Vai trò của tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ THÚY

vai trß cña tßa ¸n
trong gi¶i quyÕt tranh chÊp hîp ®ång tÝn dông

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

VŨ THỊ THÚY

vai trß cña tßa ¸n
trong gi¶i quyÕt tranh chÊp hîp ®ång tÝn dông
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nƣớc và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN HIỀN PHƢƠNG

HÀ NỘI - 2015


LỜI CAM ĐOAN

1.1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và vai
trò của Tòa án ..................................................................................... 12
1.2.

Khái quát chung về vai trò của Tòa án .......................................... 23

1.3.

Vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp hợp đồng
tín dụng ............................................................................................. 25

1.3.1.

Vai trò của Tòa án trong giai đoạn thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử........ 25

1.3.2. Vai trò của Tòa án trong giai đoạn xét xử vụ án ................................ 31
1.3.3. Vai trò của Tòa án trong giai đoạn thi hành án .................................. 34
Kết luận chƣơng 1 ......................................................................................... 36
Chƣơng 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG ..... 37
2.1.

Thực tiễn thực hiện vai trò của Tòa án trong giai đoạn thụ lý
vụ án và chuẩn bị xét xử .................................................................. 37


2.2.

Thực tiễn thực hiện vai trò của Tòa án trong giai đoạn xét
xử vụ án ............................................................................................ 43

BLDS:

Bộ luật Dân sự

BLTTDS:

Bộ luật Tố tụng dân sự

HĐTD:

Hợp đồng tín dụng

NHNN:

Ngân hàng Nhà nước

NHTM:

Ngân hàng thương mại

NHTMCP:

Ngân hàng thương mại cổ phần

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:


trong giải quyết tranh chấp HĐTD dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn để có
một nhận thức toàn diện về cơ chế giải quyết loại tranh chấp này tại Tòa án là
rất cần thiết. Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài “Vai trò của Tòa án trong giải
quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp HĐTD là vấn đề không chỉ nhận được sự quan
tâm của giới kinh doanh mà còn là vấn đề quan tâm của các nhà khoa học
pháp lý nhằm tạo dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD
một cách hiệu quả, góp phần tạo ra một môi trường thuận lợi, thúc đẩy cho
hoạt động tài chính ngân hàng phát triển lành mạnh. Chính vì vậy đã có nhiều
công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về những vấn đề liên quan đến
giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD. Đến nay đã có không ít các công
trình và bài nghiên cứu về lĩnh vực này. Từ năm 2002 tại trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh đã có khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Pháp luật giải
quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng” của tác giả Nguyễn Cao
Cường. Năm 2003 có “Pháp luật giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD
ngân hàng – Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Kiều Anh Thư, hai công
trình này được viết vào thời điểm trước năm 2004 khi Luật ngân hàng nhà
nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 chưa có sự sửa đổi, bổ
sung. Gần đây nhất là là khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kim
Thoa, “Tranh chấp HĐTD ngân hàng – nguyên nhân và giải pháp qua thực
tiễn giải quyết tại Tòa án” năm 2008. Tại trường Đại học Luật Hà Nội cũng
có một số khóa luận tốt nghiệp như “Giải quyết tranh chấp HĐTD tại Tòa án
ở Việt Nam” của Lê Thúy Hằng năm 2003 hay “Giải quyết tranh chấp HĐTD
tại Tòa án – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Thị Thu Hằng
năm 2008… Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học
và bài viết của các tác giả khác liên quan đến vấn đề này. Tuy nhiên các công

Luận văn được sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng
phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch để phục
vụ cho hoạt động nghiên cứu theo từng nội dung của đề tài.

3


5. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng
Luận văn đã nghiên cứu kiến thức cơ bản và làm sâu sắc hơn những
vấn đề chung về vai trò của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD.
Đồng thời, luận văn đã khắc họa được bức tranh thực tiễn về việc thực hiện
vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp HĐTD với những điểm thành
công và hạn chế, đặc biệt là đã chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế
còn tồn tại để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò
của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp HĐTD. Những đề xuất được nêu
ra trên cơ sở đáp ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc
thực hiện vai trò của Tòa án trong giải quyết tranh chấp HĐTD nên có giá trị
khoa học cao, có thể tham khảo trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
6. Bố cục của luận văn gồm
Lời mở đầu.
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về vai trò của Tòa án trong giải
quyết tranh chấp HĐTD.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện vai trò của Tòa án trong giải quyết
tranh chấp HĐTD ở Việt Nam.
Chương 3: Một số kiến nghị nâng cao vai trò của Tòa án trong giải
quyết tranh chấp HĐTD ở Việt Nam.
Phần kết luận.

4

6


nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, trực tiếp
chịu trách nhiệm về tài sản và không trái với pháp luật.
1.1.2. Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trong khoa học pháp lý, tranh chấp được hiểu là những mâu thuẫn, bất
đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh trong quá trình thực hiện
giao dịch. Trên cơ sở đó, có thể hiểu tranh chấp phát sinh từ HĐTD là tình
trạng pháp lý trong quan hệ HĐTD, mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột,
hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ HĐTD.
Một HĐTD chỉ được coi là tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về phương
diện quyền lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài (mặt khách quan)
thông qua những bằng chứng cụ thể và có thể xác định được. Có thể hiểu khái
quát: Tranh chấp HĐTD ngân hàng là những mâu thuẫn phát sinh từ quyền
và nghĩa vụ trong HĐTD ngân hàng giữa bên cho vay (ngân hàng) và bên vay
(khách hàng). Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ gốc, nợ lãi, việc giải
ngân, xử lý tài sản đảm bảo…
Về bản chất, cũng như bất kỳ một tranh chấp thuộc lĩnh vực khác, tranh
chấp HĐTD là sự phản ánh những mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể trong
việc thực hiện quyền, nghĩa vụ theo HĐTD, hay nói cách khác, chỉ khi có sự
vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên thì tranh chấp
mới phát sinh. Ở đây, bên cạnh thuật ngữ “tranh chấp HĐTD” còn xuất hiện
thuật ngữ “vi phạm HĐTD”. Hai thuật ngữ này có sự khác biệt về mặt nội
dung nhưng lại có mối quan hệ thống nhất và phụ thuộc lẫn nhau.
“Vi phạm HĐTD” có thể được hiểu là hành vi bất hợp pháp của một
hoặc cả hai bên giao kết không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những
điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng. “Tranh chấp HĐTD” có thể hiểu là
tình trạng pháp lý phát sinh do một bên hoặc cả hai bên đã có hành vi vi phạm
hợp đồng. Như vậy, trong mối liên hệ giữa hành vi vi phạm hợp đồng với

ngân hàng cho vay mà không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc

8


phân tích tín dụng, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là:
Tính cách người vay, năng lực trả nợ, dòng tiền mặt, tài sản thế chấp, các điều
kiện môi trường, sự kiểm soát mà ngân hàng lại dựa vào nhận định của các
nhân viên của mình. Trên thực tế, khi tiến hành thẩm định bên cho vay không
thể kiểm tra được bên vay có thông qua một tổ chức tín dụng đen nào hay
không. Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình cho
vay hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế. Việc đánh giá
biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều
kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay. Tổ chức tín dụng đánh giá về biện pháp
bảo đảm tiền vay còn dựa vào tài liệu do bên vay xuất trình mà chưa có sự
kiểm tra thực tiễn.Trình độ thẩm định của nhân viên ngân hàng còn chưa cao,
nên có những sai xót và thiếu chặt chẽ - kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu.
Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng còn hạn chế. Trong thực tế
bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng,
không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục
đích trong hợp đồng hay không. Một số nhân viên ngân hàng còn thiếu phẩm
chất đạo đức cũng như thiếu năng lực nên trong việc cho vay có đảm bảo
nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc
chứng minh tài sản thế chấp của mình. Điều này dẫn đến có thể bên vay lại
đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba. Lúc này ngân
hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản – tài sản đã được thế
chấp bằng danh nghĩa ở ngân hàng.
Do đó để đảm bảo an toàn tín dụng các ngân hàng cần tuân thủ nghiêm
túc quy trình, điều kiện cho vay, các quy định của pháp luật liên quan, cần
nâng cao hơn nữa đội ngũ nhân viên ngân hàng, xây dựng và nâng cao hệ

2004 bà thế chấp ngôi nhà của mình để vay vốn Ngân hàng đầu tư và phát triển
chi nhánh Tân Tạo số tiền hai trăm bốn mươi triệu Đồng để đầu tư cho cơ sở
may gia công. Nhưng sau đó do không có hiểu biết về những quy định của

10


pháp luật bà Dung đã ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay mới.
Hiện tại, khoản tín dụng mới không vay được, khoản tín dụng trước thì chưa có
khả năng thanh toán và bên vay còn phải đối mặt với nguy cơ mất nhà do chủ
nợ đang khởi kiện ra toà yêu cầu thực hiện hợp đồng bán nhà trên [27]. Trong
tình huống trên, nếu bà Dung có kiến thức về pháp luật nhất là pháp luật ngân
hàng thì sẽ không dẫn đến ký hợp đồng bán nhà để đảm bảo cho khoản vay.
Hiện nay, sự hiểu biết những quy định pháp luật của một bộ phận người dân
còn nhiều hạn chế, sự hạn chế đó không chỉ gây tổn thất cho chính người vay
mà còn ảnh hưởng tới quyền lợi của ngân hàng và đặc biệt là những hệ lụy về
mặt xã hội.
Nguyên nhân từ quy định của pháp luật: Xã hội luôn thay đổi theo
nhiều chiều hướng khác nhau, các mối quan hệ xã hội cũng đổi mới không
ngừng kéo theo các giao dịch trong xã hội cũng có thêm nhiều yếu tố phức tạp
và đa dạng hơn. Trái lại, trên thực tế pháp luật nước ta chưa đáp ứng được
nhu cầu của xã hội, pháp luật chưa thể dự kiến và điều chỉnh được các mối
quan hệ xã hội sắp diễn ra. Một điều đáng lưu ý là sự hiểu biết về pháp luật
của các bên trong hợp đồng còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn với nhau về lợi ích
giữa các bên dẫn đến nảy sinh tranh chấp. Pháp luật nước ta quy định bên cho
vay bắt buộc phải đưa ra các căn cứ pháp lý hay những lý do chính đáng nếu
muốn từ chối khách hàng, vấn đề này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Nên
bên cho vay cho rằng cho vay là quyền của mình còn bên đi vay thì có quan
điểm ngược lại, điều đó dễ dẫn đến mâu thuẫn.
Những HĐTD ngân hàng theo mẫu do ngân hàng đưa ra đa phần là rất

thuẫn, bất đồng, xung đột lợi ích giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt
lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được. Trên thế giới cũng như ở Việt
Nam, tồn tại bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại phổ biến bao
gồm thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và Tòa án.
Về phương thức thương lượng: Thương lượng là phương thức giải

12


quyết tranh chấp thông qua việc các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn
xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có
sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ ba nào. Phương pháp thương
lượng được biết đến bởi một số đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất là phương thức giải quyết tranh chấp này được thực hiện bởi
cơ chế tự giải quyết thông qua việc các bên tranh chấp gặp nhau bàn bạc, thỏa
thuận để tự giải quyết những bất đồng phát sinh mà không cần có sự hiện diện
của bên thứ ba để trợ giúp hay phán quyết.
Thứ hai là quá trình thương lượng giữa các bên cũng không chịu sự
ràng buộc của bất kì nguyên tắc pháp lí hay những quy định mang tính khuôn
mẫu nào của pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp. Pháp luật của Việt
Nam mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận thương lượng là một phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại mà không có bất kì quy định nào chi phối đến cơ
chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng.
Thứ ba là việc thực thi kết quả thương lượng hoàn toàn phụ thuộc
vào sự tự nguyện của mỗi bên tranh chấp mà không có bất kì cơ chế pháp lí
nào đảm bảo việc thực thi đối với thỏa thuận của các bên trong quá trình
thương lượng.
Quá trình thương lượng để giải quyết tranh chấp có thể được thực hiện
bằng nhiều cách thức: thương lượng trực tiếp, thương lượng gián tiếp và kết
hợp thương lượng trực tiếp với thương lượng gián tiếp. Thương lượng trực

bắt buộc thi hành đối với kết quả thương lượng của các bên.
Về phương thức hòa giải: Hòa giải là phương thức giải quyết tranh
chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ,
thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh
chấp đã phát sinh.
Hòa giải được thực hiện dưới các hình thức: hòa giải ngoài thủ tục tố
tụng và hòa giải trong thủ tục tố tụng. Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là việc

14


hòa giải được các bên tiến hành trước khi đưa đơn khởi kiện ra Tòa án hoặc
trọng tài. Hòa giải trong thủ tục tố tụng là hoạt động được tiến hành tại Tòa
án, tại cơ quan trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo đơn
kiện của một bên. Khác với hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, hòa giải trong thủ
tục tố tụng được tiến hành dưới sự trợ giúp của Tòa án hoặc trọng tài. Khi các
bên hòa giải được với nhau, Tòa án hoặc trọng tài sẽ ra quyết định công nhận
sự thỏa thuận của đương sự và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành
đối với các bên.
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội, việc thương
lượng, hòa giải nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh nhất là các tranh
chấp thương mại luôn được coi trọng. Khi tranh chấp phát sinh các bên có thể
tự thương lượng, hòa giải với nhau. Nếu thương lượng, hòa giải không thành
mới đưa ra Tòa án hoặc trọng tài. Và ngay cả khi giải quyết tranh chấp tại
trọng tài hoặc Tòa án, các bên vẫn có thể tiến hành hòa giải với nhau. Phương
thức hòa giải được thể hiện qua một số đặc điểm cơ bản:
Thứ nhất là việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải đã có
sự hiện diện của bên thứ ba làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải
pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hòa giải và
thương lượng là trong hòa giải có sự xuất hiện của bên thứ ba tham gia vào

được quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên. Giải quyết tranh chấp bằng hòa
giải, các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng cứ và sử dụng
chứng cứ qua đó giữ được bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên. Do xuất
phát từ tinh thần tự nguyện và thiện chí của các bên. Vì vậy khi đạt được
phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.
Bên cạnh những ưu điểm đã trình bày ở trên, việc giải quyết tranh chấp
bằng phương thức hòa giải vẫn còn một số những hạn chế đáng chú ý sau:
Sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp chủ yếu phụ thuộc
vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh chấp. Việc thực thi các kết

16


quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào sự tự
nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ phải thi hành, thỏa thuận hòa giải giữa
các bên không được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà
nước. Bên tranh chấp không có thiện chí có thể lợi dụng việc hòa giải để trì
hoãn việc phải thực hiện nghĩa vụ. Nhiều trường hợp do muốn tìm mọi cách
mà bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại Tòa án hoặc trọng tài
do hết thời hiệu khởi kiện. Ngoài ra, trong quá trình hòa giải các bên phải trao
đổi, cung cấp thông tin với người thứ ba về hoạt động kinh doanh của mỗi
bên liên quan đến vụ tranh chấp nên uy tín cũng như bí quyết kinh doanh của
mỗi bên dễ bị ảnh hưởng hơn so với phương thức thương lượng. Bên cạnh đó,
việc chi phí cho quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải
cũng tốn kém hơn so với thương lượng, bởi một hoặc các bên phải trả khoản
dịch vụ phí cho người thứ ba làm trung gian hòa giải.
Về phương thức trọng tài thương mại: Giải quyết tranh chấp bằng
trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng
tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột trong
quá trình tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc đưa ra một phán

mang tính quyền lực nhà nước. Do đó, cần phải có một cơ quan nhà nước hỗ
trợ, đó là Tòa án. Theo luật trọng tài năm 2010 của nước ta quy định thì Tòa
án hỗ trợ để đảm bảo thi hành thỏa thuận trọng tài, hỗ trợ cho trọng tài trong
việc chỉ định trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp, kiểm tra, giám
sát đối với các quyết định của trọng tài, hủy quyết định trọng tài. Với các đặc
điểm như trên, giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài mang lại lợi ích cho
các bên tranh chấp như:
Thứ nhất là phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm:
Đa số các quyết định trọng tài không bị kháng cáo, chỉ trừ trường hợp một
bên trong tranh chấp yêu cầu và có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2
Điều 68 Luật trọng tài năm 2010 thì quyết định trọng tài bị hủy theo quyết
định của Tòa án.
18


Thứ hai là trọng tài thương mại mang tính linh hoạt, đảm bảo tốt hơn
quyền tự định đoạt của các bên. Nghĩa là các bên có quyền tự quyết định chọn
hình thức tổ chức trọng tài cũng như trọng tài viên mà mình ưa thích; có
quyền lựa chọn địa điểm, thời gian sao cho tiện với doanh nghiệp. Như vậy so
với Tòa án, các công việc đó do thẩm phán có thẩm quyền quyết định và
doanh nghiệp phải tuân theo thì hình thức trọng tài thương mại tạo cho các
bên tranh chấp có thể chủ động hơn.
Thứ ba là trọng tài thương mại mang tính bí mật: Các phiên họp giải
quyết tranh chấp của trọng tài không được tổ chức công khai và chỉ có các
bên nhận được quyết định. Đây là một ưu điểm lớn của phương thức trọng tài
khi các tranh chấp liên quan đến các bí kinh doanh.
Thứ tư là giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài
có thế giúp các bên tiết kiệm được thời gian và chi phí hơn so với phương
thức thông qua Tòa án. Trọng tài có thể tiến hành rất nhanh trong vòng vài
tuần hoặc vài tháng nếu các bên mong muốn. Trong hợp đồng với tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status