LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo trường Đại
học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật
Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình sau đại học tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng
viên – TS Nguyễn Văn Phương, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ dẫn và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 18 tháng 07 năm 2016
Học viên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật hình sự
BVMT
Bảng 2.4. Bảng báo giá hệ thống xử lý nước thải
50
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ PHÁP
6
LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
6
1.1. Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề
6
1.1.1. Khái quát về làng nghề
1.1.2. Khái quát về ô nhiễm môi trường làng nghề
1.2. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
6
12
2.1.2. Hậu quả của ô nhiễm môi trường làng nghề
31
2.2. Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường
làng nghề tại Hà Nội
33
2.2.1. Đánh giá thực tiễn thi hành của cơ quan quản lý nhà nước
33
2.2.2. Đánh giá thực tiễn thực thi của tổ chức, cá nhân
47
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
57
3.1. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề của một số
nước trên thế giới và kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam
57
3.2. Định hướng trong xây dựng chính sách về kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ
môi trường làng nghề
Việt Nam là một đất nước có nhiều làng nghề. Các làng nghề tập trung
ở nhiều tỉnh, thành, địa phương khác nhau không những mang lại nét văn hóa
truyền thống, bản sắc cho quê hương đất nước mà còn mang lại những lợi ích
kinh tế nhất định.
Trong các địa phương cả nước, Hà Nội là nơi có nhiều làng nghề nhất.
“Theo Chi cục Bảo vệ môi trường TP Hà Nội, hiện thành phố có 1.350 làng
nghề và làng có nghề, trong đó có 286 làng được công nhận làng nghề truyền
thống. Số làng có nghề phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các huyện:
Phú Xuyên (124 làng), Thường Tín (125 làng), Chương Mỹ (174 làng), Ứng
Hòa (113 làng), Thanh Oai (101 làng), Ba Vì (91 làng),… một số huyện có số
lượng làng có nghề ít như: Thanh Trì (24 làng), Gia Lâm (22 làng), Từ Liêm
(11 làng)…”[1]
Trong thời gian qua, nhiều làng nghề đã được bảo tồn, khôi phục và
phát triển mang lại nhiều tín hiệu tích cực cho đời sống xã hội. Tuy nhiên, đi
kèm với những nét tích cực đó là tình trạng ô nhiễm môi trường trong cả nước
nói chung và Hà Nội nói riêng ngày một phổ biến và nghiêm trọng hơn. Ô
nhiễm môi trường làng nghề không những gây hậu quả nghiêm trọng đối với
môi trường mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe của người dân, ảnh hưởng tới
thẩm mỹ, cảnh quan đời sống.
Trước thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề, pháp luật kiểm soát ô
nhiễm môi trường làng nghề đã được ban hành và đưa ra nhiều quy định
nhằm điều chỉnh, khắc phục vấn đề này. Tuy nhiên xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau, mà việc áp dụng, thực thi pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi
trường làng nghề trên thực tế còn nhiều bất cập. Biểu hiện cụ thể nhất là tại
1 . />
[ ]
8
9
về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng Việt Nam”
của Nguyễn Trần Điện (2016, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) là
luận án nghiên cứu về việc thực hiện các quy định pháp luật BVMT làng nghề
trên thực tế tại nhiều tỉnh thành trong đó có Hà Nội, chỉ ra những bất cập, hạn
chế của việc thực hiện, áp dụng pháp luật trên thực tế cũng như các giải pháp
khắc phục.
Nhìn chung, đã có nhiều công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường
làng nghề cũng như pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề nói
chung. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về việc áp dụng các quy định
pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề trên địa bàn thành phố Hà
Nội cũng như một số nội dung chưa được đề cập tới đặc biệt là các nội dung
được sửa đổi bổ sung kể từ năm 2014 qua luật BVMT 2014 hay Nghị định số
19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật BVMT…
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung tim hiểu, phân tích, đánh giá các quy định của pháp
luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề tại Việt Nam hiện nay cũng
như thực trạng áp dụng pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề tại
Hà Nội để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện
pháp luật cụ thể tại Hà Nội.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phân tích những đặc điểm cơ bản, đặc trưng của làng nghề để thấy
được sự tồn tại, phát triển của làng nghề; ý nghĩa của làng nghề cũng như sự
tác động nhất định của làng nghề tới môi trường.
Tìm hiểu, nghiên cứu các chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về
BVMT làng nghề. Từ đó đánh giá những ưu điểm để phát huy hiệu lực trong
thực tế, phát hiện những thiếu hụt, mâu thuẫn hoặc những điểm không còn
phù hợp của các chính sách, pháp luật đang cản trở hoặc làm giảm hiệu lực
nhiễm môi trường làng nghề
Chương 2. Thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi
trường làng nghề tại Hà Nội
11
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường làng nghề.
12
Chương 1. Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ VÀ PHÁP
LUẬT VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ
1.1. Khái quát về làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề
1.1.1. Khái quát về làng nghề
1.1.1.1. Khái niệm làng nghề
Lâu nay khái niệm làng nghề thường được hiểu theo nhiều cách khác
nhau. Theo nhà nghiên cứu Trần Minh Yến: "Làng nghề là một thiết chế kinh
tế- xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại
trong một không gian địa lý nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình
sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã
hội và văn hóa"[2]. Nhà nghiên cứu Bùi Văn Vượng cho rằng: "Làng nghề
truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất
thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều
trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa
cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại
làng quê của mình"[ 3]. Thế nhưng, trải qua nhiều bước phát triển, có thể thấy
cho đến nay, làng nghề không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ
công, tuy thủ công vẫn là chính, mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa
những tiêu chí để dựa vào đó xem xét, công nhận thế nào là một làng nghề
cũng đã được chú ý và được quy định trong những văn bản pháp luật. Trong
thông tư 116/2006/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn ngày 18/12/2006 về việc hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị
định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành
nghề nông thôn, đã đưa ra một khái niệm về làng nghề: Làng nghề là một
hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các
điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành
nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau. Định
nghĩa này đã giới hạn rất rõ rang phạm vi của một “làng” (thôn, ấp, bản, làng,
buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn).
Thế nào là “nghề” (ngành nghề nông thôn sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản
phẩm khác nhau). Tuy nhiên để được công nhận là một làng nghề thì phải đáp
ứng đủ ba tiêu chí cũng đã được nêu rõ tại Thông tư này, đó là:
- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề
nông thôn;
- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề
nghị công nhận;
14
- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Những tiêu chuẩn nêu trên chứng tỏ làng nghề đó phải thực sự có tiềm
năng phát triển và cơ hội làm giàu cho người dân, đồng thời cũng là cơ sở
pháp lý quan trọng để Đảng và Nhà nước thực hiện những chính sách ưu đãi
đối với làng nghề. Tuy nhiên một điểm đặt ra đó là những làng có nghề đan
xen nhưng không đáp ứng được các tiêu chí trên và theo đó mặc nhiên không
được công nhận là làng nghề, vậy khi các làng có nghề này gây ô nhiễm môi
trường thì xử lí như thế nào (Theo thống kê sơ bộ của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hiện nay cả nước có khoảng 5.096 làng nghề và làng có nghề trong đó
Nam đã thu về 20,4 triệu USD từ xuất khẩu hàng mây, tre, cói và thảm, giảm
9,1% so với tháng 4/2015, tính chung từ đầu năm cho đến hết tháng 5/2015,
xuất khẩu mặt hàng này đạt 104,4 triệu USD, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm
2014.Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, tháng 5/2015, Việt
Nam đã thu về 20,4 triệu USD từ xuất khẩu hàng mây, tre, cói và thảm, giảm
9,1% so với tháng 4/2015, tính chung từ đầu năm cho đến hết tháng 5/2015,
xuất khẩu mặt hàng này đạt 104,4 triệu USD, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm
2014. [5]
Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa lý, nét văn
hóa đặc sắc, các làng nghề truyền thống còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng
nghề lại gắn với một vùng văn hóa hay một hệ thống di tích. Đây là một tiềm
năng to lớn để phát triển du lịch làng nghề, đóng góp sự phát triển chung của
nền kinh tế. Nhiều địa phương đã có những cách thức phát triển du lịch làng
nghề, thu hút lượng khách du lịch đến với địa phương ngày càng đông.
Không thể phủ nhận tác dụng của làng nghề trong việc chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông thôn. Phát triển sản xuất sản phẩm xuất khẩu chính là chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chuyển từ lao động nông nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động
ngành nghề có năng suất và chất lượng cao thu nhập cao. Ví dụ như sự phát
triển các sản phẩm xuất khẩu trên địa bàn Hà Nội đã mở rộng quy mô sản
xuất, thu hút nhiều lao động đã góp phần làm chuyển dịch cơ cấu lao động
sang làm công nghiệp và dịch vụ và giảm dần lao động nông nghiệp. Chính
5 . />[ ]
16
làng nghề sản xuất sản phẩm xuất khẩu đã hình thành các trung tâm buôn bán
trao đổi hàng hóa, dần dần trở thành các trung tâm dân cư, các thị trấn, thị tứ
và từng bước đô thị hóa.
Thứ ba, làng nghề Việt Nam có ý nghĩa xã hội lớn lao
Thứ tư, làng nghề Việt Nam có tác động nhất định tới môi trường
Tại các làng nghề hiện nay, sản phẩm được sản xuất từ các nguyên, vật
liệu chủ yếu lấy từ thiên nhiên gần khu vực sản xuất, như nguyên liệu tre,
mây làm đồ thủ công mỹ nghệ; gỗ, tơ tằm, gốm, sứ … Do sự phát triển mạnh
của các làng nghề, nhu cầu xã hội ngày càng nhiều đối với các sản phẩm
truyền thống nên việc khai thác nguyên liệu ngày càng gia tăng, có khả năng
làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái.
Quy mô làng nghề, hình thức tổ chức sản xuất cũng ảnh hưởng đến môi
trường. Các làng nghề thường có quy mô nhỏ, các cơ sở sản xuất tồn tại dưới
các dạng hộ gia đình, các xưởng sản xuất, các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hầu
hết các cơ sở sản xuất đó hoạt động tự phát, mang tính thời vụ theo nhu cầu
của thị trường. Chính đặc điểm này đã tạo nên sự linh hoạt trong hoạt động
sản xuất của làng nghề nhưng vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường lại rất
khó khăn. Về cơ sở hạ tầng, hầu hết các làng nghề đều sử dụng chính diện
tích đất ở của mình là mặt bằng sản xuất. Các nhà xưởng được xây dựng rất
sơ sài, đồng thời là nơi tập kết nguyên, vật liệu, sản phẩm. Diện tích chật hẹp,
đường giao thông xấu, hệ thống điện, nước hầu hết không đáp ứng được nhu
cầu, không có hệ thống cấp nước cũng như xử lý nước thải đã làm cho môi
trường tại các làng nghề bị ảnh hưởng nặng nề.Ngoài ra trình độ công nghệ
của các làng nghề chưa cao. Công đoạn sản xuất chính của một số ngành nghề
như gốm sứ, mây tre đan, nón, gỗ mỹ nghệ … vẫn phải làm bằng tay, nhất là
các sản phẩm đòi hỏi tính mỹ thuật cao. Theo thống kê của Sở Công thương
Hà Nội, hiện 70% thiết bị được sử dụng tại các làng nghề Hà Nội là máy móc,
trang thiết bị đơn giản.[7]
7] . Quyết định số 7430-QĐ-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2013 về sản phẩm xuất khẩu
chủ yếu của làng nghề Hà Nội 2013-2020
[
19
trong làng nghề mang lại, không còn phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi
trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu tới sinh vật và con người.
Nhìn chung có ba đặc điểm cơ bản sau:
- Ô nhiễm môi trường trong làng nghề là dạng ô nhiễm cục bộ trên phạm vi
một khu vực nông thôn (thôn, làng, xã)
- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang nét đặc thù của hoạt động sản xuất
theo ngành nghề và loại hình sản phẩm, tác động trực tiếp tới môi trường
nước, không khí, đất trong khu vực dân sinh.
- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm trên địa bàn vừa diễn ra
hoạt động sản xuất và hoạt động sinh hoạt của dân cư địa phương
Hiện nay, tình trạng ô nhiễm làng nghề đang tồn tại rất phổ biến, có xu
hướng gia tăng. Cụ thể các làng nghề ở trong cả nước đều đang gánh chịu hậu
quả do ô nhiễm môi trường làng nghề gây ra. Phụ thuộc vào lĩnh vực sản xuất
của làng nghề, ô nhiễm môi trường làng nghề tác động tới một hoặc nhiều
thành phần, yếu tố môi trường tại địa phương. Cụ thể:
- Ô nhiễm môi trường nước: Ở các làng nghề hiện nay, môi trường nước luôn
trong tình trạng bị ô nhiễm thể hiện qua việc thải bỏ các chất thải, hóa chất
xuống nguồn nước. Điều này tác động tới nguồn nước sinh hoạt cũng như sản
xuất bị ảnh hưởng. Các sinh vật ở dưới nước không sống được, sản xuất bị
ảnh hưởng , sức khỏe của người dân luôn bị đe dọa, các loại bênh tật có xu
hướng gia tăng
- Ô nhiễm môi trường không khí: là thực tế bức xúc ở nhiều làng nghề, thể
hiện ở các dạng ô nhiễm bụi, mùi, nhiêt độ và tiếng ồn. Mức độ ô nhiễm nặng
hay nhẹ tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm và quy trình sản xuất của mỗi làng
nghề. Ở các làng nghề gốm sứ, cơ khí, đúc … thì ô nhiễm đều rất nặng ở tất
cả các dạng, ở các làng nghề chế biến gỗ, mây, tre đan thì bị ô nhiễm bụi,
tiếng ồn, mùi ...
thấy nhất của dạng ô nhiễm môi trường này ở các làng nghề là tình trạng rác
thải, phế thải và các bãi tập kết vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất ngổn
ngang, bừa bãi ở khắp mọi nơi. Cảnh quan và điều kiện vệ sinh trong làng
cũng như khu ở của dân cư bị xuống cấp hoặc bị phá vỡ. Nhà ở và không gian
21
sinh hoạt của các hộ dân cư chật chội, xen lẫn với nhà xưởng, kho tàng sản
xuất; diện tích vườn, ao hồ và cây xanh trong làng đều bị thu hẹp.
1.2. Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật về kiểm soát ô
nhiễm môi trường làng nghề
- Khái niệm:
Trước hết có thể hiểu kiểm soát ô nhiễm môi trường là tổng hợp các
hoạt động của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân nhằm loại trừ, hạn chế những
tác động xấu đối với môi trường, phòng ngừa ô nhiễm môi trường, khắc phục,
xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường gây nên.
Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề là một bộ phận
cấu thành của pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Nó bao gồm hệ
thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động quản lý của các cơ quan
nhà nước và hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân tại làng
nghề nhằm hạn chế, loại trừ những tác động xấu, gây ô nhiễm môi trường tại
làng nghề.
- Nội dung, đặc điểm:
Nội dung chính của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
được thể hiện trong các văn bản pháp luật hiện hành do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành ở trung ương cũng như địa phương. Ở cấp trung ương
có nhiều văn bản, chính sách về BVMT làng nghề trên phạm vi cả nước mang
tính chất định hướng. Ở địa phương, các cấp chính quyền cũng ban hành
những văn bản liên quan nhằm cụ thể hóa chính sách, pháp luật của Nhà nước
pháp luật đưa ra những định hướng, tiêu chuẩn để giới hạn mức độ tác động
đến môi trường. Đồng thời pháp luật quy định các chế tài buộc các tổ chức, cá
nhân phải gánh chịu khi có hành vi vi phạm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm
môi trường làng nghề, vừa có tác dụng ngăn chặn, vừa có ý nghĩa giáo dục
người dân tôn trọng và thực hiện pháp luật khi tiến hành các hoạt động sản
xuất trong làng nghề.
1.2.2. Các quy định về trách nhiệm quản lí nhà nước đối với bảo vệ
môi trường tại làng nghề
23
Thứ nhất, các quy định về xây dựng chiến lược, chính sách về bảo vệ
môi trường làng nghề
Có thể nói Đảng và Nhà nước ta đã thực sự quan tâm, coi trọng việc
phát triển kinh tế, trong đó có phát triển kinh tế làng nghề gắn liền với việc
bảo vệ môi trường. Ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số
36/CT-TƯ về tăng cường công tác BVMT trong thời kì công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 được thông
qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định quan
điểm “Phát triển kinh tế-xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi
trường …” và đặt ra các mục tiêu chiến lược về môi trường là: “Cải thiện chất
lượng môi trường…Các cơ sở sản xuất kinh doanh mới thành lập phải áp
dụng công nghệ sạch hoặc trang thiết bị giảm ô nhiễm, xử lý chất thải; trên
80% các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện có đạt tiêu chuẩn về môi trường. Các
đô thị loại 4 trở lên và tất cả các cụm, khu công nghiệp, khu chế xuất có hệ
thống xử lý nước thải tập trung… Cải thiện và phục hồi môi trường các khu
vực bị ô nhiễm nặng…”
Tại Nghị quyết 24/NQ-TƯ của Bộ Chính trị năm 2013 về bảo vệ môi
trường, ứng phó biến đổi khí hậu cũng đã khẳng định quyết tâm coi vấn đề
BVMT là một nhiệm vụ được thực hiện song hành với phát triển kinh tế xã
pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường làng nghề
Từ những chủ trương, chính sách, quan điểm của Đảng, các cơ quan
Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường làng
nghề. Cụ thể Luật BVMT 2005, gần đây có Luật BVMT 2014. Bảo vệ môi
trường làng nghề là một trong những vấn đề bức xúc, khó khăn hiện nay. Việc
lạm dụng danh nghĩa làng có nghề, áp dụng công nghệ sản xuất thô sơ và lạc
hậu, quản lý nhà nước có những điểm thiếu rõ ràng và chồng chéo là những
nguyên nhân chính dẫn đến ô nhiễm làng nghề. Vì vậy, các quy định về
BVMT làng nghề đã được viết lại theo hướng quy định rõ các điều kiện về
bảo vệ môi trường mà làng nghề, các cơ sở sản xuất thuộc ngành nghề được
khuyến khích phát triển và các đối tượng khác trong làng nghề phải thực hiện.
25
Đồng thời, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 quy định rõ trách nhiệm của ủy
ban nhân dân cấp các cấp đối với bảo vệ môi trường làng nghề.
Thứ ba, các quy định về trách nhiệm của UBND các cấp đối với bảo vệ
môi trường làng nghề
Luật bảo vệ môi trường 2014 đã quy định rất rõ ràng về trách nhiệm
của UBND các cấp đối với việc bảo vệ môi trường làng nghề. Cụ thể điều 70
Luật bảo vệ môi trường quy định:
+ Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã có làng nghề:
a) Lập, triển khai thực hiện phương án bảo vệ môi trường cho làng nghề trên
địa bàn;
b) Hướng dẫn hoạt động của tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường làng nghề;
c) Hằng năm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác bảo vệ môi
trường làng nghề.
+ Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp huyện có làng nghề:
a) Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường làng
nghề trên địa bàn;