Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
DOÃN THỊ DUNG Thi hành pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại Tập
đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Huy Cương
HÀ NỘI - 2010

1
Mục lục
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT Trang

2.1 Khái quát chung về pháp luật cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước

21

2
2.1.1

2.1.2

2.1.3
Khỏi nim v bn cht ca c phn húa doanh
nghip Nh nc
Chớnh sỏch v cỏc quy nh ca phỏp lut Vit Nam
v c phn húa doanh nghip nh nc
Nhng thnh tu v nhng hn ch trong vic thc
hin c phn húa doanh nghip nh nc ti Vit
Nam hin nay.
21

22

38
2.2

Nguyên nhân của những khó khăn trong việc thi
hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà n-ớc tại VNPT
62
3.2
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà n-ớc
62 3
3.3
Kiến nghị thi hành pháp luật cổ phần hóa Doanh
nghiệp nhà n-ớc
72

Danh mục tài liệu tham khảo
77


5
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Danh mục sơ đồ Trang
Sơ đồ 1.1
Sơ đồ tổ chức bộ máy của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
19

Danh môc b¶ng
Bảng 2.1
Bảng 2.2

Bảng 2.3
Báo cáo số lượng, quy mô các doanh nghiệp cổ phần hóa
Tình hình quản lý, sử dụng đất đai trong các doanh nghiệp cổ phần
hóa
Tình hình hoạt động của doanh nghiệp cổ phần hóa
46-47
50-51

53


hiện tốt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu đối với DNNN mà
nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn…".[16 tr85-86]
Cổ phần hóa DNNN mở ra triển vọng xây dựng thị trường vốn lành
mạnh và phong phú. Cổ phần hóa DNNN cũng tạo điều kiện cơ cấu lại nền
kinh tế quốc dân. Thông qua quá trình “cổ phần hóa” chúng ta có điều kiện
cấu trúc lại nền kinh tế quốc dân phân bố theo nhiều thành phần, nhiều hình
thức sở hữu, và từ đó tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc
doanh trên những mũi nhọn hàng đầu. Như vậy, kinh tế quốc doanh sẽ đảm
bảo được vai trò là công cụ điều tiết mà không cần quá nhiều lĩnh vực, quá
nhiều ngành nghề, khiến phải đầu tư vốn tràn lan không nắm chắc được hiệu
quả, dễ gây thất thoát và thiệt hại. 7
Việc cổ phần hóa DNNN còn góp phần cải tiến quản lý kinh tế có hiệu
quả hơn, bởi nó khẳng định vai trò của Hội đồng quản trị, là tổ chức thay mặt
các cổ đông, quản lý với tư cách người chủ thực sự của doanh nghiệp, với
động cơ tất cả vì hiệu quả của đồng vốn, vì quyền lợi và lợi nhuận của các cổ
đông. Cổ phần hóa giúp cho người lao động ở đó thực hiện quyền làm chủ tốt
hơn.
Việc cổ phần hóa các DNNN cũng tạo điều kiện làm cho cạnh tranh
lành mạnh và phân phối thỏa đáng lợi nhuận thu được (theo vốn góp, theo
năng suất và hiệu quả lao động), giúp cho việc xây dựng các quỹ phúc lợi
(như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ tiết kiệm tương trợ trong doanh nghiệp, quỹ
bảo hiểm y tế, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, ) bảo đảm thực hiện tốt các chính
sách xã hội.
Thực hiện chủ trương cổ phần hoá DNNN là nhằm tạo ra loại hình
doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu. Trong đó có đông đảo người lao động để
sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và huy động thêm vốn xã hội
vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý

hành pháp luật cổ phần hoá DNNN hiện nay ở nước ta nói chung và ở Tập
đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam nói riêng, để từ đó rút ra một số kiến
nghị nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các DNNN thuộc Tập đoàn Bưu
chính viễn thông Việt Nam(VNPT) có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết cả
về lý luận và thực tiễn.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Đi sâu nghiên cứu và khẳng định sự đúng đắn của các chủ trương,
chính sách của Đảng và Nhà nước ta về cổ phần hoá DNNN. Mục đích
nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ nội dung, cơ sở lý luận và thực tiễn của 9
các quy định về thi hành pháp luật cổ phần hoá của DNNN dưới góc độ pháp
lý trên cơ sở đó phân tích các quan điểm hiện hành và thực tiễn áp dụng cổ
phần hoá DNNN ở nước ta nói chung và VNPT nói riêng, từ đó tìm ra những
khó khăn, vướng mắc, đề xuất những kiến nghị hoàn thiện và thi hành pháp
luật cổ phần hóa.
Để đạt được mục đích này luận văn tập trung vào những vấn đề sau:
Khái quát chung về cổ phần hóa DNNN tại Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam.
Thực trạng thi hành pháp luật cổ phần hóa DNNN tại VNPT.
Kiến nghị hoàn thiện và thi hành pháp luật cổ phần hóa DNNN ở Việt
Nam.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã vận dụng các phương
pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp duy vật biện chứng, phân tích,
tổng hợp, đối chiếu so sánh, kết hợp giữa phương pháp thống kê, phương
pháp hệ thống, phương pháp phân tích mô tả, các phương pháp này đều dựa
trên quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước.
4. Bố cục của luận văn:

các doanh nghiệp VNPT, củng cố và cơ cấu lại các doanh nghiệp theo hướng
tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục những tồn tại nhằm
nâng cao năng lực tài chính, trình độ công nghệ, năng lực tổ chức kinh doanh,
đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của công cuộc đổi mới trong những năm
tới. Tính tất yếu hay sự cần thiết phải cổ phần hóa các DNNN nói chung và
doanh nghiệp của VNPT nói riêng hiện nay thể hiện qua những điểm như
sau: 11
Thứ nhất, nhìn từ góc độ vĩ mô thì chủ trương cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước trong những năm qua đã thể hiện tính đúng đắn
của nó và đem lại nhiều thành quả trên thực tế.
Thực tiễn cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong những năm
vừa qua cho thấy các doanh nghiệp sau khi cổ phần hóa cơ bản đều hoạt động
tốt và có khả năng sinh lời ổn định. Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh
nghiệp đã đưa ra các bản thống kê cho thấy hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh đều chuyển biến tích cực so với trước khi chuyển đổi sở hữu. Vốn điều
lệ cũng như doanh thu của các doanh nghiệp sau cổ phần hóa đều tăng. Từ
đó, số tiền nộp ngân sách nhà nước của các doanh nghiệp và thu nhập của
người lao động cũng tăng lên đáng kể. Sự phát triển như vậy đem lại những
hiệu ứng tích cực cho cả nền kinh tế. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện cổ
phần hóa, các doanh nghiệp nhà nước đã thay đổi được tận gốc phương thức
quản lý lạc hậu và nhiều hạn chế trước đây để áp dụng phương thức quản lý
mới, tự chủ, linh hoạt hơn.
Các doanh nghiệp của VNPT hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ bưu chính, viễn thông trước hết cũng là một loại hình doanh nghiệp nhà
nước được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh
doanh trong phạm vi hoạt động bưu chính, viễn thông, là một lĩnh vực kinh
doanh quan trọng đối với nền kinh tế. Và nếu như cổ phần hóa các doanh

Mặc dù VNPT đã nỗ lực trong việc bổ sung vốn cho các đơn vị, thế
nhưng các doanh nghiệp đó khó có thể tăng vốn bằng nguồn ngân sách và của
VNPT vốn đã rất eo hẹp và còn phải phân bổ cho nhiều mục tiêu quan trọng
khác của VNPT. Chính vì vậy, huy động vốn từ công chúng đầu tư thông qua
phát hành cổ phiếu là phương thức khả thi nhất trong giai đoạn hiện nay. Nó
không những giúp giảm bớt áp lực cho nguồn vốn của VNPT mà còn giúp 13
cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực tài chính thông qua tăng vốn điều lệ.
Đó là yếu tố rất quan trọng để các doanh nghiệp củaVNPT có thể cạnh tranh
được với các Tập đoàn bưu chính, viễn thông và truyền thông quốc tế trong
bối cảnh Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại quốc tế WTO.
Thứ ba, cổ phần hóa sẽ tạo ra áp lực bắt buộc các doanh nghiệp phải
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Do nhu cầu cạnh tranh nên các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực
Bưu chính, Viễn thông chỉ chú trọng phát triển mạng lưới, đẩy chi phí lên
trong khi lợi nhuận đem lại không cao có xu hướng giảm. Một lý do nữa là
dịch vụ và sản phẩm của các doanh nghiệp vẫn còn nghèo nàn, các dịch vụ
mới chưa phát triển, chưa tạo được nguồn thu từ các dịch vụ tiện ích…. Tất
cả những điều đó đều xuất phát từ cơ chế hoạt động của một doanh nghiệp
nhà nước, phải thực hiện nhiều chính sách xã hội do nhà nước đề ra, bộ máy
lãnh đạo cồng kềnh không linh hoạt và khó thích ứng được với cơ chế kinh tế
thị trường.
Khi các doanh nghiệp của VNPT được cổ phần hóa, với cơ chế quản trị
điều hành năng động hơn, các doanh nghiệp sẽ nhanh chóng bắt kịp được
trình độ phát triển chung của thế giới. Hơn nữa, các doanh nghiệp đó sẽ bắt
buộc phải hoạt động có hiệu quả, tăng khả năng sinh lời để thu hút các nhà
đầu tư nếu không muốn tự đào thải khỏi nền kinh tế.
Thứ tư, cổ phần hóa sẽ tạo ra cơ chế điều hành quản trị năng động,

Thứ năm, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước chung và VNPT
nói riêng sẽ giải quyết được cơ chế tiền lương, thu nhập cho người lao
động.
Nguồn nhân lực cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng phát triển
của mỗi doanh nghiệp và đây là bài toán khó giải quyết. Hầu như không 15
doanh nghiệp nhà nước nào mà không phải đối mặt với tình trạng chảy máu
chất xám. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là tiền lương.
Với cơ chế về quản lý tiền lương đang áp dụng, các doanh nghiệp nhà
nước không thể trả công cho người lao động tương xứng với thành quả làm
việc của họ. Một khi lương không đủ sức để giữ chân người giỏi thì làm sao
có thể thu hút, đào tạo và xây dựng nguồn nhân lực đủ mạnh để phục vụ cho
các mục tiêu phát triển.
Với những yêu cầu hết sức cần thiết như vậy, vấn đề cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước nói chung và của VNPT nói riêng đã trở thành một
trong những vấn đề quan trọng mà Chính phủ Việt Nam đang quyết tâm xúc
tiến. Việc nhanh chóng tiến hành cổ phần hóa các DNNN sẽ tạo điều kiện cho
các ngành kinh tế khác của Việt Nam phát triển hơn nữa, tạo ra động lực để
Việt Nam nhanh chóng hòa nhập với nền kinh tế thế giới trong bối cảnh Việt
Nam vừa gia nhập WTO.
1.1.2 Chủ trương và định hướng cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước tại
VNPT
Nhằm tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới nhiệm vụ phát triển kinh tế,
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề cổ
phần hoá doanh nghiệp đã được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ X: Đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là cổ phần hoá… Đẩy mạnh và mở
rộng diện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, kể cả các tổng công ty nhà

được vốn của xã hội vào phát triển doanh nghiệp. Chủ trương cổ phần hoá của
VNPT là lần lượt cổ phần hoá các đơn vị thành viên theo từng lĩnh vực và
không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời rút ra
được kinh nghiệm để triển khai các đơn vị tiếp theo: 17
Các công ty hoạt động trong sản xuất công nghiệp và thương mại;
Các công ty hoạt động trong lĩnh vực xây lắp;
Các công ty hoạt động mang tính phụ trợ khác như: Công ty tem, Công
ty tin học phần mềm ;
Các công ty hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông.
Như vậy, việc đưa ra chủ trương, định hướng cổ phần hoá các đơn vị
thành viên như trên là hợp lý vì nó sẽ không làm xáo chộn hoạt động kinh
doanh hiện tại, nó được thực hiện từ những đơn vị độc lập tương đối đến độc
lập. Điều đó làm cho việc sắp xếp lại tổ chức sản xuất, kinh doanh và quản lý
của VNPT nhằm tiến tới hoạt động theo mô hình Tập đoàn được thực hiện tối
ưu hóa. Đó cũng là tiền đề cho công tác điều hành mọi hoạt động sản xuất,
kinh doanh trong mọi lĩnh vực của Tập đoàn được hiệu quả và phù hợp với
quy luật thị trường.
1.2 Những đặc thù cần chú ý trong việc cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nước tại VNPT
Mặc dù cũng là doanh nghiệp nhà nước nhưng các doanh nghiệp (trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông) của VNPT là những doanh nghiệp
mang nhiều đặc trưng riêng xuất phát từ chức năng cũng như lĩnh vực kinh
doanh của mình. Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp của VNPT cũng
vậy, nó hàm chứa những nét tương đồng với quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước hoạt động trong các lĩnh vực khác nhưng nó cũng có những
nét đặc thù. Nhìn chung, có thể nói rằng cổ phần hóa các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ viễn thông của VNPT phức tạp và khó

trọng. Cho nên, những biến động trong hoạt động của các doanh nghiệp cung 19
cấp dịch vụ viễn thông luôn luôn có ảnh hưởng rất lớn tới hầu hết các ngành
kinh tế khác. Do vậy mà việc cổ phần hóa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ
viễn thông đòi hỏi sự cẩn trọng hơn rất nhiều so với việc cổ phần hóa các
doanh nghiệp nhà nước thông thường. Điều đó không chỉ nhằm đảm bảo sự
an toàn và bền vững của hệ thống viễn thông quốc gia mà còn của toàn bộ
nền kinh tế.
Sơ đồ 1.1 Tổ chức bộ máy VNPT
20

THÔNG VIỆT NAM

2.1 Khái quát chung về pháp luật cổ phần hóa DNNN
2.1.1. Khái niệm và bản chất của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bắt đầu thực hiện thí điểm từ năm
1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chương trình này là Quyết định số
143/HĐBT ngày 10/05/1990 của Hội đồng Bộ trưởng và sau đó được thực
hiện với quy mô rộng hơn. Thực ra, việc CPH được đề cập từ những năm
1987, song thực tế lúc đó chưa cho phép triển khai giải pháp này. Bởi ở nước
ta vào thời điểm này vẫn tồn tại nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung với hai
thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể. Việc
chuyển sang nền kinh tế thị trường được Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986)
khởi xướng đã tạo ra những điều kiện, tiền đề để cải cách triệt để vì nó giải
quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức, quản lý và hoạt
động của DNNN, đó là vấn đề sở hữu. CPH doanh nghiệp chấp nhận sự dung
hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các thực thể kinh
tế vi mô mà trước hết là trong các doanh nghiệp. Cổ phần hóa doanh nghiệp
Nhà nước là giải pháp làm thay đổi kết cấu sở hữu của chóng, điều mà trước
đổi mới ít ai dám nghĩ tới.
Xét ở khía cạnh chính trị: Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước không
nhằm mục tiêu tư nhân hoá nền kinh tế, mặc dù CPH có chứa đựng yếu tố “tư
nhân hoá”. CPH được coi là quá trình tư nhân hoá một phần. CPH không xoá
bỏ hoàn toàn sở hữu Nhà nước trong các cơ sở kinh tế công, mà chỉ giảm
mức độ sở hữu, tức là chỉ có sự thay đổi về lượng chứ không có sự thay đổi
về chất trong các cơ sở kinh tế này [ 6 tr 135]. CPH là giải pháp làm cho sở
hữu sở hữu trong DNNN từ ''ảo'' đến ''thực'', chuyển từ sự kiểm soát bằng
“chế độ quan liêu” sang sự kiểm soát thông qua lợi ích của các chủ sở hữu 22

phần hóa tương đương với 71% tổng số doanh nghiệp nhà nước và đang thúc
đẩy việc tiến hành cổ phần hóa nốt các doanh nghiệp còn lại [15]. Các văn
bản pháp lí trực tiếp điều chỉnh quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước hiện vẫn còn rất ít và chủ yếu chúng ta vẫn sử dụng văn bản có tính hiệu
lực pháp lí cao nhất là Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày
26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ
phần, kế đến là Thông tư của Bộ Tài chính số 146/2007/TT-BTC ngày 06
tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực
hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo
quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP cũng như một số văn bản pháp
luật có liên quan. Theo các quy định pháp luật hiện hành, có thể khái quát
chung quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trải qua ba giai đoạn
chính là: Giai đoạn chuẩn bị cổ phần hóa, giai đoạn cổ phần hóa và giai đoạn
hậu cổ phần hóa.
Giai đoạn chuẩn bị cổ phần hóa
Chuẩn bị cổ phần hóa là giai đoạn đầu tiên của quá trình cổ phần hóa
doanh nghiệp nhà nước, trong đó doanh nghiệp nhà nước tiến hành những
công việc cần thiết nhằm tạo điều kiện về mọi mặt để doanh nghiệp tiến hành
cổ phần hóa thành công. Theo Nghị định số 109 của Chính phủ ban hành
ngày 26/6/2007, Thông tư của Bộ Tài chính số 146/2007/TT-BTC ngày 06
tháng 12 năm 2007 và một số văn bản pháp luật có liên quan thì các doanh
nghiệp nhà nước phải thực hiện một số công việc chính là xử lí tài chính và
xác định giá trị của doanh nghiệp trước khi tiến hành chào bán cổ phần ra thị
trường.
Các quy định về xử lý tài chính của doanh nghiệp trước khi cổ phần
hóa 24
Trước khi tiến hành việc xác định giá trị của doanh nghiệp, công việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status