hành vi làm ô
nhiễm môi trường có thể phải chịu cả trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, cũng có công
trình phản bác lại việc đề nghị hình sự hóa đối với pháp nhân có hành vi làm ô nhiễm
môi trường do mâu thuẫn với lý luận của luật hình sự về yếu tố lỗi.
Thứ tư, tổng quan các công trình nghiên cứu về hạn ngạch khí thải, kiểm soát
ô nhiễm môi trường không khí tầm xa.
16


Ô nhiễm môi trường không khí không chỉ ảnh hưởng đến môi trường không khí
tầm thấp xung quanh chúng ta mà còn ảnh hưởng đến môi trường không khí tầm xa mà
xét cho đến cùng thì hậu quả của nó đều tác động nguy hiểm đến sự tồn tại và phát triển
của con người. Khoa học đã chứng mình nếu thải quá nhiều chất thải như clo, flo,
cacbon, CO2 thì tầng ozon sẽ bị hiện tượng hiệu ứng nhà kính là nguyên nhân gây nên
biến đổi khí hậu toàn cầu. Một trong những giải pháp để ứng phó với biến đổi khí hậu là
phải hạn chế thải các chất gây hiệu ứng nhà kính. Trong Báo cáo quốc gia của Việt Nam
được Ngân hàng phát triển châu Á hỗ trợ: Climate Change in Asia: Viet Nam country


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status