Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh ninh bình - Pdf 34

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH TR MY

PHáP LUậT Về KIểM SOáT Ô NHIễM MÔI TRƯờNG
TRONG LĩNH VựC KHAI THáC Đá QUA THựC TIễN TỉNH NINH BìNH

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2015


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

TRN TH TR MY

PHáP LUậT Về KIểM SOáT Ô NHIễM MÔI TRƯờNG
TRONG LĩNH VựC KHAI THáC Đá QUA THựC TIễN TỉNH NINH BìNH
Chuyờn ngnh: Lut Kinh t
Mó s: 60 38 01 07

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. MAI HI NG

H NI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

Môi trường và ô nhiễm môi trường.................................................... 10

1.1.2

Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá............ 15

1.2

Kiểm soát ô nhiễm môi trường và quyền con người ..................... 20

1.2.1

Quyền con người đối với môi trường................................................. 20

1.2.2

Nội dung các quyền con người đối với môi trường ........................... 21

1.3

Một số vấn đề về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
trong hoạt động khai thác đá .......................................................... 25

1.3.1

Khái niệm pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt
động khai thác đá................................................................................ 25

1.3.2


trường ................................................................................................. 47

2.2

Thực tiễn áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
trong lĩnh vực khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình ................ 51

2.2.1

Lập quy hoạch sử dụng tài nguyên đá ............................................... 51

2.2.2

Hoạt động đánh giá tác động môi trường (ĐTM) .............................. 56

2.2.3

Kiểm soát ô nhiễm không khí ............................................................ 59

2.2.4

Kiểm soát ô nhiễm nước .................................................................... 63

2.2.5

Kiểm soát ô nhiễm đất........................................................................ 65

2.2.6

Quản lý chất thải rắn .......................................................................... 66

3.2.1

Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
trong lĩnh vực khai thác đá ................................................................. 84

3.2.2

Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý nhà
nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường ............................................. 87

3.2.3

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
và trách nhiệm bảo vệ môi trường ..................................................... 89

3.2.4

Các giải pháp cụ thể khác................................................................... 91

Kết luận Chương 3 ........................................................................................ 98
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 100


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHYT:

Bảo hiểm y tế

ĐTM:

Bảng 1.3: Lượng bụi thải trung bình do khai thác 300.000 m3
đá xây dựng

35

Bảng 2.1: Tổng hợp hiện trạng tài nguyên, trữ lượng các mỏ
đá xây dựng của tỉnh Ninh Bình (Theo các huyện)

43

Bảng 2.2: Tổng hợp hiện trạng tài nguyên, trữ lượng các mỏ
đất đá hỗn hợp - san lấp của tỉnh Ninh Bình (Theo
các huyện)

44

Bảng 2.3: Hiện trạng mỏ khai thác đá xây dựng, đá san lấp tỉnh
Ninh Bình

45

Bảng 2.4: Tổng hợp quy hoạch khai thác các mỏ đá xây dựng
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 của tỉnh
Ninh Bình (Theo các huyện) theo Quyết định số
01/QĐ-UBND tỉnh Ninh Bình

54

Bảng 2.5: Tổng hợp quy hoạch khai thác đá hỗn hợp - vật liệu
san lấp giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến

đã được hình thành và thực hiện trên thực tế đang thể hiện những tồn tại cụ
thể trong lĩnh vực khai thác đá. Hiện nay, chưa có nhiều đề tài khoa học

1


nghiên cứu vấn đề pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực
khai thác đá. Mặc dù đề tài này đã được đề cập trong một số bài viết nhưng
chưa được tập trung nghiên cứu chuyên sâu, bao quát toàn bộ và hầu hết các
bài viết đều không nghiên cứu vấn đề dưới góc độ pháp luật, không có sự
cập nhật thông tin tương ứng với quá trình thay đổi từ thực tiễn và quy định
của pháp luật.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về kiểm soát
ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh
Bình” cho Luận văn thạc sĩ của mình. Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về vấn
đề này, luận văn nghiên cứu, tìm hiểu về hoạt động khai thác đá trên địa bàn
tỉnh Ninh Bình, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường bằng pháp luật tại tỉnh
Ninh Bình; từ đó bước đầu có những lý giải về thực trạng môi trường tỉnh
Ninh Bình những năm gần đây và đưa ra một số giải pháp nhằm kiểm soát ô
nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá tại tỉnh Ninh Bình, hoàn thiện
hệ thống pháp luật về môi trường trong tương lai.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
“Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong lĩnh vực khai
thác đá qua thực tiễn tỉnh Ninh Bình” là một đề tài có nội dung nghiên
cứu khá rộng, cần xem xét trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ
của luận văn, tác giả giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu ở những
nội dung cơ bản sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường; tầm quan
trọng của việc kiểm soát ô nhiễm môi trường; quyền của con người được sống
trong môi trường trong lành, mối liên hệ giữa kiểm soát ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường từ lâu luôn là vấn đề được cả xã hội quan tâm. Đã
có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ:
chính trị, pháp luật, kinh tế, môi trường, xã hội học… với quy mô rộng, hẹp
khác nhau. Riêng xét dưới góc độ pháp luật, vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi

3


trường đã được đề cập trong nhiều đề tài khoa học, tuy nhiên đối với vấn đề
kiểm soát ô nhiễm môi trường cụ thể trong hoạt động khai thác đá đến nay
chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này.
Sự phát triển của kinh tế phải đi đôi với sự bền vững của môi trường
nếu không quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa một cách vội vàng sẽ dẫn
đến những hậu quả lâu dài. Nền kinh tế trước mắt có thể tiến nhanh vượt bậc
nhưng qua giai đoạn đỉnh cao sẽ suy thoái khi mà sự phát triển đó vượt
ngưỡng chịu đựng của môi trường. Tác giả Trần Thị Thùy Dương (2008) có
nghiên cứu: “Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Việt Nam” [24]. Đề tài khoa học trên tập trung nghiên cứu hệ
thống tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới môi trường sinh thái và
bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam dưới góc độ của Khoa học Kinh tế chính trị. Để làm tốt mục đích
trên tác giả đã làm rõ mối quan hệ giữa công nghiệp hoá, hiện đại hoá và môi
trường sinh thái; phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc giải quyết
các vấn đề môi trường trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phân
tích thực trạng môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam; từ đó đưa ra một số giải pháp
cơ bản nhằm bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá ở Việt Nam.
Luận văn thạc sỹ “Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Việt (2010) [59] đã khái quát

môi trường” của tác giả Dương Thanh An năm 2011 [1] đã tập trung phân
tích và tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về tội phạm môi
trường, tác giả đã đưa ra những số liệu mới nhất về tội phạm môi trường trong
thời gian đó... Luận án được đánh giá là có nhiều đóng góp về mặt lý luận và
thực tiễn, đặc biệt đã đề xuất được các hướng để hoàn thiện các quy định của
Bộ luật Hình sự Việt Nam đối với loại tội phạm về môi trường.

5


Nguyễn Thị Xuân Trang (2012) với đề tài nghiên cứu: “Trách nhiệm
bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường theo quy định của bộ luật dân
sự năm 2005” [49] đã có những đóng góp nhất định vào lý luận trách nhiệm
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng các khái niệm môi trường theo nghĩa
rộng và nghĩa hẹp, khái niệm trách nhiệm dân sự do xâm phạm môi trường…
Luận văn đưa ra những nguyên nhân, điều kiện của các vụ xâm phạm môi
trường, dự báo tình hình xâm phạm môi trường trong những năm tới. Đồng
thời, luận văn góp phần giải quyết một cách có hệ thống những vướng mắc
xung quanh chế định bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường.
Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên đã có đề tài nghiên cứu với tựa
đề: “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường” [56]. Luận án đã nêu khái niệm “trách nhiệm pháp lý” trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường ở hai khía cạnh “tích cực” và “tiêu cực”. Bản thân thuật
ngữ “trách nhiệm pháp lý” cũng thường mang ý nghĩa tiêu cực, điều này cũng
được thể hiện rõ trong luận án. Thuật ngữ được làm rõ hơn khi tác giả khái
quát những đặc trưng cơ bản của trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ
môi trường, hình thức thể hiện, phạm vi tác động và đối tượng tác động của
pháp luật trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tác giả đưa
ra những tiêu chí cần thiết khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường: đảm bảo tính ổn định của pháp luật, tính

trên đã thể hiện nhiều hạn chế chưa được khắc phục trên thực tế. Bên cạnh đó
là những bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật và công tác quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường tự nhiên chưa được khắc phục.
Trên phạm vi tỉnh Ninh Bình năm 2013 có công trình nghiên cứu của
tác giả Trịnh Thị Hồng: “Giải pháp chính sách hạn chế ô nhiễm môi trường
trên cơ sở nhận diện xung đột môi trường tại làng nghề chế tác đá mỹ nghệ
xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình” [29]. Tác giả chỉ ra xung đột
môi trường thể hiện ở ba dạng: xung đột về nhận thức, mục tiêu và lợi ích.

7


Trong đó xung đột về nhận thức khá mờ nhạt. Xung đột mục tiêu và lợi ích là
hai nguyên nhân chính, chủ yếu. Nguyên nhân chính dẫn đến xung đột môi
trường chính là do ô nhiễm môi trường, đây là yếu tố ảnh hưởng rất nghiêm
trọng đến sức khoẻ của người dân tại địa phương. Nhằm hạn chế tình trạng ô
nhiễm tại làng nghề chế tác đá mỹ nghệ xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh
Ninh Bình, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chính sách như: Hoàn thiện hệ
thống các văn bản về bảo vệ môi trường và cam kết bảo vệ môi trường đối với
làng nghề; Hoàn thiện bộ máy quản lý môi trường cấp phường, xã, thị trấn:
mang tính chuyên trách thay cho kiêm nhiệm như hiện nay; Tăng cường giám
sát môi trường đối với các cơ sở sản xuất; Về mặt tài chính: Xây dựng cụ thể
hơn chính sách hỗ trợ đầu tư về tài chính để giúp các cơ sở sản xuất xây dựng
các hệ thống xử lý bụi, nước thải tại chỗ đạt quy chuẩn quốc gia về môi
trường… Đặc biệt nâng cao năng lực quản lý gắn với sự tham gia của cộng
đồng trong đó vai trò của người sản xuất và nơi sản xuất cần thể hiện rõ hơn,
coi đây là lực lượng quan trọng nhất đối với việc quản lý sản xuất, cải thiện
môi trường và sự phát triển bền vững của làng nghề.
Các bài viết và đề tài nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi
trường dưới nhiều góc độ, vấn đề trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường,

6. Bố cục của luận văn
Luận văn được bố cục gồm 03 chương với mục đích trình bày, giải
quyết cụ thể, triệt để vấn đề, cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lí luận về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường trong hoạt động khai thác đá.
Chương 2. Thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường
trong hoạt động khai thác đá trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm
soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá tại
Ninh Bình.

9


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT
Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ
1.1 Một số vấn đề về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt
động khai thác đá
1.1.1 Môi trường và ô nhiễm môi trường
a) Môi trường và vai trò của môi trường
Tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu, khái niệm môi trường được hiểu
dưới nhiều góc độ khác nhau. Thông thường, ta hay dùng các khái niệm như
môi trường xã hội, môi trường giáo dục, môi trường làm việc, môi trường văn
hóa, môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí… Với cách hiểu
như trên, môi trường được chia thành hai loại cơ bản: môi trường vật chất tự
nhiên và môi trường nhân tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại, phát triển
của con người.
Dưới góc độ pháp lý, môi trường được định nghĩa như sau: Môi trường
là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự

Môi trường có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người, thể
hiện ở một số khía cạnh sau [4, tr.8]:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật.
Sự tồn tại và phát triển của con người và các loài sinh vật đặt trong những
khoảng không gian nhất định, đó là môi trường, không có ai tồn tại ngoài
môi trường.
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt
động sản xuất của con người. Môi trường là nơi con người khai thác nguồn
vật liệu và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và cuộc sống như: đất,
nước, không khí, khoáng sản và các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió...
Các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và văn hoá,

11


du lịch của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất tồn tại trên trái đất
và không gian bao quanh trái đất.
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra
trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình. Con người khai thác các yếu
tố vật chất từ môi trường phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất, qua quá trình chế
biến, sử dụng con người thải ra một lượng chất thải lớn vào môi trường. Môi
trường xung quanh ta trở thành nơi chứa đựng tất cả các loại rác thải này.
- Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới
con người và sinh vật trên trái đất.
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Bản
thân môi trường ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hóa của vật
chất, sinh vật và con người. Môi trường trái đất cung cấp các chỉ thị không
gian và tạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con
người và sinh vật sống trên trái đất. Đặc biệt, môi trường là nơi lưu trữ và
cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gen, các loài động thực vật, các

xác định, đánh giá một hành vi có phải là hành vi gây ô nhiễm môi trường
không. Song hành vi gây ô nhiễm và thực trạng môi trường ô nhiễm không
nhất định có mối quan hệ nhân quả và mối quan hệ hữu cơ với nhau do trong
môi trường còn có hiện tượng tích tụ, cộng dồn, phát tán nên có thể có hành vi
gây ô nhiễm môi trường mà không có môi trường bị ô nhiễm, hay ngược lại
có môi trường bị ô nhiễm song không có hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên
nhân trong đó nguyên nhân chủ yếu là do các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô
nhiễm được các nhà môi trường học định nghĩa là chất hoặc yếu tố vật lý khi
xuất hiện trong môi trường làm cho môi trường bị ô nhiễm. Thông thường chất
gây ô nhiễm là các chất thải, tuy nhiên chúng có thể xuất hiện dưới dạng nguyên
liệu, thành phẩm, phế liệu, phế phẩm… và được phân thành các loại sau đây:
‫ ـ‬Chất gây ô nhiễm tích lũy (chất dẻo, chất thải phóng xạ) và chất ô
nhiễm không tích lũy (tiếng ồn).
13


‫ ـ‬Chất gây ô nhiễm trong phạm vi địa phương (tiếng ồn), trong phạm vi
vùng (mưa axit) và trên phạm vi khu toàn cầu (chất CFC).
‫ ـ‬Chất gây ô nhiễm từ nguồn có thể xác định (chất thải từ các cơ sở sản
xuất kinh doanh) và chất gây ô nhiễm không xác định được nguồn (hóa chất
dùng trong nông nghiệp).
‫ ـ‬Chất gây ô nhiễm do phát thải liên tục (chất thải từ các cơ sở sản xuất,
kinh doanh) và chất gây ô nhiễm do phát thải không liên tục (dầu tràn do sự
cố tràn dầu) [50, tr.64].
c) Phân biệt trạng thái môi trường bị ô nhiễm với môi trường bị suy thoái
Suy thoái môi trường là khái niệm dễ gây nhầm lẫn với ô nhiễm môi
trường. Phân biệt rõ hai trạng thái trên là cơ sở quan trọng để có các biện
pháp khắc phục hợp lý. “Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng
và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và

sạch môi trường. Còn đối với suy thoái môi trường là khôi phục chất lượng và
số lượng các thành phần môi trường.
1.1.2 Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá
‫ ـ‬Khái niệm
Khai thác đá là một hình thức khai thác khoáng sản, “khai thác khoáng sản
là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào,
phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan” [40, Điều 2, Khoản 7].
Thuật ngữ kiểm soát ô nhiễm được giải thích tại Khoản 18 Điều 3 Luật
bảo vệ môi trường 2014 là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử
lý ô nhiễm. Như vậy, có thể hiểu kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp
các hoạt động của nhà nước, của các tổ chức cá nhân với mục đích chủ động
ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động kinh tế - xã hội;
là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như
trước khi bị ô nhiễm [50, tr.69].
Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá được thực
hiện với mục đích kiểm tra, xem xét mọi hoạt động của các chủ thể khi họ tiến
15


hành hoạt động khai thác, chế biến đá nhằm ngăn ngừa, hạn chế những hậu quả
xảy ra đối với môi trường và tài nguyên môi trường; xử lý, khắc phục hậu quả,
cải tạo môi trường sau quá trình khai thác đá. Việc kiểm soát ô nhiễm môi
trường trong hoạt động khai thác đá được tiến hành ở diện rộng, với quy mô
lớn và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bởi nhiều chủ thể khác nhau.
‫ ـ‬Chủ thể tham gia hoạt động hoạt động kiểm soát
Kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá do nhiều
chủ thể thực hiện gồm: Nhà nước; các tổ chức, đoàn thể, quần chúng, cộng
đồng dân cư; các cá nhân trong xã hội.
Nhà nước thực hiện việc kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động
khai thác đá thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về kiểm

tiến hành ở các giai đoạn như sau:
Thứ nhất, việc kiểm soát phải bắt đầu từ khi dự án khai thác đá chưa
được tiến hành khai thác trên thực tế. Việc kiểm soát ngay từ trong giai đoạn
rất sớm nhằm đảm bảo cho dự án khai thác đá được thực hiện với lộ trình
khai thác hợp lý, những trang thiết bị tốt, cách thức khai thác đá khoa học…
giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác đá tới môi
trường. Một dự án khai thác đá được kiểm soát nghiêm ngặt từ tất cả các giai
đoạn, bao gồm: Kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức,
cá nhân tham gia hoạt động khai thác đá; Cấp giấy phép thăm dò các mỏ đá;
Phê duyệt kết quả thăm dò mỏ đá; Kiểm tra và thẩm định thiết kế cơ sở của
các Dự án khai thác đá; Phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường
(ĐTM), Dự án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi hoàn thành việc khai
thác đá. Việc kiểm soát từ những giai đoạn đầu của hoạt động khai thác đá là
một trong những biện pháp phòng ngừa những hậu quả xấu có thể gây ra cho
môi trường từ các tai nạn, sự cố xảy ra trong quá trình khai thác đá.
Thứ hai, khi dự án khai thác đá đi vào hoạt động, thực hiện theo kế
hoạch của dự án, hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường cần được tiến hành

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status