BÀI TIỂU LUẬN ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGÀNH DỆT MAY - Pdf 28

Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN NGÀNH DỆT MAY
Nhóm thực hiện: Nhóm 1
Danh sách nhóm:
Nguyễn Thị Hồng Vân
Lê Thị Trang
Hồ Quốc Việt
Phạm Văn Tuấn
Nguyễn Văn Tú
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 1
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Nhiều năm qua, dệt may là ngành “tiên phong” trong chiến lược xuất khẩu hàng hóa
Việt Nam ra thị trường thế giới, thu về cho đất nước một lượng ngoại tệ khá lớn. Ngành
dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu tương đối cao. Thành quả này là
nhờ Việt Nam có một nguồn lao động dồi dào, khéo tay; chi phí lao động thấp, các doanh
nghiệp Việt Nam đã xây dựng và giữ được chữ tín trong kinh doanh với nhiều nhà nhập
khẩu lớn trên thế giới.
Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn thì ngành dệt may Việt Nam vẫn còn rất nhiều yếu
tố bất lợi và ít lợi thế cho sự phát triển bền vững, đặc biệt là các ngành công nghiệp phụ
trợ chưa phát triển tương xứng. Điều đó góp phần lý giải tại sao các doanh nghiệp Việt
Nam vẫn phải chấp nhận gia công xuất khẩu là chính (chiếm tới 70-80% kim ngạch),
hình thức thương mại bán sản phẩm chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn.
Xu thế toàn cầu hoá thương mại cùng sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ
đang đặt ngành dệt may Việt Nam trước những áp lực và thách thức to lớn. Dù Việt Nam
trở thành thành viên Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong những năm tới ngành
dệt may vẫn chưa thể phát triển nhanh và cạnh tranh được với nhiều nước xuất khẩu. Dệt
may Việt Nam vẫn chưa thể cất cánh như một số chuyên gia phân tích thị trường đã nhận
định, nếu các doanh nghiệp chưa thực sự đổi mới mạnh mẽ hơn trong cung cách tổ chức
sản xuất kinh doanh của mình.

Việt Nam vẫn chưa thể cất cánh như một số chuyên gia phân tích thị trường đã nhận định,
nếu các doanh nghiệp chưa thực sự đổi mới mạnh mẽ hơn trong cung cách tổ chức sản
xuất kinh doanh của mình.
II. THỰC TRẠNG NGÀNH MAY VIỆT NAM
Ngành may Việt Nam có lịch sử phát triển lâu đời . Dệt may là ngành hàng mũi nhọn
của Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Từ nhiều năm qua, sản phẩm
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 4
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
dệt may Việt Nam không ngừng phát triển về số lượng , cơ cấu chủng loại và giá trị kim
ngạch, trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực và chiếm giữ vị trí quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân.
Những thành công của sản phẩm may mặc trên thị trường quốc tế đã đánh dấu bước
khởi đầu tốt đẹp trong sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế tại Việt Nam. Trong toàn
ngành dệt may, may mặc là ngành có nhiều tiềm năng phát triển , có lợi thế cạnh tranh
lướn trên trường quốc tế.
Sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam được ghi nhận với những kết quả đáng
khích lệ, đến thời điểm hiện nay dệt may là một trong những ngành công nghiệp sản xuất,
xuất khẩu quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, là một ngành thu hút lượng lao động lớn,
vừa tạo ra giá trị hàng hoá, phục vụ nhu cầu tiêu dung trong nước và xuất khẩu.
Năng lực phát triển của ngành dệt may phát triển cả chiều rộng và chiều sâu. Số lượng
doanh nghiệp tăng gấp 5-6 lần so với 10 năm trước. Trình độ công nghệ được cải tiến
đáng kể,nhiều công đoạn sản xuất đạt trình độ công nghệ tiên tiến của thế giới.
Trong nhiều năm qua ngành dệt may Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
tương đối cao – bình quân 20% / năm trong giai đoạn 2000 – 2005 . Hàng dệt may Việt
Nam hiện đã có mặt tại trên 100 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có các thị trường quan
trong của thế giới như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản ,,…
Tuy nhiên ngành dệt may Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều hạn chế và thách thức.
Thứ nhất : Năng lực sản xuất tuy đã được nâng cao nhưng mức sản xuất thực tế
vẫn thấp hơn năng lực sản xuất thiết kế. Tay nghề công nhân còn thấp , việc đào tạo
chuyên gia kỹ thuật và thiết kế mẫu còn chưa ttheo kịp với nhu cầu thị trường và đòi hỏi

- Giai đoạn 3 : Mở vào thị trường Hoa kỳ ( 2002 -2006) tối đa xuất khẩu gần 5 tỷ USD /
năm 2005, năm nay dự kiến khoảng 5,5 tỷ USD
- Giai đoạn 4 : sau năm 2006, hậu WTO , giai đoạn cạnh tranh quyết liệt
III. PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG ẢNH HƯỞNG TỚI NGÀNH DỆT MAY
1. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ
1.1 . Môi trường kinh tế
Chính sách tiền lương: Với mục tiêu thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, dệt may là một trong những ngành được chú trọng và ưu tiên phát triển trên cơ sở
tận dụng nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ trong nước để thực hiện các đơn hàng may xuất
khẩu của nước ngoài. Đến nay, số lao động trong ngành may là gần 2 triệu lao động. Tuy
ngành may cần và đã thu hút được nhiều lao động, nhưng tính ổn định của nguồn lao
động trong ngành lại không cao.Nguyên nhân chính là do mức thu nhập của công nhân
ngành may khá thấp so với các ngành khác. Do đó, người lao động không mấy mặn mà
với ngành may. Họ sẵn sàng chuyển đổi sang những công việc khác có thu nhập cao hơn.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 6
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
Mặc dù gần đây, nhiều doanh nghiệp may đã có những thay đổi trong chính sách lương
thưởng cho người lao động nhưng số lao động thôi việc vẫn không ngừng tăng lên so
với số lao động tuyển mới.
Thu nhập: Trong 2 quý cuối năm 2009, GDP của riêng Hà Nội lần lượt tăng 8,3% và
9%. Mức tăng ngoạn mục trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế góp phần đưa tổng sản
phẩm nội địa của Hà Nội ước tăng 6,7% so với năm 2008 và cao hơn mức 6% dự kiến.
Tương ứng, thu nhập bình quân của người dân thủ đô đạt 32 triệu đồng (kế hoạch 30 triệu
đồng).
Trong năm 2010, Hà Nội kỳ vọng mức tăng GDP đạt 9-10% hoặc cao hơn, đưa thu
nhập bình quân đầu người vượt 36 triệu đồng. Gần đây, xu thế sử dụng thu nhập cho nhu
cầu mặc cũng tăng hơn từ 10-12%.
Lạm phát : Theo công bố của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4
tăng 0,14%, là mức tăng thấp nhất trong vòng 12 tháng qua. Từ mức tăng cao, tới 1,96%
của tháng 2/2010 xuống 0,75% trong tháng 3, đến tháng 4, CPI tháng 4/2010 chỉ tăng

hưởng rất lớn đối với DN.Đối với các DN dệt-may, trung bình mỗi năm chỉ quay được từ
2,5 đến 3 vòng vốn và được coi là tương đối có hiệu quả, thì mỗi sản phẩm phải “gánh”
từ 4,5% đến 5,6% lãi vay ngân hàng, đây là khoản chi phí cao nhất, sau chi phí tiền lương
công nhân. Trong khi đó lãi gộp (chưa trừ lương, các chi phí quản lư sản xuất khác và lãi
của DN) chỉ dao động ở mức từ 25% đến 30%, rất khó để các DN có lãi.
1.2. Môi trường công nghệ:
Năng lực sản xuất kém, công nghệ lạc hậu là một trong những hạn chế lớn của ngành
may mặc Việt Nam hiện nay. Hoạt động của ngành may hiện nay phần lớn là thực hiện
giia công cho nước ngoài hoặc chỉ sản xuất những sản phẩm đơn giản, còn những sản
phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao mang lại giá trị gia tăng lớn lại chưa đáp ứng được . Vì thế nếu
được đầu tư đúng mức về công nghệ thì ngành may mặc Việt Nam có thể phát huy hết
được tiềm năng về lao động và chất lượng .
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 8
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
1.3. Môi trường văn hoá xã hội
Kinh tế càng phát triển, đời sống và thu nhập càng cao thì con người càng chú trọng
đến các sản phẩm phục vụ tiêu dùng, trong đó có quần áo. Thêm vào đó, xu hướng vè thị
hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng đối với các sản phẩm may mặc cũng có sự biến đổi
liên tục. Nếu các doanh nghiệp may không chú trọng đầu tư đúng mực cho công tác thiết
kế sẽ nhanh chóng bị tụt hậu trong cuộc cạnh tranh khốc kiệt này. Hàng may mặc Trung
Quốc với giá thành rẻ và kiễu mẫu mã đa dạng, thường xuyên thay đổi và khá phù hợp
với thị hiểu của người Việt Nam đang chiếm lĩnh thị trường may mặc nội địa. Tuy nhiên,
người Việt Nam vẫn có tâm lý “ăn chắc mặc bền”, nên những sản phẩm chất lượng tốt
của các doanh nghiệp trong nước vẫn được nhiều người Việt Nam tìm dùng. Đây là một
thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước khi muốn chiếm lại thị trường nội địa hiện
đang bị hàng Trung Quốc tấn công và thống trị.
Bên cạnh đó, yếu tố môi trường cũng được các nước, đặc biệt là EU, chú ý yêu cầu và
kiểm soát nghiêm ngặt khi nhập khẩu hàng may mặc. Những yêu cầu về môi trường đối
với sản phẩm may mặc thường được EU sử dụng là các nhãn sinh thái, phương pháp sản
xuất sản phẩm bảo vệ môi trường, các điều kiện về lao động… Nếu không đáp ứng được

thị trường này. Mặc dù Mỹ đã kết luận là Việt Nam không thực hiện bán phá giá vào Mỹ,
nhưng hàng may mặc của Việt Nam vẫn bị giám sát khi xuất khẩu vào Mỹ trong năm
2008. Đây sẽ là một trong những khó khăn cho việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng may mặc
của Việt Nam trong thời gian tới.
Việt Nam được đánh giá cao nhờ ổn định chính trị và an toàn về xã hội, có sức hấp
dẫn đối với các thương nhân và các nhà đầu tư nước ngoài. Bản thân việc Việt Nam tích
cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới cũng mở rộng tiếp cận thị trường cho
hàng xuất khẩu nói chung và hàng dệt may xuất khẩu nói riêng. Đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào Việt Nam vẫn thể hiện được xu hướng tăng trong giai đoạn 2000-2007, mặc dù
có giảm mạnh trong năm 2008.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 10
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu
vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may.
Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia ký kết và thực thi
nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định
đối tác thương mại Việt - Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ của
ASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN-Úc-Niu Dilân, v.v).Những cam kết của Việt Nam
đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và
mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác mớI
1.6. Môi trường toàn cầu
Toàn cầu hoá các thị trường kinh doanh tạo ra cơ hội lẫn đe doạ.Nhiều thị trương toàn
cầu như Nam Mỹ, Hàn Quốc , Đài Loan đang trở nên không biên giới đang hội nhập.
Trung Quốc hiện ra với nhiều cơ hội và không ít đe doạ với các công ty quốc tế.Điều tạo
ra nhiều cơ hội đó chính là tham gia vào tổ chức thương mại thế giới, Trên tất cả các lĩnh
vực nói chung và ngành dệt may nói riêng. Để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới thì đang
là thách thức cho ngành dệt may Việt Nam. Nguồn nguyên liệu khan hiếm, cùng với
khủng hoảng kinh tế cùng với các rào cản kinh tế đã làm cho ngành may gặp không ít
khó khăn
2. MÔI TRƯỜNG NGÀNH

Hiện nay, 80% nguyên phụ liệu cung cấp cho ngành may xuất khẩu là từ nước ngoài.
Điều này cho thấy phần nào năng lực cạnh tranh kém cỏi của ngành dệt Việt Nam. Nếu
tình hình này không sớm cải thiện, các doanh nghiệp dệt có khả năng mất luôn chổ đứng
ở thị trường nội địa trong tương lai gần.
2.3 . Khách hàng
Thực tế thu nhập của người dân Việt Nam không cao nên việc may mặc cũng có nhiều
hạn chế. Chỉ có một phần nhỏ người tiêu dùng có thu nhập cao tiêu dùng sản phẩm cao
câp còn lại là những người có thu nhập thấp và trung bình. Nhìn chung ngành dệt may
của Việt Nam ít mẫu mã đẹp, giá cao, trong khi đó hàng dệt may của nhiều nước lại có
mẫu mã đẹp, giá rẻ, đa dạng chủng loại để người tiêu dùng sử dụng. Tiêu biểu là hàng dệt
may của Trung Quốc
Với tâm lý của người Việt Nam là thích rẻ và đẹp nên việc lựa chọn hàng của các
nước như Trung Quốc càng có xu hướng tăng.
2.4 . Nhà cung ứng
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 12
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
Nguồn nguyên phụ liệu sản xuất trong nước phục vụ ngành dệt may còn rất khiêm
tốn.Mặc dù xuất khẩu giữ vững vị trí so với cùng kỳ nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là việc
cung ứng nguyên phụ liệu cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để nâng cao giá trị
gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu. Vì trên thực tế tỷ lệ nhập khẩu các mặt hàng nguyên
phụ liệu vẫn chiếm con số cao với 7,36 tỷ USD; trong đó bông chiếm 417 triệu USD, sợi
723 triệu USD, vải 4,1 tỷ USD, phụ liệu tính chung cho cả dệt may & da giày: 2,19 tỷ
USD, chất dẻo làm nguyên liệu xơ, sợi tổng hợp: 2,2 tỷ USD. Và tập trung ở các thị
trường Trung Quốc với 2,09 tỷ USD, Đài Loan 1,47 tỷ USD, Hàn Quốc 1,44 tỷ USD,
Nhật Bản 466 triệu USD. Con số này cho thấy, mỗi năm, ngành dệt may của nước ta đang
phải nhập tới 70% nguyên phụ liệu của nước ngoài, trong khi đó nguồn nguyên liệu trong
nước mới chỉ đáp ứng được 30% và tập trung vào một số sản phẩm như bông đã đáp ứng
được 10%; xơ, sợi tổng hợp đáp ứng khoảng 60%; sợi 70%; vải 50%; phụ liệu 70%…
Nhìn chung giá cả nhập khẩu hàng từ các nước tương đối cao vì phải chịu một khoản
thuế nhập khẩu từ nước ngoài về

Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp dệt may là vừa và nhỏ, khả năng huy động vốn
đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị. Chính quy mô nhỏ đã
khiến các doanh nghiệp chưa đạt được hiệu quả kinh tế nhờ quy mô, và chỉ có thể cung
ứng cho một thị trường nhất định. Do đó, khi thị trường gặp vấn đề, các doanh nghiệp dệt
may sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh phương thức thâm nhập thị trường và/hoặc
chuyển đổi sang thị trường khác. Những khó khăn, ít nhất là ban đầu, trong việc chuyển
đổi định hướng sang thị trường nội địa trong thời điểm các thị trường xuất khẩu chính
như Hoa Kỳ, EU đều gặp suy thoái kinh tế chính là những dẫn chứng tiêu biểu.
Mặt khác, kỹ năng quản lý sản xuất và kỹ thuật còn kém, đào tạo chưa bài bản, năng
suất thấp, mặt hàng còn phổ thông, chưa đa dạng.Năng lực tiếp thị còn hạn chế, phần lớn
các doanh nghiệp dệt may chưa xây dựng được thương hiệu của mình, chưa xây dựng
được chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp.
3. CƠ HỘI
Ngành dệt may có thể tận dụng một số cơ hội để phát triển xuất khẩu trong thời kỳ
hiện nay. Sản xuất hàng dệt may đang có xu hướng chuyển dịch sang các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam, qua đó tạo thêm cơ hội và nguồn lực mới cho các doanh
nghiệp dệt may về cả tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản lý tiên
tiến, lao động có kỹ năng từ các nước phát triển.
Bên cạnh đó, việc Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu
vực và kinh tế thế giới cũng tạo điều kiện tiếp cận thị trường tốt hơn cho hàng dệt may.
Việt Nam hiện đã là thành viên của WTO, đồng thời cũng đã tham gia ký kết và thực thi
nhiều hiệp định thương mại tự do quan trọng ở cả cấp độ song phương (như Hiệp định
đối tác thương mại Việt – Nhật) và đa phương (như các hiệp định trong khung khổ của
ASEAN như ACFTA, AKFTA, ASEAN-Úc-Niu Dilân, v.v).
Những cam kết của Việt Nam đối với cải cách và phát triển kinh tế đã tạo được sức
hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, và mở ra những thị trường mới và các quan hệ hợp tác
mới. Hơn nữa, bản thân thị trường nội địa có dân số 84 triệu dân với mức sống ngày càng
được nâng cao thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư và các doanh nhân.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 15
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương

nội địa.
- Thúc đẩy các ngành sản xuất phụ trợ cho ngành dệt may phát triển, tiến đến giảm dần
việc nhập khẩu nguyên phụ liệu tránh bị phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu
- Để thành công trong việc chiếm lĩnh và mở rộng thị trường nội địa, ngành dệt may cần
có những biện pháp sau:
- Về phía ngành dệt may: Tích cực đầu tư vào các vùng trồng bông, đầu tư thêm các nhà
máy kéo sợi chất lượng cao để nâng dần tỉ lệ nội địa hóa, hạ giá thành sản phẩm. Cần
điều chỉnh cơ cấu sản xuất sản phẩm thích hợp với nhu cầu trong nước.
- Doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho khâu thiết kế mẫu mã.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 17
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
PHẦN II: NGÀNH DỆT MAY THẾ GIỚI
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY THẾ GIỚI
Thương mại dệt may chiếm 5,7% kim ngạch xuất khẩu toàn cầu. Trong 4 thập kỷ qua,
thương mại dệt may thế giới đã tăng trên 60 lần (nhanh hơn cả tốc độ tăng trưởng của
thương mại hàng hóa, với mức tăng 48 lần), từ chưa tới 6 tỷ USD vào những năm 1960
lên 342 tỷ USD vào đầu thế kỷ 21.
Lĩnh vực may mặc, đang ngày càng thu hút nhiều lao động, có tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn lĩnh vực dệt và hiện chiếm 57% thương mại thế giới.
Cuối những năm 80, nhiều nước đang phát triển đã vượt các nước công nghiệp về thị
phần xuất khẩu hàng dệt may và hiện chiếm 50% thế giới về thị phần hàng dệt và 75%
thế giới về thị phần hàng may.
Đây là lĩnh vực đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển và nhiều nước
coi ngành này là ngành công nghiệp quan trọng nhất, về xuất khẩu cũng như về việc làm
và tăng thêm giá trị.
Nhiều nước nhỏ kém phát triển và đang phát triển có khi phụ thuộc hoàn toàn vào
ngành dệt may vì ngành chiếm tới 90% tổng kim ngạch xuất khẩu và 50% việc làm của
toàn đất nước.
Những quốc gia này thường tập trung vào một số thị trường tại các nước công nghiệp,
điển hình là Mỹ và EU. Trước ngày 1/1/2005 nhiều chuyên gia dự báo rằng sau khi hạn

sản lượng của các chủng loại hàng dệt may nhập từ Trung Quốc tính đến tháng 6 có nguy
cơ làm đảo lộn thị trường dệt may nước này, buộc họ phải có biện pháp tự vệ bằng cách
áp dụng hạn ngạch dệt may trở lại. Theo Phòng Thương mại - xuất nhập khẩu dệt may
Trung Quốc, việc áp dụng hạn ngạch nhập khẩu mà Mỹ áp đặt đối với bảy mặt hàng dệt
may của Trung Quốc làm cho ngành dệt may của nước này bị thất thu tới 2 tỷ USD, kéo
theo khoảng 400 nghìn công nhân bị mất việc.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 19
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
Với EU, Trung Quốc cũng là nhà cung ứng hàng dệt may lớn cho các tập đoàn bán
buôn và bán lẻ hàng đầu châu Âu. Giống như Mỹ, EU có thời điểm cũng cho rằng cần áp
đặt các biện pháp hạn chế đối với hàng dệt may giá rẻ của Trung Quốc để đề phòng thị
trường nội khối bị lũng đoạn, bởi loại hàng này của đối tác khổng lồ từ châu Á. Từ thực
tế những mâu thuẫn về dệt may có thể dẫn tới việc không đủ hàng để phục vụ thị trường
EU đã phải đẩy nhanh chiến lược dài hạn nhằm củng cố ngành dệt may của mình để có
đủ sức chống chọi với các đối thủ ở châu Á. EU và Trung Quốc đã đạt được thỏa thuận
giải tỏa lượng hàng lớn bị kẹt ở các cảng châu Âu và đã thống nhất áp dụng chế độ hạn
ngạch từ tháng 6-2005 đến cuối năm 2007. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách
châu Âu cho rằng, đây chỉ là giải pháp tình thế, bởi vì phải có một chiến lược dài hạn để
các nhà dệt may hai bên bờ Ðịa Trung Hải có thể đủ sức tồn tại và cạnh tranh lâu dài với
hàng nhập khẩu giá rẻ từ châu Á.
II. CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU TRỌNG ĐIỂM
1. THỊ TRƯỜNG HÀNG MAY MẶC EU
1.1 Tổng quan về thị trường EU
Liên minh châu Âu (EU) là tên gọi hiện nay của Cộng đồng chung châu Âu cũ. Kể từ
ngày 1 tháng 1 năm 1995, EU có 15 quốc gia thành viên. Tháng 5 năm 2004, EU kết nạp
thêm 10 thành viên mới và hiện một số nước ứng cử viên đang trong quá trình đàm phán
gia nhập EU. Hiện nay EU đang bao gồm 25 thành viên.
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1999, đồng euro (€) đã trở thành tiền tệ hợp pháp trong 11
quốc gia thành viên EU gồm Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Ai-len, Luxembourg, Hà
Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Hy Lạp trở thành thành viên thứ 12 từ tháng 6 năm

này khi những trở ngại đối với thương mại tự do được dỡ bỏ.
Nhìn chung trên cơ sở tăng năng suất, chi phí lao động, chất lượng sản phẩm và
thương mại quốc tế, lĩnh vực may mặc của EU vẫn giữ được thế cạnh tranh trên bình diện
quốc tế và đã cải thiện được vị thế so với Hoa Kỳ.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 21
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
Tuy nhiên, sức ép về tái cơ cấu và hiện đại hóa ngành may mặc tại các nước thành
viên mới và các nước ứng cử viên đang ngày càng tăng do sự tiếp cận của các nước thứ 3
vào thị trường EU.
2. THỊ TRƯỜNG MAY MẶC HOA KỲ
Thị trường Hoa Kỳ là một thị trường sản xuất và tiêu thụ hàng dệt may lớn nhất thế
giới hiện nay. Ngành dệt may của Hoa Kỳ đứng thứ 10 trong các ngành công nghiệp và
đứng thứ 2 trong các ngành sản xuất hàng hóa có thời hạn sử dụng không dài. Công
nghiệp dệt của Hoa Kỳ luôn gắn với thị trường sản phẩm dệt và quần áo may sẳn của thế
giới. Mặt khác, Hoa Kỳ cũng là nhà nhập khẩu lớn nhất về hàng dệt và quần áo. Hàng
may mặc của Hoa Kỳ chủ yếu là các sản phẩm cao cấp, giá cao cho các nước phát triển
hoặc một phần là nguyên phụ liệu, bán sản phẩm xuất đi các nước khác để gia công lắp
ráp thành phẩm đẻ tái xuất lại vào Hoa Kỳ hoặc xuất khẩu đi các nước thứ ba. Hiện Hoa
Kỳ có khoảng 15.000 công ty sản xuất hàng may mặc, với tổng doanh thu hàng năm 30 tỷ
USD. Ngoài tập đoàn VF, Levi Strauss và Warnaco, đa số các công ty lớn trong ngành đạt
doanh thu hàng năm dưới 1 tỷ USD. Chỉ một số nhà máy trong ngành có 500 lao động và
doanh thu hàng năm đạt 50 triệu USD, còn lại phần lớn là các nhà máy dưới 50 lao động
và doanh thu hàng năm dưới 5 triệu USD.
Mức cầu được quyết định chủ yếu bởi thị hiếu người tiêu dùng và chi phí sản xuất
cạnh tranh ở Hoa Kỳ và nước ngoài.
Lợi nhuận của các công ty riêng lẻ dựa vào hiệu quả hoạt động và khối lượng sản
xuất. Các công ty nhỏ có thể cạnh tranh hiệu quả với các công ty lớn bằng cách chuyên
sản xuất một dạng sản phẩm may mặc riêng biệt. Thu nhập bình quân hàng năm của
một nhân công đạt khoảng 125.000 USD.
Do các kỹ năng và thiết bị cần để sản xuất các loại quần áo khác nhau, các nhà sản

Họ sẵn sàng trả giá cao hơn một chút cho những sản phẩm có chất lượng tốt. Yêu cầu này
còn bao gồm dịch vụ hậu mãi như sự phân phối kịp thời của nhà sản xuất khi một sản
phẩm bị trục trặc, khả năng và thời gian sửa chữa các sản phẩm đó. Những vết xước nhỏ,
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 23
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
mẫu chỉ cắt còn sót lại trên mặt sản phẩm, bao bì xô lệch v.v những lỗi nhỏ do sơ ý
trong khi vận chuyển, hay khâu hoàn thiện sản phẩm cũng có thể dẫn đến tác hại lớn là
làm lô hàng khó bán, ảnh hưởng đến kế hoạch xuất khẩu lâu dài.
3.2 Tổng quan ngành may mặc Nhật Bản
Trong những năm gần đây, sản xuất hàng may mặc của Nhật Bản giảm liên tục và với
cường độ ngày càng nhanh. Nếu sản xuất năm 2000 là 100% thì đến năm 2005 sản xuất
chỉ còn 73.7% tức là đã giảm 26,3%. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do sản xuất tại
Nhật đã trở nên kém cạnh tranh so với các nước khác. Dệt may là ngành cần nhiều lao
động mà xét về chi chí cho nhân công thì Nhật không thể cạnh tranh với Trung Quốc, các
nước ASEAN. Còn xét về khía cạnh thời trang và các giá trị gia tăng khác thì các nước
Châu Âu như Ý, Pháp; Hoa Kỳ có lợi thế vững chắc mà các nhà sản xuất Nhật khó có thể
vượt được họ.
Xét cụ thể thì ngành may mặc có thể phân chia thành các nhóm hàng như: vải và quần
áo nhân tạo, dệt thoi, dệt kim, nhuộm, quần áo và các hàng hóa thay thế khác.
Nhóm thực hiện: Nhóm 1 24
Bài tiểu luận GVHD: Đinh Thị Lan Hương
KẾT LUẬN
Thị trường nước ngoài của ngành Dệt May trong mấy năm gần đây đã không ngừng
được mở rộng, kim ngạch xuất khẩu đã tăng rất nhanh trong thời gian qua. Tuy nhiên, do
hoạt động chủ yếu dưới hình thức gia công xuất khấu nên phần giá trị gia tăng đem lại
cho đất nước là không nhiều. Hơn nữa các doanh nghiệp trong nước đã không phát huy
được thị trường nội địa nên đã để mất nhiều thị phần cho hàng hoá ngoại nhập và nhập
lậu. Do đó, có thể nói rằng đối với ngành Dệt May Việt Nam, “thị trường nước ngoài:làm
thuê; thị trường nội địa: bỏ ngõ”. Để tăng hiệu quả trong việc sản xuất và tiêu thị sản
phẩm Dệt May, các nhà sản xuất cần có xu hướng chuyển sang hình thức “mua nguyên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status