Vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ TUẤN ANH
VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT
YÊU CẦU PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Hà Nội - 2013

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT LÊ TUẤN ANH

1.1.1.
Phá sản doanh nghiệp - Thủ tục tố tụng toà án đặc biệt
6
1.1.2.
Các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng
10
1.1.3
Các giai đoạn của giải quyết phá sản
15
1.2.
Khái quát về vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá
sản doanh nghiệp
18
1.2.1.
Vai trò trung tâm của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản
doanh nghiệp
18
1.2.2.
Những yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định vai trò của Tòa án
trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp
24
1.2.3.
Vai trò của Tòa án trong giải quyết phá sản theo quy định pháp
luật một số nước trên thế giới
29

Chƣơng 2. VAI TRÒ CỤ THỂ CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI
QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT PHÁ
SẢN Ở VIỆT NAM
35


Chƣơng 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÒ
CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP
67
3.1.
Giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về phá sản
doanh nghiệp
67
3.2.
Nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ ngành Tòa án
72
3.3.
Tăng cường tuyên truyền nâng cao hiểu biết cũng như ý thức
pháp luật cho đội ngũ doanh nhân
75

KẾT LUẬN
79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
80 1
MỞ ĐẦU

1. Ý nghĩa của đề tài
Phá sản là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nó là
hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại khách quan. Về thực chất doanh nghiệp

nghiệp nói riêng.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn nghiên cứu Đề tài: "Vai trò của Tòa
án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp" làm luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ của mình, với mục đích góp phần hoàn thiện lý luận pháp luật về vấn
đề này đồng thời góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn đang đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Từ khi được ban hành đến nay, Luật phá sản đã được tìm hiểu, nghiên
cứu dưới rất nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu
trước đây thường mới chỉ đề cập, bàn luận đến một số khía cạnh nhất định
liên quan đến pháp luật phá sản như: các vấn đề pháp lý cơ bản về phá sản
hoặc nghiên cứu các thủ tục cụ thể về quản lý tài sản của doanh nghiệp lâm
vào tình trạng phá sản, về phục hồi doanh nghiệp, xử lý nợ của doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản v.v
Trong số các công trình nghiên cứu về pháp luật phá sản ở nước ta sau
khi Luật Phá sản năm 2004 ban hành, có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu như sau:
- Công trình nghiên cứu “Pháp luật phá sản của Việt Nam” của PGS.TS
Dương Đăng Huệ, Nhà xuất bản tư pháp, năm 2005;
- Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện các quy định liên quan đến quản lý và
thanh lý tài sản phá sản” của Nguyễn Thị Hồng Vân, được bảo vệ thành công
tại khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008;
- Luận văn thạc sĩ Luật học của Trần Thị Thu Trang với đề tài “Hoàn
thiện pháp luật về thủ tục phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn

3
hiện nay”, được bảo vệ thành công tại khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội
năm 2009;
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng pháp luật về phá
sản và hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ Tư
pháp bảo vệ năm 2009

doanh nghiệp ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luật phá sản có nội dung đa dạng, phức tạp, đề cập đến rất nhiều vấn
đề, nhiều quan hệ tố tụng khác nhau. Đề tài: Vai trò của Tòa án trong giải
quyết yêu cầu phá sản - Là đề tài hẹp, do đó phạm vi nghiên cứu của luận
văn chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến vị trí, vai
trò của Tòa án trong giải quyết phá sản, còn về phương diện luật thực định
chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định về vai trò của tòa án và vấn đề
thực thi các quy định đó trên thực tế mà không nghiên cứu các mối quan hệ
tố tụng khác.
5. Phƣơng pháp tiếp cận vấn đề
Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin về kinh tế, quản lý nói
chung và về pháp luật nói riêng để giải quyết những vấn đề lý luận trên cơ sở
điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Bên cạnh đó, Luận văn cũng sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: Phương pháp phân tích, tổng hợp mang lại cho luận văn một cái nhìn
tổng quát về vấn đề nghiên cứu và làm cho luận văn có chiều sâu, có sự kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn.
Ngoài ra, phương pháp lịch sử, so sánh được sử dụng song hành trong
quá trình nghiên cứu và chỉ khi đặt quy định của pháp luật hiện hành về vai trò
của Tòa án trong giải quyết phá sản doanh nghiệp trong mối liên hệ với quy
định pháp luật của một số nước, pháp luật Việt Nam thời kỳ trước đó và với cả

5
thực tiễn về vấn đề vai trò của Tòa án trong giải quyết phá sản doanh nghiệp ta
mới thấy được những tiến bộ cũng như hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện
hành khi quy định về vấn đề này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận

có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chủ nợ buộc phải yêu cầu Tòa án mở
thủ tục phá sản đối với con nợ với mục đích thu hồi nợ. Khi có yêu cầu mở
thủ tục phá sản, Tòa án phải xem xét yêu cầu đó có chính đáng hay không.
Nếu xác định con nợ đã mất khả năng thanh toán thì tùy từng trường hợp cụ
thể Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định áp dụng thủ tục
phù hợp là thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh toán hay thủ tục tuyên bố con
nợ bị phá sản. Tại hội nghị chủ nợ các bên có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh của con nợ thì đó cũng là một
hình thức hòa giải để giải quyết xung đột pháp lý giữa các bên. Như vậy, xét
về mặt đối tượng của hoạt động thì thủ tục giải quyết phá sản cũng là một thủ
tục tư pháp vì đối tượng của nó là các quan hệ pháp lý phát sinh giữa bên có
quyền và bên có nghĩa vụ, giữa một bên là chủ nợ và bên kia là con nợ. Tóm
lại, xét về bản chất thì thủ tục phá giải quyết phá sản là một thủ tục tư pháp

7
đặc biệt, do Tòa án tiến hành nhằm giúp chủ nợ và con nợ giải quyết các tranh
chấp có tính chất tài sản giữa họ với nhau [13, tr.96-97].
● Cấu trúc của thủ tục giải quyết phá sản
Một trong những dấu hiệu đặc biệt chính là cấu trúc đặc thù của thủ tục
giải quyết phá sản. Nếu như tố tụng hình sự, tố tụng dân sự là một quá trình
hoạt động của Tòa án và những người tham gia tố tụng, hình thành từ những
giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn trước là nên tảng cho giai đoạn sau, giai
đoạn sau kiểm tra tính hợp pháp, khắc phục những thiếu sót của giai đoạn
trước thì thủ tục phá sản là một quá trình hoạt động có cấu trúc hoàn toàn
khác. Trong thủ tục giải quyết phá sản, nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có
tính độc lập với nhau rất lớn. Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải
lúc nào cũng là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ của thủ tục kia. Ví dụ như
nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ
tục phục hồi không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại

nào thì thủ tục phá sản chỉ được áp dụng khi doanh nghiệp mắc nợ đã lâm vào
tình trạng phá sản. Thủ tục phá sản chỉ xuất hiện như một giải pháp cuối cùng
mà các chủ nợ phải sử dụng để đòi nợ khi mà các phương thức đòi nợ thông
thường khác đã không có hiệu quả.
Thứ ba, hậu quả của thủ tục giải quyết phá sản thường là sự chấm dứt
hoạt động của một thương nhân
Trong thủ tục phá sản, Tòa án thường phải đưa ra những quyết định
pháp lý đặc biệt như quyết định áp dụng thủ tục thanh lý để từ đó bán toàn bộ
tài sản của doanh nghiệp thanh toán cho các chủ nợ. Như vậy, hậu quả của thủ
tục giải quyết phá sản thường là sự chấm dứt hoạt động của một doanh
nghiệp. Đặc điểm này khác với tố tụng dân sự hoặc kinh tế bởi vì trong tố
tụng dân sự hoặc kinh tế, sau khi bản án của Tòa án có hiện lực pháp luật thì
con nợ có nghĩa vụ phải chấp hành, nhưng sau khi trả nợ xong thì con nợ vẫn
tồn tại và hoạt động một cách bình thường.

9
Thứ tư, thủ tục giải quyết phá sản không chỉ là thủ tục đòi nợ mà còn là
một thủ tục có khả năng giúp con nợ phục hồi hoạt động của doanh nghiệp
Trong thủ tục phá sản, con nợ được Toà án tạo điều kiện tối đa cho việc
phục hồi hoạt động kinh doanh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi việc
một doanh nghiệp bị phá sản sẽ không chỉ gây ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích của riêng bản thân chủ doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế -
xã hội, khiến người lao động bị mất việc làm Đối với chủ nợ, trong trường
hợp con nợ gặp khó khăn, việc thanh lý ngay con nợ để nhận nợ không phải
bao giờ cũng là giải pháp tối ưu cho họ vì không phải doanh nghiệp nào lâm
vào tình trạng phá sản cũng còn đủ tài sản để thanh toán hết các món nợ của
mình. Vì vậy, pháp luật cho phép con nợ được chủ động xây dựng phương án
hòa giải và giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Thứ năm, thủ tục giải quyết phá sản - một thủ tục pháp lý có tính chất
tổng hợp

khác nhau, trong đó, có 4 chủ thể quan trọng là: Toà án, con nợ, chủ nợ, người
quản lý tài sản [11].
● Địa vị pháp lý của Toà án
Pháp luật ở các nước trên thế giới đều quy định Toà án là cơ quan duy
nhất có thẩm quyền giải quyết vụ phá sản. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế - xã
hội, truyền thống lập pháp cũng như nguyên tắc xây dựng bộ máy nhà nước
của mỗi nước là có sự khác nhau nên việc phá sản có thể được phân công giải
quyết tại các Toà án khác nhau. Ở hầu hết các nước Châu Âu lục địa, Toà án
đó có tên là Toà Thương mại với nhiệm vụ giải quyết nhiều công việc liên quan
đến thương nhân như tranh chấp thương mại và giải quyết phá sản, trong khi
đó, ở một số nước như Mỹ, Thuỵ Điển, Nam Tư lại hình thành Toà án phá
sản riêng để chuyên trách một công việc duy nhất là giải quyết các vụ phá sản.

11
Khi có đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với con nợ, Toà án chỉ định
Thẩm phán thay mặt Nhà nước giải quyết các vấn đề liên quan đến vụ phá
sản. Trong quá trình giải quyết vụ phá sản, Thẩm phán giữ vai trò trung tâm,
là chủ thể có vai trò quyết định trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý cơ
bản. Các quyết định của Thẩm phán về các vấn đề này đều có tính chất bắt
buộc đối với các chủ thể có liên quan.
Tuy nhiên, theo pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới như
Đức, Pháp, Nhật Bản, Anh, CHLB Nga… vai trò của Thẩm phán lại rất hạn
chế. Thẩm phán không có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp, lại càng không có trách nhiệm chủ trì việc tổ chức lại hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau khi đã ra quyết định mở thủ
tục phá sản đối với nó. Một chủ thể pháp lý đặc biệt được gọi là quản tài viên
(người quản lý tài sản), được Toà án bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của chủ
doanh nghiệp hoặc chủ nợ có trách nhiệm thay chủ doanh nghiệp tiến hành
việc tổ chức lại doanh nghiệp. Trong trường hợp này, Toà án chỉ đóng vai trò
là chủ thể thực hiện việc giám sát quá trình giải quyết phá sản nhằm bảo đảm

số hạn chế nhất định về quyền đối với tài sản cũng như về quyền trong hoạt
động điều hành doanh nghiệp. Nhiều nước như Đức, Nhật, Latvia… đã quy
định rằng, sau khi mở thủ tục phá sản thì con nợ bị tước quyền định đoạt tài
sản trong một số trường hợp và nếu bị cấm mà con nợ vẫn định đoạt thì
những hành vi định đoạt tài sản này bị pháp luật coi là vô hiệu
● Địa vị pháp lý của chủ nợ
Như phần trên đó nói, mục đích đầu tiên, cơ bản và quan trọng nhất của
thủ tục phá sản là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Nếu
các chủ nợ có thể đòi được các món nợ của mình bằng con đường tố tụng
thông thường thì không cần phải có thủ tục phá sản, không có việc giải quyết
phá sản. Nói cách khác, thủ tục phá sản là con đường cuối cùng mà các chủ
nợ bắt buộc phải đi nếu như muốn đòi được các món nợ của mình. Chính vì

13
lợi ích của chủ nợ được đề cao như vậy nên pháp luật phá sản nước nào cũng
dành cho chủ nợ một địa vị pháp lý rất đặc biệt. Như phần trên đã phân tích,
thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể. Điều đó có nghĩa là, trong thủ
tục phá sản, mặc dù có nhiều chủ nợ tham gia nhưng từng người trong số họ
không được xé lẻ để đòi nợ riêng cho mình mà tất cả họ phải được tập hợp lại
thành một chủ thể pháp lý duy nhất để tham gia thủ tục phá sản. Chủ thể đó
được pháp luật các nước gọi là Hội nghị chủ nợ. Luật các nước đều có quy
định Hội nghị chủ nợ là cơ quan đại diện cao nhất cho ý chí của các chủ nợ,
có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến lợi ích của
chủ nợ. Vì vậy, Hội nghị chủ nợ mới là chủ thể có quyền thông qua hay
không thông qua kế hoạch phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp do con nợ hoặc chủ thể khác được pháp luật quy định soạn thảo. Nếu
Hội nghị chủ nợ không thông qua kế hoạch này thì coi như con nợ đã hết khả
năng được phục hồi, cho dù họ có quyết tâm đến mấy.
Về cơ bản, địa vị pháp lý của các chủ nợ trong pháp luật phá sản các
nước không có sự khác biệt lớn. Các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu

sau khi mở thủ tục phá sản mà con có các quyền như triệu tập và chủ trì Hội
nghị chủ nợ, quyết quyết định huỷ bỏ hay công nhận các giao dịch pháp lý mà
con nợ đã thực hiện…
Ở các nước đang phát triển thì vai trò của thiết chế quản lý tài sản
của con nợ được quy định khiêm tốn hơn. Về cơ bản, ở các nước này, việc
quản lý tài sản của con nợ được giao cho một nhóm người được gọi là Tổ
quản lý tài sản do Toà án ra quyết định thành lập. Tổ quản lý tài sản này
hoạt động dưới sự kiểm tra, giám sát của Thẩm phán, chịu trách nhiệm
trước Thẩm phán về việc thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ của mình. Tổ
quản lý tài sản có quyền giám sát, kiểm tra việc quản lý tài sản cả về mặt
hiện vật cũng như trên sổ sách của doanh nghiệp và về cơ bản có chức năng
như một công cụ của Toà án, giúp Toà án trong việc giải quyết các vấn đề

15
phát sinh liên quan đến việc xác định tài sản, bán đấu giá tài sản và phân
chia tài sản của con nợ…
1.1.3. Các giai đoạn của giải quyết phá sản
Việc phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam được quy định trong Luật phá
sản năm 2004 và các văn bản hướng dẫn liên quan. Doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu. Theo đó, thủ tục phá sản được áp dụng đối
với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản gồm các bước: (i) Nộp đơn yêu
cầu và mở thủ tục phá sản; (ii) Phục hồi hoạt động kinh doanh; (iii) Thanh lý
tài sản, các khoản nợ; (iv) Tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản. Thủ tục này có
thể khái quát như sau:
● Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Chủ nợ có bảo đảm một phần hay không được bảo đảm, người đại diện
của người lao động hoặc đại diện công đoàn, cổ đông hoặc nhóm cổ đông của
công ty cổ phần, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, chủ doanh
nghiệp, người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp trong một số trường hợp

Trong quá trình phá sản doanh nghiệp, mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp vẫn được tiến hành bình thường nhưng phải chịu sự giám sát,
kiểm tra của thẩm phán và tổ quản lý tài sản. Có một số hoạt động theo quy
định của Luật Phá sản bị cấm và một số hoạt động khác chỉ được phép thực
hiện sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán.
● Hội nghị chủ nợ và phục hồi hoạt động kinh doanh
Hội nghị chủ nợ được Thẩm phán triệu tập và chủ trì để thông qua các
vấn đề về kiểm kê tài sản, phê duyệt phương án phục hồi hoạt động kinh
doanh, phương án thanh lý tài sản và các vấn đề khác liên quan.
Thẩm phán ra quyết định áp dụng phục hồi hoạt động kinh doanh khi
được Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thông qua phương án phục hồi hoạt động
kinh doanh. Thời hạn để doanh nghiệp thực hiện phương án phục hồi hoạt
động kinh doanh là 03 năm.

17
Khi doanh nghiệp đã hoàn thành xong phương án phục hồi kinh doanh,
Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản được coi không còn lâm vào tình
trạng phá sản.
● Thanh lý tài sản
Trong những trường hợp sau, Thẩm phán ra quyết định thanh lý tài sản
của doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản:
- Doanh nghiệp đã được áp dụng các biện pháp phục hồi kinh doanh
nhưng vẫn không phục hồi được và không thanh toán được nợ đến hạn khi
chủ nợ có yêu cầu;
- Hội nghị chủ nợ không thành do chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp
pháp của doanh nghiệp không tham gia Hội nghị chủ nợ hoặc không có đủ số
chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ;
- Hội nghị chủ nợ ra nghị quyết thông qua giải pháp dự kiến phục hồi
hoạt động kinh doanh nhưng doanh nghiệp không xây dựng phương án phục

các doanh nghiệp bị mắc nợ, cho người lao động, đảm bảo trật tự an toàn xã
hội và góp phần có hiệu quả vào việc cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân. Chính
vì vậy, việc trao nhiều quyền hạn cho Tòa án trong việc giải quyết phá sản kể
từ khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp cho tới khi giải
quyết xong mối quan hệ tài sản giữa chủ nợ và doanh nghiệp phá sản là phù
hợp với tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa của nước ta.
Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Tòa án theo Luật phá sản
năm 2004 và Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP ngày 28/4/2005 của Hội
đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật
phá sản, gồm:
● Thụ lý và ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản (Điều
22,28).

19
Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền thụ lý và quyết định mở hay
không mở thủ tục phá sản. Sau khi nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản, Tòa án có quyền yêu cầu người nộp đơn, Doanh nghiệp lâm vào tình
trạnh phá sản cung cấp thêm giấy tờ, tài liệu làm cơ sở cho việc thụ lý cũng
như quyết định mở thủ tục phá sản (Điều 22,23). Trong trường hợp thụ lý đơn
yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham
gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại
diện hợp pháp của doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ
chức liên quan để xem xét, kiểm tra căn cứ chứng minh doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản. Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản khi có căn cứ
chứng minh doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Ngược lại, nếu không
có căn cứ chứng minh doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Tòa án sẽ
ra quyết định không mở thủ tục phá sản (Điều 28).
● Quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản khi mở thủ tục phá
sản (Điều 9).
Trong trường hợp quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết

- Trong trường hợp xét thấy người quản lý của doanh nghiệp không có
khả năng điều hành hoặc nếu tiếp tục điều hành hoạt động kinh doanh sẽ
không có lợi cho việc bảo toàn tài sản của doanh nghiệp thì Thẩm phán có thể
quyết định của người khác làm người quản lý, điều hành doanh nghiệp theo
yêu cầu của Hội nghị chủ nợ (khoản 2 Điều 30);
- Giám sát ngăn ngừa doanh nghiệp thực hiện các hành vi cất giấu, tẩu
tán tài sản hoặc thực hiện các hành vi làm thiệt hại lợi ích chung của các chủ
nợ như: thanh toán nợ không có bảo đảm, từ bở hoặc giảm bớt quyền đòi nợ,
chuyển các khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm bằng tài sản của
doanh nghiệp (Điều 31);
- Các giao dịch của doanh nghiệp về cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng,
bán, tặng, cho, cho thuê tài sản; nhận tài sản từ một hợp đồng chuyển nhượng;

21
chấm dứt thực hiện hợp đồng đã có hiệu lục; vay tiền; bán, chuyển đổi cổ
phần hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản; thanh toán các khoản nợ mới phát
sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và trả lương cho người lao
động trong doanh nghiệp phải được sự đồng ý bằng văn bản của Thẩm phán
trước khi thực hiện (Điều 31).
● Quyết định áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm bảo toàn tài sản
của Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản.
Hoàn thiện cơ chế bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, Luật Phá sản năm
2004 trao cho Thẩm phán một số quyền hạn sau đây:
- Tuyên bố vô hiệu các giao dịch mà doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản đã thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Tòa án thụ lý
đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo yêu cầu của chủ nợ không có bảo đảm,
Tổ quản lý, thanh lý tài sản (Điều 43,44);
- Quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực nếu xét thấy
việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đó có lợi hơn cho doanh nghiệp theo yêu
cầu của chủ nợ, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status