ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NỮ THẢO HUYỀN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HIỆU LỰC
CỦA THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2010 MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU LỰC CỦA
THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
7
1.1.
Khái niệm, bản chất, vai trò và ý nghĩa của thỏa ước lao
động tập thể
7
1.1.1.
45
1.4.1.
Hiệu lực về thời gian của thỏa ước lao động tập thể 45
1.4.2.
Hiệu lực về không gian của thỏa ước lao động tập thể
46
1.4.3.
Thỏa ước vô hiệu và hiệu lực của thỏa ước trong một số
doanh nghiệp có sự thay đổi như sáp nhập, hợp nhất, chia
tách doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu và quyền quản lý
sử dụng tài sản…
50
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HIỆU LỰC
THỎA ƯỚC LAO ĐỘNG TẬP THỂ
54
2.1.
Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể theo Bộ luật Lao
động Việt Nam
54
2.1.1.
Đối tượng có trách nhiệm thi hành thỏa ước tập thể
54
2.1.2.
Hiệu lực về mặt thời gian
55
2.1.3.
Điều kiện có hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể
58
70
3.1.2.
Khắc phục những hạn chế của quy định về hiệu lực thỏa ước
lao động tập thể
71
3.2.
Một số thời hạn của hiệu lực thỏa ước lao động của một
số nước trên thế giới
72
3.2.1.
Thời hạn thỏa ước tập thể của Vương quốc Đan Mạch
72
3.2.2.
Thời hạn hiệu lực của thỏa ước lao động của Cộng hòa Liên
bang Đức
75
3.3.
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hiệu lực thỏa ước
lao động tập thể ở Việt Nam
76
3.3.1.
Về vấn đề sửa đổi, bổ sung hiệu lực của thỏa ước lao động
76
3.3.2.
Phạm vi chủ thể tham gia ký kết thỏa ước tập thể được mở rộng
77
3.3.3.
Các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện
thỏa ước lao động tập thể
78
trong sự phức tạp của mối quan hệ lao động như hiện nay, nhiều doanh
nghiệp còn chưa chú ý đến quyền lợi của người lao động một cách thiết thực
thì vấn đề về hiệu lực thỏa ước lao động tập thể càng quan trọng hơn bao giờ
hết trong vấn đề áp dụng quy phạm pháp luật đối với thực tiễn. Tác giả đã
chọn đề tài "Pháp luật Việt Nam về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể"
vì những lý do sau đây:
2
- Mong muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ các quy
định của pháp luật lao động Việt Nam liên quan đến chế định thỏa ước lao
động tập thể, đặc biệt là vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, nghiên
cứu công ước cũng như những văn bản pháp luật một số nước trên thế giới về
vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể cũng như sự thực thi của chúng
trên thực tế của mỗi quốc gia. Hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể được hiểu
trong đề tài này không chỉ được xem xét trong phạm vi chế định thảo ước lao
động tập thể theo Bộ luật lao động năm 1994 và toàn văn luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật lao động năm 2002, 2006 và năm 2007 mà còn được
xem xét một cách rộng mở đối với các vấn đề có liên quan đến cơ sở lý luận và
sự so sánh với hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể của một số nước trên thế
giới. Nghiên cứu những quy định về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể
giúp các nhà làm luật của Việt Nam hoàn thiện hơn trong chế định thỏa ước lao
động tập thể. Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn xúc tiến thương mại
quốc tế và mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế với các nước trên thế giới, cùng với
việc kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài đã thu hút không ít các nhà đầu tư nước
ngoài vào Việt Nam để kinh doanh, giải quyết được vấn đề việc làm cho người
lao động Việt Nam cho nên chúng ta cần phải hoàn thiện chế định pháp luật lao
động đặc biệt trong vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, để có thể
điều chỉnh được quan hệ lao động bình ổn, bền vững và phát triển trong bối
cảnh hiện nay. Việc nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần vào thực hiện mục tiêu
nêu trên.
bè quốc tế. Nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp tìm ra những giải pháp hoàn thiện
hơn về chế định hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể trong pháp luật Việt
Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề pháp lý cũng như cơ sở lý
luận và những quy định pháp luật cụ thể của vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao
4
động tập thể theo pháp luật lao động Việt Nam và so sánh với một số quy
định của các quốc gia khác về vấn đề này. Trong nội dung trình bày, tác giả sẽ
đưa ra nhận xét và những đánh giá về tình hình thực tiễn áp dụng và nhưng
bất cập trong quá trình áp dụng quy phạm pháp luật cũng như hiệu quả của
việc áp dụng vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể theo pháp luật
Việt Nam. Qua đó nêu lên những kiến nghị có thể áp dụng trong việc xây
dựng pháp luật của nhà làm luật và đồng thời xây dựng hoàn thiện chế định
thỏa ước lao động tập thể trong Bộ luật lao động Việt Nam hiện hành.
3. Tình hình nghiên cứu vấn đề này ở Việt Nam và ý nghĩa lý luận
của đề tài
Hiện nay ở nước ta, ngoài một khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương
Mai Anh của Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2000 và một số tập chí đã đề
cập hoặc nghiên cứu về một số vấn đề của hiệu lực của thỏa ước lao động tập
thể, chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách sâu sắc,
hệ thống và đầy đủ các vấn đề với các nội dung chính như: Những vấn đề lý
luận của hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể; những quy định về hiệu lực
của thỏa ước lao động tập thể theo pháp luật lao động Việt Nam; Một số kiến
nghị góp phần hoàn thiện chế định định hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể
và so sánh với chế định hiệu lực thỏa ước lao động tập thể của một số nước
trên thế giới. Việc nghiên cứu vấn đề hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể
theo pháp luật Việt Nam một cách hệ thống mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn hoàn thiện pháp luật Việt
ước lao động tập thể trong pháp luật lao động Việt Nam thông qua sự so sánh
với chế định hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể của một nước trên thế
giới.
6
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Tạo cơ sở lý luận cho việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp
luật về hiệu lực thỏa ước lao động tập thể.
- Luận văn đã phân tích đánh giá thực trạng quy định và áp dụng
"Hiệu lực của pháp luật Việt Nam về thỏa ước lao động tập thể", để định ra
những hướng giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong vấn đề hiệu lực của
thỏa ước trong thực tế, nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh quan hệ lao động
của pháp luật lao động trong cơ chế kinh tế thị trường.
- Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi
hành về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, luận văn đã chỉ ra những hạn
chế, thiếu sót của quy định pháp luật về pháp luật hiện hành về hiệu lực của
thỏa ước lao động tập thể. Một số quy định chưa đảm bảo được thời gian cũng
như quyền tự do thỏa thuận của các bên trong thỏa ước. Bên cạnh đó còn
thiếu những quy định về hiệu lực thỏa ước lao động ngành nên loại hình thỏa
ước này cũng không được ký kết nhiều trên thực tế và thiếu tính khả thi.
Ngoài ra, chúng ta cũng thấy thực hiện các bản thỏa ước lao động tập thể ở
các doanh nghiệp đã ký kết, còn mang nhiều tính hình thức, đơn thuần chỉ là
sự sao chép lại các quy định của pháp luật; một số doanh nghiệp thực hiện
không đúng với những cam kết trong bản thỏa ước, thậm chí không thực hiện
những điều khoản đã cam kết. Đặc biệt, điều này thường xảy ra đối với các
khu công nghiệp sử dụng số lượng đông là lao động có tay nghề thấp.
- Luận văn có đưa ra một số giải pháp dựa trên việc hoàn thiện pháp
luật về hiệu lực của thỏa ước lao động tập thể, đề cao việc xây dựng và hoàn
thiện theo hướng mở rộng phạm vi chủ thể ký kết cũng như mở rộng hơn nữa
quyền tự do thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ lao động tập thể.
Thỏa ước lao động tập thể bao gồm một quá trình bao gồm
một quá trình thảo thuận giữa các đại diện của một tổ chức công
đoàn và những người sử dụng lao động (được đại diện bởi quan
quản lý, ở một số nước bởi tổ chức của những người sử dụng lao
động) về các điều khoản và các điều kiện làm việc của người lao
động như tiền lương, giờ làm việc, các điều kiện làm việc và các thủ
tục giải quyết tranh chấp, và về các quyền và trách nhiệm của các tổ
chức công đoàn. Các bên thường coi kết quả của cuộc thương lượng
là thỏa ước lao động tập thể là thảo ước việc làm tập thể [30].
9
Theo Từ điển pháp luật Anh - Việt, quan niệm thỏa ước tập thể được
hiểu là: "Một thỏa thuận đạt được giữa người sử dụng lao động và công đoàn
sau khi thương lượng không ràng buộc về mặt pháp lý trừ khi thỏa thuận này
được viết ra và phải nêu cụ thể ý định của các bên liên quan" [15, tr. 167].
Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp thì
Thỏa ước lao động tập thể được hiểu là: "Thỏa thuận bằng văn bản giữa đại
diện tập thể lao động (hoặc đại diện giới lao động) và người sử dụng lao động
(hoặc đại diện giới sử dụng lao động) về các điều kiện lao động và sử dụng
lao động, quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ lao động" [21, tr. 714].
Chúng ta đã biết, thuật ngữ thỏa ước lao động tập thể không phải
thuật ngữ mới mẻ và cũng không phải là sản phẩm của xã hiện đại ngày nay.
Vào những năm cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, trên thế giới diễn ra cuộc
đấu tranh gay gắt giữa giới lao động và người sử dụng lao động (giới tư bản)
diễn ra hầu hết các nước tư bản chủ nghĩa. Nước Anh là một điển hình cho
những cuộc đấu tranh này, bởi lúc đo nước Anh được coi là cái nôi của nền
công nghiệp thế giới. Sự xung đột cũng như đấu tranh về quyền lợi đã diễn
ra ở nơi đây quyết liệt giữa công nhân với giới chủ. Điều đó khiến cho giới
công nhân liên kết với nhau để chống lại giới chủ. Tổ chức công đoàn (đại
diện tập thể người lao động hình thành nên từ đây). Trước những phản
thương lượng, thỏa thuận về quyền lợi và trách nhiệm cũng nghĩa vụ của bên.
Họ phải đạt đến một sự thống nhất, nhất trí về từng vấn đề trong thỏa thuận. Ở
một góc độ nào đó, thì đây được coi là sự nhượng bộ, từng bước các bên
nhượng bộ nhau về quyền lợi. Tuy nhiên, sự nhượng bộ này có sự đồng nhất
của các bên. Có nghĩa, chúng nằm trong giới hạn cho phép nhất định của các
bên, đều mang lại lợi ích cho hai bên. Sự thống nhất trong việc thương lượng
này để tránh cho mỗi bên lấn át quyền lợi của nhau. Đồng thời, chúng góp
phần làm bình ổn mối quan hệ lao động trong doanh nghiệp và mỗi bên đều
hưởng những điều kiện tốt cho mình.
11
Chúng ta thấy việc thương lượng chỉ diễn ra khi các bên có xung đột
về lợi ích trong một vấn đề nhất định. Các cuộc thương lượng hầu hết diễn ra
trong tinh thần tự nguyện, đưa ra các quan điểm đánh giá của mỗi bên để có
thể đạt phân chia quyền lợi một cách thỏa đáng. Các bên cùng thảo luận để
đưa ra phương hướng giải quyết mà ở đó quyền lợi mỗi bên đều được cùng
nhau công nhận và hạn chế mâu thuẫn xảy ra. Điều này, đã phần nào đáp ứng
nguyện vọng của người lao động trong quan hệ lao động đối với doanh nghiệp.
Thỏa ước lao động tập thể được xem xét dưới góc độ pháp lý, trong
các công ước quốc tế và các khuyến nghị của tổ chức lao động quốc tế về các
vấn đề như việc làm, phát triển nguồn nhân lực, tiền lương, an toàn vệ sinh
lao động v.v Đặc biệt Tổ chức Lao động Quốc tế luôn quan tâm đến vấn đề
thỏa ước lao động tập thể, vì đó là điều thể hiện sự phát triển về quan hệ lao
động của doanh nghiệp của mỗi quốc gia. Trong nhiều năm qua, tổ chức lao
động quốc tế thúc đẩy nhiều quốc gia tham gia vào việc ký kết thỏa ước lao
động tập thể để giữ gìn bình ổn mối quan hệ lao động. Nhiệm vụ này được thể
hiện trong tuyên bố Philadenphia năm 1944: "Nghĩa vụ chính thức của ILO là
thúc đẩy các nước trên thế giới thực hiện các chương trình nhằm đạt được…
Thừa nhận thực sự quyền được thương lượng tập thể" (phần III, điểm e) [26,
tr. 33]. Đúng vậy, việc thỏa thuận và thương lượng trong thỏa ước lao động
các nước có phần lớn giống như quan điểm của tổ chức lao động quốc tế.
Chúng ta tìm hiểu thêm một số khái niệm vê thỏa ước lao động tập thể
theo pháp luật của một số nước trên thế giới.
Theo Điều 2 Luật thỏa ước lao động tập thể, đình công và bế xưởng
của Thổ Nhĩ Kỳ (Luật số 2822 ngày 05 tháng 5 năm 1983) quy định:
Thỏa ước lao động tập thể là sự thỏa thuận giữa tập thể là sự
thỏa thuận giữa công đoàn của người lao động với công đoàn của
người sử dụng lao động hoặc người sử dụng lao động mà không
13
phải là thành viên của bất cứ công đoàn nào nhằm mục đích điều
chỉnh những vấn đề liên quan đến việc ký kết, nội dung và chấm
dứt hợp đồng lao động.
Thỏa ước lao động tập thể cũng có thể bao gồm những điều
khoản khác về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan, việc thực
thi và giám sát việc thực hiện thỏa thuận và những biện pháp được
sử dụng để giải quyết tranh chấp [25, tr. 3].
Theo Điều 45 Bộ luật Lao động của Liên bang Nga (tháng 2 năm
2002) thì:
Thỏa ước - là văn bản pháp lý quy định những nguyên tắc
chung về điều chỉnh các quan hệ lao động - xã hội và các quan hệ
kinh tế liên quan đến quan hệ lao động - xã hội, được ký kết giữa
những đại diện được ủy quyền của người lao động và người sử
dụng lao động ở cấp liên bang, khu vực, ngành (liên ngành) và lãnh
thổ trong giới hạn thẩm quyền của các cấp [23, tr. 330].
Theo pháp luật Trung Quốc thì thỏa ước lao động tập thể được hiểu là
Hợp đồng tập thể:
Hợp đồng tập thể được hiểu là thỏa thuận bằng văn bản
được ký kết thông qua thương lượng tập thể giữa bên tổ chức sử
dụng lao động và những người lao động của tổ chức đó phù hợp với
Theo Điều 1, Chính phủ ban hành quy định về Thỏa ước lao động tập
thể (kèm theo Nghị định số 18/ CP ngày 26 tháng 12 năm 1992) thì "Thỏa
ước lao động tập thể (gọi tắt thỏa ước tập thể) là sự thỏa thuận bằng văn bản
giữa đại diện tập thể người lao động và người sử dụng lao động về quyền lợi,
nghĩa vụ và trách nhiệm của hai bên trong quan hệ lao động".
15
Tại khoản 1, Điều 44 của Bộ luật Lao động hiện tại, thì thỏa ước lao
động tập thể: "Là văn bản thỏa thuận giữa tập thể lao động và người sử dụng
lao động về các điều kiện lao động và sử dụng lao động, quyền lợi và nghĩa
vụ của hai bên trong quan hệ lao động" [3].
Qua một số điều luật của các nước có quy định về khái niệm thỏa ước
lao động tập thể, cho chúng ta thấy, dù khác nhau về tên gọi nhưng bản chất
của thỏa ước lao động tập thể không có gì thay đổi. Vì đó là kết quả của một
quá trình thương lượng nhằm đạt đến sự bình ổn, hài hòa mối quan hệ lao
động trong doanh nghiệp.
- Vai trò của thỏa ước lao động tập thể.
Thỏa ước lao động tập thể có những vai trò cơ bản sau đây:
Thứ nhất, thỏa ước lao động tập thể góp phần tạo dựng quan hệ lao
động hài hòa về quyền và lợi ích giữa người sử dụng lao động và tập thể
người lao động.
Như vậy, chúng ta thấy thỏa ước lao động tập thể đóng vai trò quan
trọng trong quan hệ lao động của các bên. Nó góp phần ổn định, hài hòa trong
quan hệ lao động đối với mỗi quốc gia và môi trường lao động toàn cầu. Điều
đầu tiên, chúng ta thấy thỏa ước lao động tập thể là cơ sở pháp lý để hình
thành nên quan hệ lao động tập thể. Điều này khác với quan hệ của hợp đồng
lao động, vì hợp đồng lao động hình thành nên mối quan hệ mang tính chất cá
nhân trong quan hệ lao động.
Bên cạnh đó, thỏa ước lao động tập thể còn được xem là sự hợp tác tự
nguyện của các bên dựa trên cơ sở thương lượng. Thể hiện mối quan hệ hài
Đúng vậy, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể tạo sự gắn bó, đoàn
kết đối với mỗi bên trong quan hệ lao động. Vì việc tham gia quá trình đàm
phán, thể hiện vai trò bình đẳng giữa người lao động và người sử dụng lao
động đối với từng doanh nghiệp, ngành và vùng. Cả hai bên trong quan hệ lao
17
động sẽ cùng nhau gạt bỏ những lợi cục bộ để hướng đến lợi ích tập thể và
thống nhất. Thỏa ước lao động tập thể cũng phần nào hạn chế việc lạm quyền
của người sử dụng lao động nhằm hướng đến sự bình ổn trong sản xuất và
đảm bảo đối với các đối tác trên thương trường.
Đồng thời, thỏa ước lao động tập thể đóng góp vào mục tiêu phát triển
kinh tế xã hội, xây dựng một không khí hòa bình trong mối quan hệ lao động
nhờ những nỗ lực của các bên thúc đẩy mối quan hệ lao động tốt đẹp thông
qua việc giải quyết những xung đột về quyền lợi để phù hợp với tình hình
phát triển chung của thế giới. Bên cạnh đó, nó cũng hạn chế những cạnh tranh
không lành mạnh. Nên việc ký kết thỏa ước lao động tập thể giúp người lao
động xác định rõ ràng về trách nhiệm của mỗi bên tránh những tranh chấp
không cần thiết trong lao động.
Thứ ba, thỏa ước lao động tập thể là một trong những biện pháp hữu
hiệu để hạn chế xung đột và tranh chấp lao động nhưng đồng thời nó cũng là
một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết tranh chấp lao động.
Đúng vậy, thỏa ước lao động tập thể là một biện pháp mà các bên hạn
chế việc xung đột về quyền lợi và nâng cao ý thức giữa các bên trong quan hệ
lao động. Nó hạn chế những cạnh tranh và đặc biệt là những tranh chấp dẫn
tới đình công. Trong quan hệ lao động thì thỏa ước giống như một thứ vũ khí
mà các bên có được những vị trí nhất định và có tiếng nói mạnh đối với giới
công nhân trong việc thương thảo về quyền lợi của mình. Chính vì vậy, nó
hạn chế được những xung đột trong tranh chấp lao động.
Hơn nữa, thỏa ước lao động tập thể mang tính chất quan hệ tay ba
giữa đình công và công đoàn. Ba vấn đề này quan hệ chặt chẽ với nhau, tuy
19
Đặc biệt trong bối cảnh khan hiếm nguồn lao động có tay nghề như
hiện nay, thì việc tham gia ký kết các thỏa ước lao động tập thể có lợi cho
người lao động đã thể hiện những thiện chí của giới chủ trong bối cảnh lao
động toàn cầu hóa. Nếu không có được một lực lượng lao động hùng hậu
thì doanh nghiệp cũng không thể đạt đến những điều mình muốn, đó là hiệu
quả trong kinh doanh. Do vậy, việc ký kết những điều khoản có lợi cho
người lao động cũng đồng thời tạ điều kiện cho người lao động gắn bó với
doanh nghiệp.
Đồng thời, việc ký kết thỏa ước lao động tập thể cũng góp phần vào
mục tiêu chung của đất nước, đó là dân giàu - nước mạnh - xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh. Để đạt được mục tiêu chung như vậy, thì thỏa ước lao
động tập thể góp phần vào việc xây dung không khí lao động hòa bình, hợp
tác trong mối quan hệ lao động. Đồng thời, hạn chế những mâu thuẫn, tranh
chấp về quyền lợi, góp phần điều hòa lợi ích và quyền lợi của các bên. Đồng
thời qua việc ký kết thỏa ước, đã tạo điều kiện cho người lao động (công đoàn
đại diện) và giới chủ trao đổi và chia sẻ hoạt động sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp. Thông qua đó, tạo điều kiện đoàn kết cho hai lực lượng đối lập
về lợi ích trong quan hệ lao động.
Tuy nhiên, không hẳn quan hệ lao động của tất cả các doanh nghiệp
đều tốt đẹp. Có những mâu thuẫn không thể thương lượng được mà phải nhờ
đến các cơ quan, tổ chức để giải quyết. Như vậy sẽ phát sinh tranh chấp trong
quan hệ lao động. Tại Điều 157 của Bộ luật lao động hiện hành quy định:
"Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát dinh trong
quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao
động". Theo nội dung của Điều luật nêu trên, thì tranh chấp trong quan hệ lao
động bao gồm tranh chấp giữa ca nhân người lao động và người sử dụng lao
động và tranh chấp giữa tập thể người lao động và người sử dụng lao động.
Vậy thì, thỏa ước lao động tập thể sẽ là căn cứ pháp lý để giải quyết những