Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam Luận văn ThS. Luật - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUÁCH THỊ MINH PHƢỢNG THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số : 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỒNG NGỌC BA
HÀ NỘI - 2009 1
MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC THANH
LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

7
1.1.
Khái niệm tình trạng phá sản
7
1.2.

43
3.2.
Giải pháp đảm bảo hiệu quả thực thi quy định về thủ tục thanh
lý tài sản phá sản
55
KẾT LUẬN
61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
64 2
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự chủ trong kinh doanh của các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được pháp luật tôn trọng và bảo
vệ. Quyền tự chủ trong kinh doanh hay nói cách khác là quyền tự do kinh
doanh được thể hiện ở: quyền tự do thành lập doanh nghiệp; quyền được lựa
chọn lĩnh vực ngành nghề, quy mô và phạm vi kinh doanh; quyền lựa chọn
sản phẩm, hàng hoá dịch vụ để sản xuất, cung ứng; quyền lựa chọn phương
thức huy động vốn, lựa chọn đối tác trong kinh doanh; quyền tự do lựa chọn
cơ quan giải quyết tranh chấp; quyền tự do cạnh tranh… Tuy nhiên, đi kèm
với quyền tự chủ rộng rãi trong kinh doanh là nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về chất lượng sản phẩm, hàng
hoá; dịch vụ và độc lập thực hiện các nghĩa vụ tài sản phát sinh như nghĩa vụ
nộp thuế, nghĩa vụ thanh toán nợ. Quyền tự chủ trong kinh doanh, một mặt tạo

So với tình hình thực hiện Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993, tình
hình thụ lý và giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật
Phá sản năm 2004 đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn; hiệu quả
giải quyết việc phá sản ở các cấp Tòa án vẫn chưa đạt được kết quả đáng kể.
Theo báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao, từ khi Luật Phá sản có
hiệu lực cho đến cuối năm 2008, đã có 195 vụ phá sản đuợc thụ lý. Tình hình
thụ lý và giải quyết đơn yêu cầu giải quyết phá sản như sau:
- Năm 2005, toàn ngành tòa án thụ lý mới 11 vụ. Năm 2004 chuyển
qua 3 vụ, tổng cộng 14 vụ. Tòa án đã giải quyết được 01 vụ (chiếm 7,14%);
- Năm 2006, toàn ngành tòa án thụ lý mới 40 vụ. Năm 2005 chuyển
qua 13 vụ, tổng cộng 53 vụ. Tòa án đã giải quyết được 16 vụ (chiếm 30,2%);
- Năm 2007, toàn ngành tòa án đã thụ lý mới 144 vụ, trong đó, Tòa án
nhân dân cấp tỉnh thụ lý 120 vụ, Tòa án nhân dân cấp huyện thụ lý 24 vụ; 31
vụ chuyển qua từ năm 2006, tổng cộng là 175 vụ. Trong đó, Tòa án đã ra 4
quyết định mở thủ tục phá sản 164 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản
10 vụ, quyết định trả lại đơn 01 vụ. Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết
xong tất cả 24 vụ đã thụ lý (đều ra quyết định tuyên bố phá sản), đạt 100%.
Còn lại 151 vụ phá sản do Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý được giải quyết cụ
thể: quyết định trả lại đơn 01 vụ, quyết định không mở thủ tục phá sản 10 vụ,
quyết định tuyên bố phá sản theo thủ tục đặc biệt 40 vụ, quyết định đình chỉ
thủ tục phá sản 10 vụ, quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản 75 vụ, còn tồn lại
51 vụ chuyển qua năm 2008 và đang được giải quyết.
Theo phản ánh của Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án, cơ quan thi
hành án dân sự địa phương thì việc giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản đối
với doanh nghiệp còn gặp khó khăn, kéo dài là do nhiều nguyên nhân, nhưng
trước hết là xuất phát từ không chỉ những hạn chế của Luật Phá sản năm 2004
mà còn từ các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản liên quan [2, tr.3, 4].

quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản trong trường hợp đặc biệt. Phải
chăng còn nhiều vướng mắc liên quan đến các quy định của pháp luật phá sản
về thủ tục thanh lý tài sản phá sản? Đó cũng chính là lý do khiến tác giả lựa
chọn đề tài: "Thanh lý tài sản phá sản theo pháp luật Việt Nam" với hy
vọng sẽ phần nào làm rõ và định hướng cụ thể để tháo gỡ những vướng mắc
do các quy định pháp luật hiện hành mang lại, góp phần đưa thủ tục phá sản
doanh nghiệp đi vào đời sống kinh doanh của các doanh nghiệp như một thủ
tục “khai tử” cho những doanh nghiệp yếu kém, tạo cơ hội “khai sinh” những
doanh nghiệp mới với tiềm lực mới, góp phần đẩy nhanh sự phát triển kinh tế
của Việt Nam, thay vì thực tế các doanh nghiệp muốn “chết” mà cũng không
“chết” nổi như hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là những vấn đề khái quát nhất về thủ tục thanh lý
tài sản phá sản - một trong ba thủ tục của quá trình phá sản doanh nghiệp.
Những khái niệm về tình trạng phá sản theo quan niệm của một số nước trên
thế giới cũng như pháp luật Việt Nam; nghiên cứu các bước cần có khi tiến 6
hành thủ tục thanh lý tài sản phá sản và mối quan hệ của thủ tục thanh lý tài
sản phá sản với các thủ tục khác trong thủ tục phá sản nói chung. Từ đó, phân
tích những quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài
sản phá sản về điều kiện; về cách thức xử lý tài sản; thanh lý tài sản đến quyết
định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản phá sản; trên cơ sở đó đưa ra những tác
động của thủ tục này tới toàn bộ quá trình giải quyết phá sản cho một doanh
nghiệp. Đưa ra các yêu cầu để hiện thực hóa các quy định pháp luật về vấn đề
này vào cuộc sống – hướng tới những giải pháp cụ thể để góp phần thực thi có
hiệu quả quy định pháp luật Việt Nam về thủ tục thanh lý tài sản phá sản nói
riêng, khả thi hóa các quy định về phá sản nhằm tạo môi trường kinh doanh
và động lực mới cho phát triển kinh tế.

5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được bố cục thành 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thủ tục thanh lý tài sản phá sản
Chương 2: Thanh lý tài sản phá sản theo quy định của pháp luật Việt
Nam hiện hành
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo hiệu quả thực thi quy định
về thủ tục thanh lý tài sản phá sản

8
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
THỦ TỤC THANH LÝ TÀI SẢN PHÁ SẢN

1.1. KHÁI NIỆM TÌNH TRẠNG PHÁ SẢN
Về mặt ngữ nghĩa, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng
Latin để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp
mà biểu hiện trực tiếp là không còn khả năng thanh toán các khoản nợ đến
hạn. Tại Việt Nam, từ thời xa xưa, người dân quen dùng từ “vỡ nợ”,
“khánh tận” để chỉ tình trạng làm ăn thua lỗ của chủ thể kinh doanh. Mỗi
quốc gia khác nhau trên thế giới đều có các tiêu chí khác nhau về điều kiện
cũng như thời điểm xác định tình trạng phá sản của một doanh nghiệp.
Việc xác định thời điểm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản có ý
nghĩa quan trọng vì nó xác định sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình
phá sản sớm hay muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích
của ai nhiều hơn: chủ nợ hay con nợ [32].
Nghiên cứu pháp luật nhiều nước cho thấy, hiện nay có hai loại tiêu chí

cầu giải quyết tuyên bố phá sản để Tòa án đánh giá tổng số nợ và tổng tài sản
của con nợ như danh sách chủ nợ kèm theo số nợ, báo cáo về tình trạng tài
chính, tài sản và khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp mắc nợ Khái
niệm phá sản trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 còn gắn với lý do
khó khăn, thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc lý do bất khả kháng. Với
việc đưa ra khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như vậy đã
gây không ít khó khăn cho các chủ nợ trong việc chứng minh tình trạng thua
lỗ trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mắc nợ. Vì chủ nợ chỉ có thể
chứng minh là con nợ đã chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ, còn vì sao
con nợ chậm thanh toán thì chủ nợ có thể không biết mà cũng không cần phải
biết. Những thông tin này thuộc phạm vi bí mật kinh doanh của doanh nghiệp
mắc nợ và chỉ có thể xác định trên cơ sở sổ sách kế toán của doanh nghiệp.
Điều này hoàn toàn ngoài khả năng của chủ nợ. 10
Luật Phá sản năm 2004 quy định tại Điều 3: “Doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được các
khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu”. Như vậy, để bị xem là lâm vào tình
trạng phá sản, doanh nghiệp phải đồng thời hội đủ hai điều kiện cơ bản: điều
kiện cần là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn và điều kiện đủ là
khi chủ nợ chính thức có đơn yêu cầu thanh toán khoản nợ đó, bất luận giá trị
khoản nợ đó là bao nhiêu. Tình trạng phá sản là tình trạng không có khả năng
thanh toán được các khoản nợ đến hạn, do đó có thể dẫn tới một hệ quả rằng
bản án phá sản là bản án xác nhận một tình trạng đã có sẵn. Khi xét một
doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật Việt Nam đã không xét
đến lý do không thanh toán được các khoản nợ đến hạn; không xét đến thời
hạn quá hạn thanh toán là bao lâu; không yêu cầu giá trị khoản nợ không có
khả năng thanh toán là bao nhiêu; không yêu cầu có bao nhiêu chủ nợ; mà chỉ
cần doanh nghiệp đó có khoản nợ đến hạn phải thanh toán; có việc chủ nợ yêu

có thể tuyên phá sản ngay hay còn cần áp dụng thủ tục pháp lý khác đồng thời
nó xác định việc áp dụng các biện pháp bảo toàn, quản lý tài sản có lợi nhất
cho chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ. Tài sản phá sản bao gồm tài sản có và tài
sản nợ của doanh nghiệp (tài sản phát sinh trong quá trình doanh nghiệp thực
hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tài sản phát sinh trong giai đoạn
thanh lý tài sản; tài sản thu hồi được từ các giao dịch vô hiệu do doanh nghiệp
thực hiện trong khoảng thời gian nhất định trước ngày Tòa án thụ lý đơn yêu
cầu mở thủ tục phá sản). Với mỗi quốc gia khác nhau thì nguyên tắc và cách
thức để xác định khối tài sản phá sản lại mang những nét riêng biệt.
Pháp luật về phá sản của Cộng hòa Liên bang Nga đã quy định về việc
định giá khối tài sản phá sản như sau:
“1. Tất cả các tài sản (phần có) của người mắc nợ thể hiện trong bảng
cân đối kế toán hoặc các tài liệu kế toán thay thế là cơ sở để xác định tài sản 12
phá sản. Trong tài sản phá sản còn bao gồm các đối tượng thuộc lĩnh vực
công cộng và xã hội nằm trong bảng cân đối của người mắc nợ, trừ quỹ nhà
ở, các trường mẫu giáo và các công trình sản xuất và hạ tầng quan trọng đối
với đời sống của khu vực, cần được đưa vào bảng cân đối của các cơ quan tự
quản ở địa phương hoặc cơ quan quyền lực nhà nước hữu quan, nếu pháp
luật của Liên bang Nga không có quy định khác;
2. Trong quá trình thanh lý tài sản, nhân viên thanh lý tài sản, với sự giúp
đỡ của các giám định viên được trưng cầu, tiến hành kiểm kê và định giá tài sản
(phần có) của người mắc nợ và nghĩa vụ (phần nợ) của người mắc nợ ;
3. Việc định giá tài sản (phần có) của người mắc nợ cấu thành tài sản
phá sản được tiến hành theo trình tự do pháp luật Liên bang Nga quy định.
4. Tài sản phá sản không bao gồm tài sản (phần có) là vật bảo đảm.
5. Tài sản phá sản không bao gồm tài sản không thuộc quyền sở hữu của
người mắc nợ, trong đó có tài sản do người mắc nợ thuê; tài sản mà người mắc

những tài sản nợ và tài sản có của doanh nghiệp. Tài sản nợ gồm những nghĩa
vụ về tài sản của doanh nghiệp với các chủ nợ khác trong quá trình giải quyết
phá sản phát sinh trong các giao dịch của doanh nghiệp với khách hàng, với
nhà nước, với người lao động Tài sản có của doanh nghiệp gồm tài sản hiện
có của doanh nghiệp tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản (tài sản nằm rải rác ở nhiều phạm vi lãnh thổ khác nhau); các tài sản mà
doanh nghiệp sẽ có do việc thực hiện giao dịch xác lập trong quá trình Tòa án
tiến hành các thủ tục phá sản doanh nghiệp; các tài sản là vật bảo đảm các
khoản nợ của doanh nghiệp; tài sản dân sự của chủ doanh nghiệp tư nhân
hoặc thành viên hợp danh của Công ty hợp danh. Tài sản phá sản của doanh
nghiệp có thể ở các dạng khác nhau như: tài sản hữu hình thuộc sở hữu của
doanh nghiệp; các khoản nợ của các chủ thể khác mà doanh nghiệp phải thu
hồi; các quyền về tài sản, phần sở hữu trong khối tài sản chung, các khoản 14
đầu tư, hợp tác liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân khác. Việc thu hồi tài
sản phá sản là một nhiệm vụ quan trọng và có ý nghĩa lớn trong quá trình
thanh lý tài sản phá sản. Thông thường, việc thu hồi tài sản thuộc về một cơ
quan (Tổ quản lý, thanh lý tài sản). Việc thu hồi này chỉ diễn ra sau khi có
quyết định áp dụng thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp. Bên cạnh việc thu
hồi tài sản phá sản, pháp luật còn xác định việc thu hồi các tài liệu, sổ sách kế
toán và con dấu của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Khi phát hiện
tài sản của doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản bị áp dụng thủ tục thanh
lý tài sản đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp trong khi thực hiện các giao
dịch bị coi là vô hiệu thì Tổ quan lý, thanh lý tài sản phải đề nghị Thẩm phán
phụ trách vụ việc ra quyết định thu hồi lại.
1.2.2. Xử lý tài sản phá sản
Xử lý tài sản phá sản là việc bán tài sản phá sản sau khi hoàn tất việc
thu hồi tài sản phá sản của doanh nghiệp. Việc bán tài sản của doanh nghiệp

các chủ nợ với con nợ. Khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản đồng nghĩa
với việc món nợ phải trả nhiều hơn khả năng thanh toán nợ của doanh
nghiệp. Trong hoàn cảnh như vậy, việc chủ nợ nào được ưu tiên thanh toán
trước, chủ nợ nào phải xếp hàng sau là vấn đề mà pháp luật phá sản nước
nào cũng phải quan tâm giải quyết. Các chủ nợ luôn luôn có mối quan tâm
đặc biệt về vấn đề này vì thứ tự đó ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích chính
đáng của họ. Về cơ bản, thứ tự thanh toán từ tài sản phá sản của con nợ
được quy định như sau:
- Các chủ nợ được ưu tiên trên hết. Nhóm này gồm có chủ nợ có bảo
đảm là quan trọng nhất và do đó, được ưu tiên nhất trong quá trình phân chia
tài sản. Theo thông lệ, các chủ nợ có bảo đảm được thanh toán đầy đủ khoản
tiền mà doanh nghiệp phá sản còn thiếu. Trong trường hợp giá trị tài sản còn
lại của doanh nghiệp không đủ để chi trả hết các khoản nợ của các chủ nợ có
bảo đảm thì số tài sản này sẽ được chia cho các chủ nợ có đảm bảo theo tỷ lệ 16
giữa khoản nợ của họ và tổng số tiền mà doanh nghiệp phá sản nợ các chủ nợ
có đảm bảo;
- Các chủ nợ được ưu tiên khác bao gồm tổ chức và cá nhân được
hưởng các chi phí giải quyết phá sản; thuế, tiền công, tiền lương cho người
lao động và các chi phí khác;
- Các chủ nợ được thanh toán theo tỷ lệ. Thông thường, nhóm chủ nợ
này bao gồm các chủ nợ không có đảm bảo của doanh nghiệp phá sản;
- Các chủ nợ được trả chậm, bao gồm người cho vay có thứ tự thanh
toán sau cùng trong một hợp đồng vay hợp vốn (syndicated loan);
- Cổ đông của công ty cổ phần bị phá sản;
Luật phá sản ở một số nước, trong đó có Việt Nam có xu hướng ưu tiên
bảo vệ chủ nợ là người lao động. Thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản đã xếp
người lao động vào hàng ưu tiên đứng trên các loại chủ nợ thông thường

hồi (Điều 78 Luật Phá sản năm 2004). Trong trường hợp đặc biệt, sau khi mở
thủ tục phá sản mà Tòa án xác định được rằng, doanh nghiệp không còn tài
sản để nộp tiền tạm ứng phí phá sản hoặc tài sản còn lại của doanh nghiệp
không đủ để thanh toán phí phá sản thì Tòa án có thể tuyên bố phá sản ngay
mà không cần phải tiến hành bất cứ một thủ tục nào khác (Điều 87 Luật Phá
sản năm 2004). Căn cứ để Tòa án ra quyết định áp dụng thủ tục phục hồi là
nghị quyết của Hội nghị chủ nợ về việc Hội nghị chủ nợ đã đồng ý với các
giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh, kế hoạch thanh toán nợ cho các
chủ nợ mà doanh nghiệp đề xuất (khoản 1 Điều 68 Luật Phá sản năm 2004).
Thủ tục phục hồi chính thức được thực hiện nếu Hội nghị chủ nợ thông qua
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp hoặc bất kỳ chủ
nợ, người nhận nghĩa vụ phục hồi đệ trình và phương án này đã được Thẩm
phán ra quyết định công nhận (Điều 71 và Điều 72 Luật Phá sản năm 2004).
Trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi, nếu doanh nghiệp thực hiện không 18
đúng hoặc không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh
thì Tòa án cũng có thể quyết định chuyển từ thủ tục phục hồi sang áp dụng
thủ tục thanh lý tài sản (khoản 3 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004). Ngoài ra,
thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp có thể được áp dụng trong trường
hợp Hội nghị chủ nợ không thành (Điều 79 Luật Phá sản năm 2004); hoặc
doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động sản xuất,
kinh doanh (khoản 1 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004); hoặc trong trường hợp
Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 80 Luật Phá sản năm 2004).
Theo truyền thống, tuyên bố doanh nghiệp phá sản là tiền đề pháp lý cho việc
thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Có nghĩa là phải tuyên bố phá sản với
doanh nghiệp sau đó mới có lý do để thanh lý tài sản của doanh nghiệp –
chuyển hóa khối tài sản thành tiền và thực hiện việc phân chia số tiền thu

tuyên bố phá sản thì thủ tục phá sản sẽ gọn nhẹ và hợp logic hơn. Thanh lý tài
sản có thể có hoặc có thể không nhưng tuyên bố phá sản là một trong những
mục tiêu chính của thủ tục phá sản (khi doanh nghiệp không thể phục hồi).
1.4. LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA QUY ĐỊNH VỀ THỦ TỤC THANH LÝ
TÀI SẢN PHÁ SẢN
Trước hết phải khẳng định rằng, phá sản ra đời và tồn tại trong những
điều kiện kinh tế - xã hội nhất định. Chỉ khi phá sản trở thành hiện tượng bình
thường, phổ biến thì pháp luật mới điều chỉnh tới. Và chính điều kiện của một
nền kinh tế thị trường với những đặc trưng của nó đã tạo ra tính phổ biến của
phá sản. Nền kinh tế thị trường công nhận quyền tự do kinh doanh của mỗi
công dân và coi đó là một trong số các quyền cơ bản của công dân. Nội dung
cơ bản nhất của quyền này là quyền tự do cạnh tranh của các chủ thể kinh
doanh (trong khuôn khổ pháp luật) nhằm giành dật thị trường, khách hàng
hướng tới lợi nhuận cho bản thân trong cuộc cạnh tranh khốc liệt. 20
Ở châu Âu, khi nói đến phá sản doanh nghiệp là người ta thường dùng
từ “Bankrupcy” hoặc “Banqueroute”. Hai danh từ này bắt nguồn từ chữ
“Banca Rotta” của La Mã có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy”. Thời đó, các thương
gia của một thành phố thường họp nhau lại và người nào không trả được nợ
thường bị bắt làm nô lệ và mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và do
đó, chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường. Do đó, ở La Mã
thời đó có nhiều con nợ thấy rằng nếu không trả được nợ thì “chuồn là hơn”,
nên họ thường bỏ trốn. Để ổn định trật tự xã hội, Nhà nước La Mã phải đứng
ra cưỡng chế tài sản của con nợ để trả cho chủ nợ. Cách làm này cũng thích
hợp đối với trường hợp con nợ chỉ mắc nợ một người. Nhưng khi cùng một
lúc con nợ phải trả cho nhiều chủ nợ thì rất dễ xảy ra tranh chấp. Bởi thế,
người ta thấy rằng, nếu để các chủ nợ đều được đảm bảo trả nợ một cách
công bằng, hợp lý, tốt nhất là tòa án địa phương (nơi con nợ cư trú) đứng ra

khái niệm phá sản hầu như không có. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung, do kiểm soát và định đoạt mọi nguồn lực sản xuất, Nhà nước trở thành
một xí nghiệp khổng lồ. Các đơn vị kinh doanh không có động lực để cạnh
tranh, sự tồn tại của chúng được duy trì theo ý chí của Nhà nước. Kinh tế bao
cấp không cần tới luật phá sản. Khi chuyển đổi nền kinh tế sang nền kinh tế
thị trường thì vấn đề phá sản và giải quyết phá sản mới được đặt ra. Cùng với
sự gia nhập của đầu tư nước ngoài, sự nới lỏng tự do kinh doanh cho tư nhân,
môi trường cạnh tranh tái xuất hiện và trở nên găy gắt nhanh chóng ngay trên
thị trường nội địa. Vai trò của nhà nước với tư cách là một chủ đầu tư chịu
trách nhiệm hữu hạn trong các doanh nghiệp nhà nước mới dần hiện rõ. Khi
tự do kinh doanh và cạnh tranh tái xuất hiện, nhu cầu điều tiết vỡ nợ các đơn
vị kinh doanh vốn thuộc quyền quản lý nhà nước mới trở nên cấp bách. Đáng
chú ý là nhu cầu điều chỉnh cấp bách bậc nhất của pháp luật phá sản trong các
quốc gia chuyển đổi chính là các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hàng loạt khi
bước vào cạnh tranh với một tư thế thiếu năng động so với khu vực kinh tế tư
nhân và tư bản nước ngoài. Ngày 30/12/1993, Quốc hội đã thông qua Luật 22
Phá sản doanh nghiệp. Vào thời điểm ban hành đạo luật đầu tiên về phá sản
của Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước là đối tượng được đặc biệt quan tâm
trong chính sách đổi mới. Bởi vậy, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993
được thiết kế với trọng tâm đặt vào việc tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước.
Triết lý cơ bản của Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 phản ánh tư tưởng
và chính sách kinh tế được du nhập từ kinh nghiệm của những nền kinh tế
chuyển đổi chứ chưa phải từ những nền kinh tế thị trường lâu đời. Hậu quả
của việc còn quá nhiều điểm bất hợp lý, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993
đã không phát huy được tác dụng. Sự thay đổi và phát triển của kinh tế - xã
hội đòi hỏi phải sửa đổi hoặc ban hành một luật mới. Do vậy, ngày 15/6/2004,
Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Phá sản thay thế Luật phá

- Chủ doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp
không tham gia Hội nghị chủ nợ mà không có lý do chính đáng;

Trích đoạn Xử lý tài sản là quyền sử dụng đất Chủ thể có trách nhiệm thi hành thủ tục thanh lý tài sản phá sản Thứ tự thanh toán tài sản phá sản Quyền lợi của người lao động Xử lý các khoản nợ dân sự của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh trong Công ty hợp danh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status