So sánh chế định giao kết hợp động theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ - Pdf 28


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ MAI HƯƠNG SO SÁNH CHẾ ĐỊNH GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGÔ HUY CƯƠNG

Hà nội – 2009
1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể
bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!


1.1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 9
1.1.2. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ. 11
1.2. Khái niệm giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ.13
1.3. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật
Hoa Kỳ. 14
1.3.1. So sánh chung về pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam và theo pháp luật Hoa Kỳ. 14
1.3.2. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam. 15
1.3.3. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ. 17
Chƣơng 2: THOẢ HUẬN VÀ CÁC THÀNH TỐ CỦA THOẢ
THUẬN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT
HOA KỲ 20
2.1. Khái niệm về sự thoả thuận theo pháp luật Việt Nam và pháp luật
Hoa Kỳ. 20
2.2. Các thành tố của sự thoả thuận. 21
2.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng. 21
2.2.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. 34
Chƣơng 3: HÌNH THỨC VÀ NỘI DUNG CỦA HỢP ĐỒNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ. 47

3
3.1. Hình thức hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ. 47
3.1.1. Những vẫn đề chung về hình thức hợp đồng. 47
3.1.2. Sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ về hình
thức hợp đồng. 48
3.2. Nội dung của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ. 53
Chƣơng 4 : ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG. 60
4.1. Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo pháp luật Việt Nam 60
4.1.1. Điều kiện về chủ thể. 60
4.1.2. Điều kiện về mục đích và nội dung của hợp đồng. 62

đồng. 95
5.6. Kiến nghị quy định về sửa đổi đề nghị do bên được đề nghị đề xuất. 95
5.7. Kiến nghị về độ tuổi tham gia giao kết hợp đồng trong một số lĩnh vực nhằm
duy trì trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích công cộng. 96
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
5
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài.
Trong nền kinh tế thị trường, xu hướng hội nhập mọi mặt kinh tế - xã
hội đã làm phát triển các giao dịch với quy mô ngày càng mở rộng và tính
chất phức tạp, đa dạng. Các giao dịch thể hiện dưới hình thức hợp đồng ngày
càng phố biến không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn mở rộng ra khỏi khu
vực và thế giới. Pháp luật Hợp đồng Việt Nam đã và đang được hoàn thiện để
phù hợp và đáp ứng với nhu cầu điều chỉnh các giao dịch đó. Sự phát triển
của luật hợp đồng ở Việt Nam đã thể hiện sự cố gắng và nỗ lực của nền lập
pháp Việt Nam trên cơ sở kế thừa những thành tựu đạt được trong lịch sử phát
triển về luật hợp đồng ở Việt Nam cũng như là kết quả tiếp thu những giá trị
tiến bộ của luật hợp đồng một số nước trên thế giới. Chế định hợp đồng là
một chế định trọng tâm và chủ yếu trong hệ thống các chế định của pháp
luật dân sự Việt Nam. Việc xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong
hợp đồng là cơ sở cho sự điều chỉnh của luật về hợp đồng. Chính vì vậy,
tác giả nhận thấy các quy định về giao kết hợp đồng là cơ sở quan trọng
cho việc hình thành và phát triển các quan hệ hợp đồng. Trong phạm vi
nghiên cứu của chương trình đào tạo cao học, tác giả chọn đề tài “So sánh
chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa

luật Hoa Kỳ, trong đó có lĩnh vực hợp đồng và có giá trị khoa học trong
nghiên cứu và phát triển luật học, đầu tiên phải kể đến sách tham khảo “Tìm
hiểu pháp luật Hoa Kỳ trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế khu vực và
thế giới” do TS Phạm Duy Nghĩa (2001) cùng một số nhà khoa học khác viết
(NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội). Vấn đề pháp luật hợp đồng theo pháp luật
Hoa Kỳ được nghiên cứu và so sánh với pháp luật Việt Nam, qua đó thấy

7
được đặc trưng cơ bản của giao kết hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ. Ngoài
ra, một số luận án, bài viết, một số sách và giáo trình khi viết về giao kết hợp
đồng theo pháp luật Việt Nam có so sánh với pháp luật các nước trong đó có
Hoa Kỳ, như luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Vũ Hoàng (2008) với đề tài
“Pháp luật Việt Nam về giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá với thương
nhân nước ngoài” hoặc sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt
Nam” của TS Nguyễn Ngọc Khánh (2007), NXB Tư pháp, Hà Nội…v.v.
Tuy nhiên, với phạm vi so sánh rộng hoặc chỉ dừng lại ở một số quy định
tiêu biểu nên hiện tại chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về so
sánh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ về giao kết hợp đồng. Đồng thời, tác giả
thấy một số phân tích so sánh về giao kết hợp đồng chưa rõ ràng hoặc còn
chung chung. Như vậy, để có cái nhìn tổng quan và chuyên sâu hơn về
chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam với pháp luật Hoa
Kỳ, tác giả hy vọng rằng bằng công sức đóng góp của mình sẽ giải quyết
được những vấn đề còn bỏ ngỏ trên.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài.
Như tác giả đã trình bày, mục tiêu để có cái nhìn tổng quan và cụ thể
hơn về chế định giao kết hợp đồng của pháp luật Việt Nam trên cơ sở nghiên
cứu so sánh pháp luật của Hoa Kỳ, nhận diện những mặt tiến bộ và phù hợp
của pháp luật Việt Nam để tiếp tục duy trì và phát huy, đồng thời kiến nghị,
đề xuất các điểm mới tiến bộ theo pháp luật Hoa Kỳ và vận dụng một cách
phù hợp trong điều kiện pháp luật Việt Nam hiện nay. 9
Chƣơng 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT HOA KỲ

1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật
Hoa Kỳ.
Ngay từ khoảng thế kỷ thứ V – IV trước công nguyên, thuật ngữ hợp
đồng (contractus) đã xuất hiện ở La Mã. Dần dần, qua quá trình phát triển
cùng các giao dịch thương mại, dân sự, thuật ngữ hợp đồng được thừa nhận
rộng rãi tại nhiều quốc gia. Theo đó, khái niệm về hợp đồng cũng có nhiều
quan điểm khác nhau. Ngày nay, dưới góc độ pháp luật, khái niệm hợp đồng
được đưa ra một cách đầy đủ hơn thể hiện đúng bản chất của nó. Tuy nhiên,
các thuật ngữ và sự kết hợp giữa chúng để đưa ra một khái niệm hợp đồng
theo pháp luật mỗi quốc gia có thể khác nhau mặc dù về bản chất có nhiều
điểm tương đồng. Dưới đây là quan niệm về hợp đồng theo pháp luật Việt
Nam và pháp luật Hoa Kỳ.
1.1.1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
Pháp luật hợp đồng Việt Nam trải qua các thời kỳ hình thành và phát
triển với các quan điểm và khái niệm khác nhau về hợp đồng. Pháp luật thời
kỳ Pháp thuộc qua các Bộ dân luật Nam Kỳ, Bắc Kỳ và Trung Kỳ hồi thế kỷ
thứ XIX, đầu thế kỷ XX đã xuất hiện khái niệm hợp đồng nhưng được diễn
đạt bằng tên gọi là hiệp ước và khế ước [15, tr. 28, 29]. Những năm từ 1945
đến năm 1959, quy định của ba bộ dân dân luật phong kiến nửa thực dân vẫn
được thừa nhận áp dụng theo Sắc Lệnh số 97/SL ngày 25/5/1950 của Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Chỉ đến năm 1959 với Chỉ thị số 772-CT/TATC ngày
10/7/1959 về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc và phong kiến thì khái

lao động. Do đó, khái niệm “hợp đồng dân sự” bao quát tất cả các loại hợp
đồng trong lĩnh vực đời sống sinh hoạt, kinh doanh, thương mại và lao

11
động.Vì vậy, khi nói đến hợp đồng nói chung, không gì khác hơn là nói đến
hợp đồng dân sự. Và khi nói đến loại hợp đồng cụ thể từ phạm vi một lĩnh
vực như sinh hoạt, tiêu dùng, thương mại, kinh doanh đến phạm vi hẹp hơn
nữa như hợp đồng cho thuê, hợp đồng gia công, hợp đồng mua bán…v.v. tất
nhiên sẽ dựa trên nền tảng là hợp đồng dân sự.
Đến đây, một lần nữa khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam
khẳng định xu hướng gần với khái niệm hợp đồng theo hệ thống dân luật
(civil law) có nguồn gốc từ hệ tư tưởng pháp lý Rô manh – Giéc manh nhưng
nó đã thể hiện đầy đủ hơn bản chất của hợp đồng, đó là sự thoả thuận giữa các
bên mà sự thoả thuận đó làm phát sinh quan hệ giữa các bên trong hợp đồng.
1.1.2. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ.
Pháp luật của Hoa Kỳ chưa bao giờ có sự tách biệt giữa cái gọi là “hợp
đồng kinh tế” hay “ hợp đồng dân sự” như từng diễn ra ở Việt Nam. Luật hợp
đồng của Hoa Kỳ được tiếp nhận từ luật hợp đồng của nước Anh trong dòng
chảy hệ thống thông luật (Commom law) được du nhập từ nước Anh sang
Hoa Kỳ nên mang những đặc điểm của pháp luật hợp đồng theo hệ thống
thông lệ. Cái gốc hình thành hợp đồng xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hoá
đơn giản giữa các bên. Nhưng sự trao đổi đơn giản hàng – hàng không có sự
hứa hẹn nghĩa vụ gì nên chưa thể coi là hợp đồng. Chỉ đến khi có sự trao đổi
mà ở đó đòi hỏi sự tín nhiệm giữa các bên trong các giao dịch liên quan đến
tiền tệ, các giao dịch không chỉ là hàng hoá mà còn là dịch vụ trong điều kiện
hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường.
Thuật ngữ hợp đồng (contract) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
theo pháp luật Hoa Kỳ. Đôi khi, nó được sử dụng với nghĩa thông dụng chỉ
đơn giản ám chỉ tới một văn bản chứa đựng những điều khoản mà ở đó các
bên chủ thể đã thoả thuận với nhau, nhưng thông thường thuật ngữ hợp đồng

13
Điểm khác biệt là quan điểm hợp đồng của Hoa Kỳ mang đặc điểm
chung của hệ thống luật thông lệ, trong khi quan điểm hợp đồng của luật Việt
Nam mang đặc điểm của hệ thống dân luật, nên trong một số trường hợp, theo
pháp luật nước này là hợp đồng mà pháp luật nước kia không được coi là hợp
đồng. Sự phân biệt này được nêu rõ ở những chương sau của luận văn này.
1.2. Khái niệm giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp
luật Hoa Kỳ.
1.2.1. Giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam chưa có một khái
niệm chính thức nào mà chỉ được nói tới như một giai đoạn của hợp đồng mà
ở đó pháp luật quy định những điều kiện cần phải có để hình thành hợp đồng.
Có thể hiểu giao kết hợp đồng là giai đoạn thiết lập mối liên hệ pháp lý giữa
các chủ thể trong quan hệ trao đổi [8, tr. 198]. Các quy định của pháp luật về
giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo tính phù hợp và an toàn pháp lý cho các bên
tham gia giao kết, hướng dẫn xử sự của các chủ thể trong quá trình giao kết và
thiết lập quan hệ hợp đồng hợp pháp.
Giao kết hợp đồng cũng là quá trình tạo ra một hợp đồng mà ở đó có sự
thể hiện ý chí của các chủ thể trong thoả thuận. Bắt đầu quá trình giao kết là
đề nghị giao kết và kết thúc là chấp nhận đề nghị giao kết. Quá trình này phải
đảm bảo đầy đủ những yếu tố về hình thức và nội dung hợp đồng cũng như
những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thì mới thực sự hình thành được
một hợp đồng.
Giao kết hợp đồng gồm bốn đặc trưng: Là quá trình tuyên bố ý chí của
các chủ thể trong giao dịch; Chủ thể đầy đủ năng lực để giao kết hợp đồng;
Thống nhất ý chí của các bên về nội dung cần trao đổi và giao kết hợp đồng
được xác lập dưới hình thức nhất định.
1.2.2. Theo quan niệm truyền thống pháp luật thông lệ cũng như pháp
luật Hoa Kỳ, vấn đề giao kết hợp đồng (contract formation) liên quan đến các

14

Kỳ và Bộ luật dân sự Việt Nam cho thấy sự khác biệt này. Tuy nhiên, pháp
luật Hoa Kỳ rất phong phú và đa dạng, vì bên cạnh tuyển tập những án lệ, còn
có những văn bản thành văn do Quốc hội Mỹ ban hành, thêm vào đó, những
án lệ tỏ ra lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của Mỹ cũng như trong giao dịch quốc tế đã được điều chỉnh cho phù hợp.
Nhìn chung, pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt
Nam và pháp luật Hoa Kỳ mang tính linh hoạt và phong phú đa dạng nhưng
thể hiện đặc trưng riêng theo pháp luật mỗi nước. Để thấy được sự so sánh
tổng quát như trên, dưới đây là phần trình bày các quy định của pháp luật Hai
nước về giao kết hợp đồng.
1.3.2. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam.
Pháp luật điều chỉnh hợp đồng nói chung, giao kết hợp đồng nói riêng
theo pháp luật Việt Nam được quy định khá rõ ràng và cụ thể bằng các văn
bản quy phạm pháp luật. Qua các thời kỳ phát triển, luật hợp đồng của Việt
Nam hiện hành đã đạt được những thành tựu quan trọng và đóng vai trò trọng
tâm trong pháp luật dân sự Việt Nam. Dưới đây là sự điều chỉnh của các văn
bản pháp luật liên quan đến giao kết hợp đồng.
1.3.1.1. Bộ luật dân sự năm 2005.
Bộ luật dân sự năm 2005 được thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
điều chỉnh các quan hệ dân sự, trong đó nổi bật và trọng tâm là chế định về
hợp đồng. Đóng vai trò quan trọng trong chế định hợp đồng là phần các quy
định về giao kết hợp đồng gồm 26 điều (từ Điều 388 đến Điều 411), mở đầu
cho các quy định về hợp đồng dân sự. Bộ luật dân sự điều chỉnh giao kết hợp
đồng qua việc quy định các nguyên tắc cơ bản của giao kết hợp đồng, những
nội dung liên quan đến đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp
đồng, hình thức hợp đồng dân sự, nội dung hợp đồng dân sự, vấn đề hiệu lực

16
của hợp đồng dân sự. Đó là các quy định này mang tính điều chỉnh chung cho
các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn giao kết. Ngoài ra, Bộ luật còn có quy

đồng trong Bộ luật dân sự năm 2005 đóng vai trò định hướng nguyên tắc
trong việc điều chỉnh các quan hệ giao kết hợp đồng nói chung cũng như từng
hợp đồng cụ thể cho phù hợp với đặc thù của loại hợp đồng dân sự đó. Tuy
nhiên, sự áp dụng của Bộ luật dân sự mang tính linh hoạt mà không áp đặt
hay loại trừ sự áp dụng của luật chuyên ngành, điều đó thể hiện ở việc luật
chuyên ngành có quy định điều chỉnh về một trường hợp cụ thể thì phải áp
dụng quy định của luật chuyên ngành đó. Ngược lại, nếu luật chuyên ngành
không có quy định thì áp dụng Bộ luật dân sự.
1.3.3. Pháp luật điều tiết giao kết hợp đồng theo pháp luật Hoa Kỳ.
1.3.2.1. Tuyển tập về luật hợp đồng (Restatements of contracts).
Thế kỷ thứ 19 được coi là thời điểm phát triển các học thuyết, tư tưởng
và hệ thống hoá các quy định của luật hợp đồng ở Hoa Kỳ. Sự phát triển này
thể hiện ở các chuyên luận và các bộ tuyển tập các án lệ về hợp đồng
(restatement of contracts). Tuyển tập luật hợp đồng là một trong những công
trình của Viện nghiên cứu luật Hoa Kỳ thể hiện sự cố gắng trình bày chính
xác những quyết định của Toà án có độ dung hoà cao nhất và có thể được áp
dụng bởi các toá án của các bang của Hoa Kỳ [ 17, tr. 325, 326]. Tuyển tập
quan tâm nhiều đến các nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng cũng như
vấn đề hiệu lực của hợp đồng.
Tuyển tập hợp đồng đầu tiên được hoàn thành vào năm 1932. Năm
1981, tuyển tập hợp đồng lần thứ hai được xuất bản với một số thay đổi và bổ
sung so với tuyển tập năm 1932, đặc biệt là việc bổ sung những ngoại lệ của
chế định nghĩa vụ đề bù (consideration), hạn chế rút lại lời hứa. Nhìn chung,
tuyển tập lần hai có nhiều đối mới và được quy định chi tiết hơn so với tuyền
tập lần đầu [19, p 55]. Những nội dung chính liên quan đến giao kết hợp đồng
được thể hiện trong tuyển tập như chế định về lời hứa, đề nghị và chấp nhận
đề nghị, hiệu lực của hợp đồng tuy không mang giá trị như các quy định của
pháp luật thành văn tại các nước theo hệ thống dân luật nhưng lại có thể được

18


19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1

Qua phân tích, so sánh những vấn đề chung về giao kết hợp đồng theo
pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ có thể rút ra được những điểm chính
sau đây:
1. Khái niệm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ
đều có chung bản chất là sự thoả thuận giữa các bên tham gia giao kết hợp
đồng. Nhưng pháp luật Việt Nam sử dụng thuật ngữ “hợp đồng dân sự” để
nói về khái niệm hợp đồng trong khi pháp luật Hoa Kỳ cũng như nhiều nước
khác chỉ sử dụng thuật ngữ hợp đồng (contract).
2. Chế định giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam và pháp luật
Hoa Kỳ đều điều chỉnh tập trung vào những vấn đề liên quan đến đề nghị và
chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, hiệu lực của hợp đồng.
3. Nếu như pháp luật Việt Nam điều chỉnh giao kết hợp đồng bằng các
nguồn pháp luật thành văn của cơ quan lập pháp, hành pháp thì pháp luật Hoa
Kỳ điều chỉnh giao kết hợp đồng chủ yếu bằng các nguồn án lệ của toà án.
Các quy phạm pháp luật thành văn chỉ đóng vai trò thứ yếu và điều chỉnh
trong một số lĩnh vực nhất định.
4. Hệ thống pháp luật Việt Nam là pháp luật thống nhất của một quốc
gia khác với pháp luật Hoa Kỳ có sự phân biệt giữa pháp luật liên bang và
tiểu bang. Tại Hoa Kỳ, lĩnh vực pháp luật hợp đồng mang tính tiểu bang
hơn là liên bang. Pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng theo pháp luật
Việt Nam thể hiện mối liên hệ giữa luật chung và luật chuyên ngành cũng
như luật chuyên biệt còn pháp luật Hoa Kỳ điều chỉnh giao kết hợp đồng
thể hiện mới liên hệ giữa pháp luật liên bang và tiểu bang, giữa pháp luật
thành văn và án lệ.
21
các bên một cách hợp pháp. Ở một vài khía cạnh, thoả thuận là một thuật ngữ
rộng hơn so với hợp đồng, sự thương lượng hay lời hứa. Nó bao trùm các giao
dịch mua bán, tặng cho và các chuyển giao tài sản khác [22, § 2].
Bộ luật thương mại thống nhất Hoa Kỳ định nghĩa thoả thuận là sự phân
biệt so với hợp đồng để thể hiện sự thương lượng giữa các bên trong thực tế,
được thiết lập theo ngôn ngữ của họ hoặc được suy ra từ hoàn cảnh bao gồm
quá trình thực hiện, giải quyết hợp đồng hoặc theo tập quán thương mại theo
quy định của Bộ luật này [23, § 1- 201 (3)]. Theo pháp luật Hoa Kỳ, thoả thuận
giữa các bên phải hợp pháp mới được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Như vậy, pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ đều thừa nhận thoả
thuận là yếu tố cơ bản của hợp đồng, thể hiện bản chất của hợp đồng, qua đó
thể hiện sự thống nhất ý chí của các bên. Về cơ bản, những yêu cầu của thoả
thuận làm phát sinh hiệu lực hợp đồng theo pháp luật hai nước cũng có
nhiều quan điểm tương đồng nhau. Quan điểm về sự thoả thuận chính vì vậy
mà có thể phân biệt được với hợp đồng. Thoả thuận không đồng nghĩa với
hợp đồng, nhưng hợp đồng thì đương nhiên là thoả thuận, vì hợp đồng bao
hàm sự thoả thuận. Sự thoả thuận chỉ được coi là hợp đồng nếu nó có đầy đủ
những yếu tố cơ bản của hợp đồng.
2.2. Các thành tố của sự thoả thuận.
Thoả thuận gồm hai yếu tố cấu thành, đó là đề nghị giao kết hợp đồng
và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mà nếu thiếu một trong hai yếu tố
này sẽ không tồn tại một thoả thuận theo đúng nghĩa pháp lý của nó. Dưới
đây là những vấn đề cơ bản về các thành tố đó.
2.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng.
2.2.1.1. khái niệm, bản chất đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp
luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ.
Nếu như giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý của hai hay nhiều chủ
thể với nhau thì đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương


23
luật hai nước đều cho phép nhận diện và phân biệt với các lời mời giao kết
hợp đồng sẽ được trình bày ở mục 2.2.1.2 dưới đây.
2.2.1.2. Điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng là bước đầu tiên trong việc tạo ra mối quan
hệ pháp lý giữa các bên chủ thể giao kết. Vì ý nghĩa quan trọng như vậy nên
pháp luật các nước đều đưa các yêu cầu cũng như điều kiện đối với một đề
nghị giao kết hợp đồng.
Theo pháp luật Việt Nam, chưa có điều luật cụ thể nào nói về điều
kiện của đề nghị giao kết hợp đồng, nhưng xuất phát từ khái niệm đề nghị
giao kết hợp đồng như đã trình bày tại mục trên cho thấy đề nghị giao kết
hợp động phải có những điều kiện cơ bản sau đây:
- Thứ nhất, đề nghị giao kết hợp đồng phải là sự thể hiện rõ ý định
giao kết hợp đồng.
- Thứ hai, bên đề nghị thể hiện ý chí muốn ràng buộc về đề nghị đối
với bên được đề nghị;
- Thứ ba, đề nghị phải được gửi tới đối tượng xác định cụ thể.
Theo pháp luật Hoa Kỳ, đề nghị giao kết hợp đồng phải đảm bảo
những điều kiện như: đề nghị phải thể hiện ý định giao kết hợp đồng một
cách nghiêm túc; đề nghị giao kết hợp đồng phải có tính xác định, và đề nghị
giao kết phải được truyền đạt tới bên được đề nghị cụ thể. Như vậy, ở
phương diện chung, pháp luật Hoa Kỳ và pháp luật Việt Nam có điểm chung
về điều kiện để coi một trường hợp là đề nghị giao kết hợp đồng. Dưới đây
là các khía cạnh cụ thể về các điều kiện của đề nghị giao kết hợp đồng theo
pháp luật hai nước:
Điều kiện thể hiện ý định giao kết hợp đồng.
Đề nghị giao kết hợp đồng phải thể hiện rõ ý định của bên đề nghị đối
với bên được đề nghị về việc muốn được giao kết hợp đồng. Nhưng mức độ
thể hiện rõ ràng ý định đó như thế nào thì pháp luật thực định của Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status