Vai trò của Công đoàn trong công việc bảo vệ quyền lợi người lao động tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ANH TUẤN VAI TRÕ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Lê Thị Hoài Thu
2
2.4.1. Trong quá trình ký kết và chấm dứt hợp đồng lao động. …………… 46
2.4.2. Trong quá trình xây dựng nội quy, quy chế của doanh nghiệp …… 47
2.4.3. Trong quá trình xử lý kỷ luật lao động và bồi thƣờng thiệt hại. …… 49
2.4.4. Trong việc cổ phần hóa, sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp. 51
2.5. VAI TRÕ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC TỔ CHỨC NÂNG CAO ĐỜI SỐNG
VẬT CHẤT TINH THẦN CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG …………………………. 52
2.6. VAI TRÒ CÔNG ĐOÀN THAM GIA GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO
ĐỘNG VÀ ĐÌNH CÔNG. ……………………………………………………… 55
2.6.1. Vai trò của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động. …………… 55
2.6.2. Vai trò của công đoàn trong tổ chức và lãnh đạo đình công. …………… 58
Chƣơng 3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA CÔNG
ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH
NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM
3.1. NHẬN XÉT VỀ VAI TRÕ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM …………………………………………………… 66
3.1.1. Về ƣu điểm. ……………………………………………………………… 66
3.1.2. Về hạn chế. …………………………………………………………………. 76
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM. ……….83
3.2.1. Về các quy định của pháp luật. ………………………………………… 83
3.2.2. Về tổ chức thực hiện. 91
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
4

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Công đoàn Việt nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, người
lao động tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam. Là tổ chức
của người lao động, nên tổ chức và hoạt động của công đoàn gắn liền với chủ thể là
người lao động trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phù hợp với nền chính trị,
kinh tế, xã hội của đất nước.
Luật công đoàn ban hành tháng 6 năm 1990 là cơ sở pháp lý quan trọng để tổ
chức công đoàn thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình sát hợp với quyền và lợi ích
hợp pháp của người lao động trong thời kỳ đầu đất nước chuyển từ cơ chế tập trung
quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. So với 20
năm trước, tổ chức công đoàn và hoạt động công đoàn đang đứng trước những thách
thức lớn. Nền kinh tế đa dạng hơn về hình thức sở hữu, quan hệ lao động việc làm ngày
càng trở lên phức tạp. Khác với các doanh nghiệp nhà nước, nơi được cho rằng không
có sự tách biệt về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động do các doanh
nghiệp đó thuộc sở hữu toàn dân, sự phân kỳ về lợi ích giữa người lao động và người
sử dụng lao động trong khu vực ngoài quốc doanh nói chung và trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng ngày càng thể hiện rõ nét.
Theo thống kê của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Bình Dương thì 6 tháng
đầu năm nay đã có 150 vụ tranh chấp lao động tập thể và đình công tại 142 doanh
nghiệp với gần 80 ngàn công nhân tham gia, tăng gần 50% so với cùng kỳ năm 2010.
Nhiều vụ diễn ra với quy mô lớn, thời gian kéo dài nhiều ngày khiến sản xuất đình trệ
nghiêm trọng. Đáng chú ý là vụ đình công của trên 6.000 công nhân Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Chí Hùng (vốn Đài Loan) ở huyện Tân Uyên (chuyên sản xuất giày da)
kéo dài suốt trong 8 ngày liền gây thiệt hại nặng nề đến sản xuất kinh doanh.

5
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê từ đầu năm đến nay đã có 132 vụ

2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động là một trong
những chức năng nguyên thủy nhất của tổ chức công đoàn. Tuy nhiên, trong thời gian
vừa qua, đã liên tiếp xảy ra các vụ đình công của công nhân lao động trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong các khu công nghiệp trên phạm vi cả nước.
Điều này có một phần nguyên nhân từ sự yếu kém trong hoạt động của tổ chức công
đoàn. Đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về vai trò của công đoàn trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: Dương Văn Sao (2003), Nâng cao hiệu
quả hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
Nguyễn Thị Phương Thúy (2008), Những vấn đề pháp lý về việc tham gia của công
đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công – Luận văn thạc sỹ luật học;
Đinh Thị Bình (2000), Công đoàn với chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động trong cơ chế thị trường ở Việt nam, khóa luận tốt nghiệp; Viện nghiên
cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh (2008), Tổ chức công đoàn trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Nguyễn Xuân Thu (2008)Cơ chế ba bên trong việc
giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học; và một số bài báo
đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý… Các công trình, bài viết trên mới chỉ đi sâu
nghiên cứu vai trò của công đoàn trong các doanh nghiệp nói chung, hoặc chỉ nghiên
cứu vai trò của công đoàn trong phạm vi hẹp hơn (giải quyết tranh chấp lao động và
đình công) hoặc chỉ tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mà không đề câp đến
thực trạng hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
cũng như góc độ pháp lý của vấn đề, đồng thời thiếu sự so sánh đối chiếu với các quy
định của pháp luật nước ngoài. Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách sâu sắc, hệ
thống và đầy đủ về vấn đề: “Vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người

7
lao động tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam” là việc làm mang
ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.

với việc tham khảo tổng hợp các ý kiến của một số cán bộ công đoàn trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam, các chuyên gia luật, kinh tế, cũng như
tham khảo kinh nghiệm tổ chức và hoạt động công đoàn một số nước để bước đầu đưa
ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền
lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả lấy phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu.
Ngoài ra, các phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu, khảo sát thu thập,
điều tra xã hội học… được sử dụng phù hợp với từng mặt, từng lĩnh vực nghiên cứu
của đề tài. Các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề lao động, việc làm,
các quy định của Hiến pháp trong lĩnh vực lao động, công đoàn, các quy phạm pháp
luật lao động được sử dụng với tư cách là cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho quá trình
nghiên cứu.
6. Kết quả của luận văn.
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận về vai trò của công đoàn trong
việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
ở Việt Nam; Đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành cũng như thực tiễn việc
thực hiện từ đó đưa ra các kiến nghị đồng bộ cả về mặt lập pháp và tổ chức thực hiện
nhằm nâng cao hiệu quả vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Đó sẽ là những

9
đóng góp của luận văn đối với công tác nghiên cứu khoa học, công tác lập pháp và việc
áp dụng pháp luật vào thực tiễn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được kết cấu thành 03 chương, cụ thể
như sau:
Chương 1: Khái quát chung về công đoàn và vai trò của tổ chức công đoàn.
Chương 2: Vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động

này biểu hiện ở thành phần tham gia và mục đích tồn tại của công đoàn. Các thành viên
công đoàn thuộc về lực lượng lao động, đã hoặc đang làm một công việc nhất định. Do
đó, công đoàn có thể coi là tổ chức nghề nghiệp rộng lớn nhất, thu hút sự tham gia
đông đảo nhất của mọi tầng lớp lao động trong xã hội.

11
Mặt khác, công đoàn còn là một tổ chức chính trị - xã hội có vị trí quan trọng
trong xã hội, có ảnh hưởng to lớn đến đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Công
đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
cho họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội.
Công đoàn còn là người tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước
đến với quần chúng, người lao động; Có trách nhiệm xây dựng Đảng, bồi dưỡng công
nhân ưu tú kết nạp Đảng. Có thể nói, công đoàn là cộng sự đắc lực của nhà nước bởi
những hoạt động của công đoàn đã thực sự góp phần xây dựng chính quyền nhà nước,
vì mục đích tồn tại của nhà nước, vì lợi ích của giai cấp công nhân.
Sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nước trên các phương diện khác nhau đã
khẳng định vị trí của công đoàn, đồng thời tạo ra điều kiện pháp lý xã hội cho hoạt
động công đoàn để công đoàn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình.
1.1.2. Tính chất của công đoàn.
Tính chất của một tổ chức là những đặc điểm riêng có của tổ chức đó để phân
biệt với tổ chức khác mà nếu không còn những đặc điểm riêng thì tổ chức đó không
còn đúng với bản chất của nó nữa. Công đoàn là tổ chức không mang tính chất đảng
phái mà là tổ chức liên minh của giai cấp công nhân và người lao động. Vì vậy công
đoàn là tổ chức chính trị xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và lao động Việt Nam
[40]
Giai cấp công nhân vừa là nguồn gốc vừa là cơ sở xã hội hình thành, tồn tại
phát triển tổ chức công đoàn. Bởi công đoàn ra đời là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp,
chính đáng của công nhân. Hình thức tổ chức của công đoàn là liên hiệp công nhân lao
động theo nghề nghiệp (Trade Union) và dựa trên nguyên tắc tự nguyện…Từ những
“đặc điểm riêng đó” đã xác định Công đoàn Việt Nam có hai tính chất: tính chất quần

1.1.3. Cơ cấu tổ chức của công đoàn Việt nam.

13
Cơ cấu tổ chức là vấn đề cơ bản nhất trong công tác tổ chức. Cơ cấu tổ chức
phản ánh sự phân công lao động trong một tổ chức, hoặc là sự phân bổ nhiệm vụ của
bộ máy tổ chức cho các cơ sở tổ chức trực thuộc. Khi nhìn vào cơ cấu bộ máy tổ chức
đó có thể thấy được các nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức, trên cơ sở đó mà phân biệt tổ
chức này với tổ chức khác.
Cơ cấu tổ chức còn phản ánh mối quan hệ công tác giữa các bộ phận cấu thành,
cơ sở của hệ thống tổ chức. Bảo đảm số nhân sự cần thiết trong các đơn vị cấu thành.
Cơ cấu tổ chức phải bảo đảm, tạo điều kiện cho việc luân chuyển và xử lý thông tin
giữa các đơn vị trực thuộc.
Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản
sau:
- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
- Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là liên đoàn lao
động tỉnh, thành phố) và công đoàn ngành trung ương;
- Công đoàn cấp trên cơ sở;
- Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn.
Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau.
Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của Tổng liên đoàn lao động Việt nam là các liên
đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, công đoàn ngành trung ương và
cơ quan tổng liên đoàn lao động, các đơn vị trực thuộc. Tổng liên đoàn lao động Việt
nam là cơ quan cao nhất quyết định phương hướng, chủ trương, nội dung, chương trình
hoạt động của công đoàn nhằm thực hiện nghị quyết đại hội công đoàn toàn quốc và
nghị quyết của Đảng cộng sản Việt nam, chỉ đạo công tác tổng kết thực hiện và nghiên
cứu lý luận công đoàn.
Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các liên
đoàn lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các công đoàn cơ sở và nghiệp
đoàn đóng trên địa bàn không phân biệt cấp quản lý và thành phần kinh tế. Chỉ đạo trực

ương. Đối tượng chỉ đạo trực tiếp của công đoàn cấp này là các công đoàn cơ sở và
nghiệp đoàn đã được phân cấp quản lý theo điều lệ công đoàn Việt Nam.
Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn có đối tượng chỉ đạo trực tiếp là các công đoàn
bộ phận; tổ công đoàn. Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn ra quyết định thành lập và
công nhận ban chấp hành công đoàn bộ phận và tổ công đoàn; chỉ đạo công đoàn bộ
phận và tổ công đoàn, thực hiện có hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, phát triển
đoàn viên, xây dựng công đoàn bộ phận tổ công đoàn và công đoàn cơ sở vững mạnh.
Với một cơ cấu chặt chẽ thống nhất như vậy, công đoàn có điều kiện thuận lợi
trong hoạt động chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích của người lao động và đưa chính sách
pháp luật vào đời sống, giúp cho đại bộ phận người lao động và người sử dụng lao
động thực hiện tốt chính sách của nhà nước vì sự phát triển của doanh nghiệp và của xã
hội.
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của công đoàn.
1.1.4.1. Chức năng của công đoàn.
Chức năng của một tổ chức là sự phân công tất yếu, sự quy định chức trách một
cách tương đối, ổn định và hợp lý trong điều kiện lịch sử và xã hội nhất định của tổ
chức, để phân biệt tổ chức này với tổ chức khác. Chức năng của công đoàn được biểu
hiện bằng những phương hướng, những mặt hoạt động chủ yếu để thực hiện bản chất
và vai trò của công đoàn trong xã hội. Công đoàn có các chức năng sau:
Thứ nhất: công đoàn có chức năng bảo vệ lợi ích của người lao động
Do trình độ dân trí còn thấp, những tàn dư của xã hội cũ để lại và những tư
tưởng độc đoán, trù dập, ức hiếp người lao động của người sử dụng lao động đã dẫn
đến nhiều hiện tượng vi phạm đến quyền, lợi ích và đời sống của người lao động.
Những hiện tượng này không thể ngay một lúc xoá bỏ hết được vì thế, công đoàn phải
là đại diện bảo vệ quyền lợi cho công nhân nói riêng và người lao động nói chung.
Trong điều kiện hiện nay, với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chức
năng bảo vệ lợi ích công nhân lao động của công đoàn càng hết sức quan trọng.

16
Muốn bảo vệ lợi ích công nhân lao động, công đoàn cần phải làm gì? Một loạt nội

dục truyền thống, giáo dục đạo đức cho công nhân lao động, đó là những nội dung
cơ bản thể hiện trên phạm vi rộng lớn của chức năng giáo dục mà công đoàn xứng
đáng với vai trò “trường học” của mình.
Như vậy, chức năng của công đoàn là một chỉnh thể, một hệ thống đồng bộ,
trong đó chức năng bảo vệ lợi ích mang ý nghĩa là trung tâm, là mục tiêu hoạt
động của công đoàn; chức năng tham gia quản lý mang ý nghĩa điều kiện, phương tiện
đạt mục tiêu; chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần, là điều kiện xã
hội để công đoàn hoàn thành nhiệm vụ của mình.
1.1.4.2. Nhiệm vụ của công đoàn.
Nhiệm vụ của công đoàn là toàn bộ những mục tiêu mà công đoàn cần đạt tới, là
những vấn đề đặt ra mà công đoàn cần giải quyết. Thực hiện những nhiệm vụ đó chính
là thực hiện các chức năng đã được xác định của công đoàn trong một giai đoạn nhất
định, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của giai đoạn ấy. Nhiệm vụ của công đoàn là
yếu tố dễ biến động hơn so với chức năng. Mỗi nhiệm vụ cũng có thể có sự quan tâm ở
các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào từng giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn hiện
nay, công đoàn có những nhiệm vụ sau:
- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng và
thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, các chính sách, các cơ chế quản lý kinh tế,
các chủ trương chính sách có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao
động.
- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ
quyền và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan và tổ chức. Từ đó tạo cho người lao động
các phương thức xử sự phù hợp trong các mối quan hệ xã hội và pháp lý.
- Thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận một cách có hiệu quả để bảo
vệ, chăm lo đến lợi ích và đời sống của người lao động.

18
- Tham gia các quan hệ trong nước và quốc tế nhằm xây dựng các mối quan hệ
đối nội, đối ngoại rộng rãi, góp phần thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước, tạo điều kiện tốt cho môi trường lao động xã hội.

động tham gia tích cực vào việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn thiện các chính
sách kinh tế, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất,
kinh doanh. Công đoàn giáo dục công nhân, viên chức và lao động thái độ lao động
mới. Vấn đề giáo dục lao động là một bước phát triển mới của vai trò công đoàn, và chỉ
có trong chủ nghĩa xã hội. Cùng với giáo dục lao động, công đoàn tiến hành giáo dục
chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, giáo dục văn hoá, giáo dục lối sống, giáo dục
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan khoa
học cho công nhân, viên chức và lao động. Sự mở rộng vai trò của công đoàn là phù
hợp với tính tất yếu khách quan, tính quy luật vận động và phát triển của tổ chức công
đoàn, phù hợp với quy luật chung của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản.[20]
Như vậy, vai trò của một tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức đó đến tiến
trình phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển. Sự tác động của tổ chức công
đoàn được dựa trên cơ sở tính chất, vị trí của tổ chức thông qua các hoạt động phong
trào cách mạng của quần chúng công nhân lao động. Để các phong trào hành động cách
mạng của quần chúng trước hết công đoàn phải có quá trình tập hợp, tuyên truyền,
hướng dẫn công nhân, viên chức, lao động.
Trong môi trường lao động, sự hiện diện của công đoàn có tầm quan trọng đặc
biệt. Là một tổ chức xã hội sinh ra trong quá trình phát triển công nghiệp của xã hội,
công đoàn là sản phẩm tự nhiên của công nhân lao động. Tổ chức công đoàn ban đầu

20
đơn giản chỉ là tổ chức được thành lập ra nhằm đấu tranh và hạn chế sự bóc lột của giới
chủ chứ thực ra chưa phải là một tổ chức có nhiều quyền năng như ngày nay.
Cùng với sự phát triển của quá trình lao động và sinh hoạt xã hội, công đoàn dần
chiếm được vị trí vai trò quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội cũng như trong
đời sống của người lao động.
Từ chỗ chỉ được thừa nhận ở phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn được thừa nhận
trong phạm vi toàn xã hội. Theo Hiến pháp năm 1992, công đoàn là tổ chức chính trị -

trọng trong xã hội. Công đoàn không chỉ đại diện cho người lao động, bảo vệ lợi ích
cho người lao động mà công đoàn còn đại diện cho họ tham gia vào quản lý kinh tế. Do
đó mà pháp luật đã ghi nhận: công đoàn có quyền cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên chức và
những người lao động khác, tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra,
giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế … (Điều 10 – Hiến pháp
năm 1992).
Như vậy, với sự thừa nhận của xã hội, của Nhà nước trên những phương diện
khác nhau đã khẳng định vai trò của tổ chức công đoàn – vừa là một tổ chức xã hội,
vừa là một thực thể pháp lý. Nó cho ta thấy vai trò và tầm quan trọng của công đoàn
đối với phong trào của giai cấp công nhân và những người lao động; trong mối quan hệ
với các tổ chức khác và Nhà nước. Đồng thời, vị trí, vai trò đó đã tạo ra những điều
kiện pháp lý – xã hội cho toàn bộ hoạt động của công đoàn mà không phải bất cứ tổ
chức xã hội nào cũng có được những điều kiện như vậy.
1.2.2. Nội dung vai trò của công đoàn.
Nghiên cứu vai trò của công đoàn trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa quan
trọng không chỉ về mặt lý luận, thực tiễn, mà cả mặt tư tưởng.

22
Thời kỳ chưa có chính quyền, Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai
cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc. Lªnin nãi: “ Công đoàn có vai trò là trường
học quản lý, trường học kinh tế, trường học chủ nghĩa cộng sản" [29].
Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, công đoàn có vai trò là trường học chủ
nghĩa xã hội của người lao động: công đoàn tham gia quản lý sản xuất, quản lý xí
nghiệp…; tham gia tích cực vào việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn thiện các
chính sách kinh tế…; giáo dục thái độ lao động mới, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp
luật, văn hoá, lối sống
Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, đất nước bước vào thời kỳ công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, vai trò của công đoàn Việt Nam ngày càng phát triển, mở
rộng thông qua các phong trào cách mạng của công nhân viên chức – lao động tác động

tạo được ổn định về chính trị mới tiến hành đổi mới kinh tế có hiệu quả và hoàn thành
tốt các mục tiêu kinh tế đặt ra trong quá trình hội nhập quốc tế.
Như vậy, công đoàn có trách nhiệm to lớn cùng với các tổ chức trong hệ thống
chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ chính
trị trong giai đoạn hiện nay.
Trong lĩnh vực xã hội: Nền kinh tế thị trường đã làm thay đổi sâu sắc tất cả các
mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội song cũng đem lại không ít những tiêu cực, ảnh
hưởng đến tâm lý, đời sống của người lao động. Vì vậy, công đoàn phải góp phần xây
dựng giai cấp công nhân, bảo đảm sự thống nhất của giai cấp công nhân Việt Nam,
không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn
hoá, khoa học kỹ thuật để giai cấp công nhân thực sự đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển đất nước. Công đoàn phải tuyên truyền giáo dục người lao động chống
tiêu cực và tệ nạn xã hội, xây dựng phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật và tính sáng tạo cho
người lao động.

24
Công đoàn góp phần củng cố liên minh công - nông và trí thức xây dựng khối
đoàn kết toàn dân. Đây là cơ sở xã hội vững chắc, tăng cường sức mạnh của nhà nước.
Trong lĩnh vực tư tưởng - văn hoá: nền kinh tế thị trường có nhiều ưu điểm, tích
cực song nền kinh tế này còn là “mảnh đất” làm nảy sinh những tiêu cực xã hội. Hơn
lúc nào hết, công đoàn cần phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân,
viên chức, người lao động nâng cao lập trường giai cấp, phát huy những giá trị cao đẹp,
truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân
loại. Đó là yếu tố quan trọng làm cho vai trò của công đoàn ngày càng mở rộng phát
triển. Ngày nay, tổ chức công đoàn đã, đang và sẽ thu hút được đông đảo lực lượng
người lao động. Công đoàn có vai trò thúc đẩy người lao động tích cực sáng tạo để trở
thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế đất nước.
Vai trò của công đoàn trong cơ chế ba bên: Theo quan điểm của tổ chức lao
động quốc tế (ILO):“ Cơ chế ba bên có nghĩa là bất cứ một hệ thống các mối quan hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status