NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH. - Pdf 28

A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH.
I. Đặc điểm của công tác giải quyết án Hôn nhân gia đình
Qua thống kê, tổng kết hàng năm cho thấy khối lượng công việc về án Hôn nhân gia đình
chiếm một nữa số án kiện mà Tòa án nhân dân phải giải quyết. Ngoài ra, tính chất phức tạp trong
quan hệ Hôn nhân và gia đình ngày càng tăng dẫn đến việc giải quyết án dân sự ngày càng phức
tạp hơn.
Tính chất phức tạp trong quan hệ hôn nhân và gia đình cũng được thể hiện trong các văn
bản pháp luật về Hôn nhân và gia đình ban hành sau thì số lượng điều luật ngày càng nhiều hơn.
Ví dụ: Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chỉ có 57 điều luật, thì Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 số điều luật đã tăng lên 110 điều. Điều đó chứng tỏ rằng quan hệ Hôn nhân và gia đình
ngày càng yêu cầu pháp luật phải điều chỉnh chi tiết hơn, cụ thể hơn.
Thực tiễn cống tác xét xử án Hôn nhân và gia đình thể hiện rõ điều này. Trong số các vụ
án khiếu nại bức xúc kéo dài, mà Tòa án nhân dân tối cao phải đang cùng với vụ dân nguyện trình
Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét thì có 03 trong 04 vụ phải tường trình cụ thể là án Hôn nhân
và gia đình. Tính chất phức tạp của án Hôn nhân và gia đình ngày càng tăng, sự quan tâm của xã
hội, của báo chí đối với loại án kiện này ngày càng nhiều hơn.
Tòa án nhân dân tối cao đã có tờ trình đề nghị thành lập Tòa hôn nhân và gia đình nhưng
chưa được thông qua. Việc Quốc hội chưa thông qua đề nghị thành lập Tòa Hôn nhân và gia đình
không có nghĩa là chưa cần phải có một Tòa riêng để giải quyết loại việc này. Theo chúng tôi có
thể các lập luận, chưa đủ tính thuyết phục; có thể chúng ta mới chỉ nói được số lượng công việc
mà chúng ta đang phải giải quyết ngày càng nhiều, mà chưa làm rõ được cái đặc trưng của loại án
Hôn nhân và gia đình khác với án dân sự, nhất là yêu cầu riêng về tố tụng.
Một số nước trên thế giới (như ở Úc), thì Tòa Hôn nhân và gia đình từ cấp Tỉnh trở xuống
thành lập một hệ thống độc lập riêng, chỉ ở cấp Trung ương mới hội tụ lại Tòa án tối cao. Ở nhật
người ta cũng tổ chức hệ thống Tòa án Hôn nhân và gia đình riêng. Tòa án Hôn nhân và gia đình ở
Nhật xét xử các vụ án hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội.
Điểm đặc trưng của việc thành lập Tòa Hôn nhân và gia đình là đặc trưng về tố tụng.
Trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình người ta cho rằng nó là lĩnh vực rất riêng tư và phải có tố
tụng riêng. Điểm đặc trưng nhất của loại tố tụng này là phải kín. Người ta rất ngạc nhiên khi thấy
chúng ta đưa các vụ án về Hôn nhân và gia đình ra xét xử công khai, thậm chí còn mang về Hội
trường Ủy ban nhân dân xã, sân đình, sân kho mà giải quyết viêc ly hôn.

nhưng tại sao sai thì bản án không chỉ ra được.
Trước năm 1986, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa quy định vợ chồng có tài sản
riêng, thì không có tài sản riêng trong quan hệ vợ chồng. Tất cả tài sản mà vợ chồng có trong thời
kỳ hôn nhân cũng như trước hô nhân đã và nhập vào khối tài sản chung do Luật hôn nhân và gia
đình năm 1959 quy định rằng vợ chồng có quyền sở hữu ngang nhau, tài sản trước và sau khi
cưới, tất cả tài sản đó là tài sản chung, vì vậy, không thế có tài sản riêng. Cho nên, năm 2000 anh
xin ly hôn vợ mà bảo rằng năm 1961, 1962 ông bố tôi cho tôi thừa kế tài sản riêng hoặc tôi kết
hôn năm 1962, tài sản này, ngôi nhà này tôi đã có từ năm 1961, nó là tài sản trước khi kết hôn cho
nên nó là tài sản riêng thì không thể chấp nhận được. Đã là trước ngày 03/01/1987 thì thuộc phạm
vi ảnh hưởng của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, vì vậy, phải điều chỉnh theo Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1959 và lúc đó không có vấn đề tài sản riêng.
Từ ngày 03/01/1987 cho đến ngày 01/01/2000 các quan hệ Hôn nhân và gia đình thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, trong thời gian này mới quy định ề
tài sản riêng của vợ chồng. Vấn đề tài sản riêng quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 có đặc trưng riêng và không hoàn toàn giống như quy định về tài sản riêng của vợ, chồng
trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên cũng phải phân biệt, áp dụng phù hợp cho từng
thời điểm. Do đó, trong tay Thẩm phán luôn phải có cả Luật Hôn nhân gia đình năm 1959, năm
1986 chứ không chỉ có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Quan hệ giao dịch phát sinh ở thời điểm nào thì chịu ảnh hưởng của pháp luật ở thời điểm
đó, phải lấy pháp luật của thời kỳ đó làm thước đo để xác định hợp pháp hay không hợp pháp.
Không thể lấy thước đo là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để đo sự kiện, giao dịch, các hành
vi mà con người đã thực hiện vào những năm trước đây. Đó là nguyên tắc trừ trường hợp các văn
bản có hiệu lực hồi tố.
Ví dụ: Nghị quyết số 35/2000/QH 10 ngày 09/06/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật
Hôn nhân và gia đình năm 2000, có hiệu lực hồi tố đối với vấn đề hôn nhân thực tế. Tất cả những
sự kiện trước ngày 01/01/2001 (ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực), trước khi
ban hành Nghị quyết 35 đều được điều chỉnh bằng Nghị quyết 35. Vì vậy, Nghị quyết 35 có hiệu
lực hồi tố.
2. Xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp đối với trường hợp không có đăng ký kết
hôn

Đối với trường hợp "thứ hai" (chung sống từ khoảng 03/01/1987 đến 01/01/2001) xin nói
rõ thêm rằng rất khác nhau giữa người xin ly hôn vào trước ngày 01/01/2003 với người xin ly hôn
vào sau ngày01/01/2003. Nếu xin ly hôn vào trước ngày 01/01/2003 thì hôn nhân là hợp pháp và
đến bây giờ mình mới xử thì hôn nhân của người ta vẫn hợp pháp. Nhưng nếu chậm một ngày sau
ngày 01/01/2003 mới nộp đơn xin ly hôn thì không được công nhận là hợp pháp nữa. Cho nên
chúng ta phải phân biệt ngày thụ lý là như vậy. Ngày thụ lý trước ngày 01/01/2003 thì không đăng
ký vẫn là hợp pháp dù cho tới bây giờ ta mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm... Trừ trường hợp, nếu
quay lại sơ thẩm thì tính thời điểm sơ thẩm lại là ngày thụ lý.
Riêng về vấn đề hôn nhân không có đăng ký kết hôn mà ta vẫn quen gọi là hôn nhân thực
tế, sẽ còn gặp rất nhiều trong những vụ án, không chỉ trong những vụ án về ly hôn mà còn trong
những vụ án về chia thừa kế.
Ví dụ: Vụ án chia thừa kế có thể vợ hoặc chồng chết rất lâu rồi, nhưng một người còn
sống, mãi sau này việc thừa kế mới phát sinh, cho nên mãi sau này Tòa án vẫn phải xem xét tính
chất của quan hệ hôn nhân trước đây.
Khi xem xét, nam và nữ có phải chung sống với nhau như vợ chồng hay không phải căn cứ
vào các tiêu chuẩn quy định tại Thông tư 01/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, Bộ tư pháp ngày 03/01/2001. Thông tư này quy định về căn cứ xác định chung
sống với nhau nhưvợ chồng đã được mở rộng hơn nhiều (các quy định trước đây thì tương đối
chặt chẻ như quá trình sống chung được xã hội, gia đình công khai thừa nhận, thậm chí còn đòi
hỏi có con chung, tài sản chung).
Tiêu chuẩn để được coi là sống chung với nhau như vợ chồng quy định ở Thông tư
01/2001 là một trong những trường hợp sau (chỉ một cghứ không phải tất cả các trường hợp).
- Có tổ chức lễ cưới khi về chung sống với nhau;
- Việc họ về chung sống với nhau được gia đình một hoặc cả hai bên chấp nhận;
- Việc họ về chung sống với nhau được người khác hay tổ chức chứng kiến;
- Họ thực sự chung sống với nhau, chăm sóc giúp đở nhau, cùng nhau xây dựng gia đình;
Trong thực tế việc đã được coi là chúng sống như vợ chồng hay chưa cũng rất phức tạp, gây tranh
cãi quyết liệt, có khi ở chung 5 đến 7 năm rồi, có tài sản, nhà cửa chung rồi nhưng đến khi ly hôn
một bên lại cãi không phải là vợ chồng. Do đó, Thgông tư quy định tiêu chuẩn được coi là chung
sống như vợ chồng hay chưa là rất quan trọng.

bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao về việc đó, nhưng nay đã có cả văn bản của Chính
phủ và văn bản đó có tính pháp quy mà Tòa án phải áp dụng. Vì vậy, phải đọc, nghiên cứu kỹ, đầy
đủ. Áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, là áp dụng cả văn bản pháp luật của Chính phủ
chứ không phải chỉ áp dụng văn bản của Tòa án.
4. Xác định trường hợp hôn nhân hợp pháp đối với trường hợp vi phạm chế độ hôn
nhân một vợ một chồng
Để giải quyết vấn đề này chúng ta phải chú ý đến thời điểm có hiệu lực của Luật Hôn nhân
và gia đình. Xin đề cập đến 04 trường hợp sau:
Thứ nhất: Những trường hợp kết hôn trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có
hiệu lực (13/01/1960)
Trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực thì chưa có quy định về chế
độ một vợ một chồng, vì vậy một người lấy đến 03 đến 04 vợ hoặc một người lấy nhiều chồng thì
pháp luật vẫn phải công nhận tất cả các mối quan hệ hôn nhân đó là hợp pháp, quan hệ tài sản của
người ta với nhau là tài sản trong hôn nhân hợp pháp, người ta được hưởng thừa kế tài sản của
nhau, được hưởng tài sản chung, được hưởng quyền chăm sóc thực hiện nghĩa vụ như vợ chồng.
Thú hai: Thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực trên toàn bộ lãnh thổ
Việt Nam.
Ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, nhưng lúc đó chưa thống nhất
thành một hà nước; vẫn là Nhà nước Việt nam dân chủ cộng hòa và Nhà nước cách mạng lâm thời
miền Nam Việt Nam.
Ngày 02/7/1976 Quốc hội nước Việt Nam thống nhất mới xác định thành lập nước Việt
Nam thống nhất - Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và mới giao cho Chiúnh phủ chọn
lọc để ban hành những văn bản pháp luật để phổ biến áp dụng trong cả nước.
Ngày 25/03/1977, Hội đồng Chính phủ mới ban hành Nghi quyết 76/CP công bố danh mục
411 văn bản pháp luật áp dụng chung cho cả nước, trong đó có Luật Hôn nhân và gia đình. Vì
vậy, ngày 25/031977 được coi là ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 có hiệu lực ở miền
Nam Việt Nam.
Những trường hợp kết hôn trước ngày 25/03/1977 trở về trước (ở miền Nam) thì dù có vi
phạm chế độ một vợ một chồng, nhưng có hôn nhân thực tế thì chúng ta vẫn phải công nhận quan
hệ hôn nhân của họ là hợp pháp.

hôn nhân hoặc được chia trong thời kỳ hôn nhân, đồ dùng tư trang cá nhân.
Mặc dù Luật quy định được thừa kế riêng, cho riêng nhưng trong thực tế rất phức tạp.
Thông thường Tào án vẫn chấp nhận cho riêng nếu như văn bản giấy tờ, hình thức đã xác định là
cho riêng và sau này việc đi đăng ký, việc sử dụng đất, nhà tiếp tục lấy tên riêng. Nếu chỉ căn cứ
vào xác nhận của cha mẹ thì không chính xác vì bầy giờ con cái mâu thuẩn đòi ly hôn, nếu tài sản
là tài sản của cha mẹ vợ cho trước đây thì bây giờ thì cha mẹ vợ sẽ đứng ra bảo cái đó toi cho con
gái tôi, nếu tài sản là tài sản của cha mẹ chồng cho trước đây thì bây giờ cha mẹ chồng đứng ra
bảo cái tôi cho riêng con trai tôi. Vì vậy, chúng ta phải ết hợp với các chứng cứ khác và nói chung
phải dựa vào các văn bản, chứng cứ từ thời được giao tài sản đó.
Không nhất thiết cứ tài sản sử dụng chung thì tài sản đó là của chung. Pháp luật quy định
có những trường hợp là tài sản riêng nhưng sử dụng chung bây giờ nếu tách riêng thì ảnh hưởng
đến quyền lợi của người đang sử dụng nên đã có quy định hạn chế phân chia. Như vậy, có nghĩa
là không phải cứ tài sản đem sử dụng chung là nhập vào tài sản chung. Thực tiễn xét xử xác định
kkể cả mang đất ra làm nhà, cái nhà đó là của chung, nhưng đất vẫn là của riêng và khi chia vẫn
phải chia đất cho người có quyền được hưởng. Không thể bảo là "cô ấy mang đất góp với tôi làm
nhà rối, thì bây giờ mảnh đấy đó là của chung được". Đã là của riêng thì luôn luôn là của riêng,
trừ trường hợp làm đầy đủ thủ tục chuyển thành của chung. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000,
quy định thủ tục nhập tài sản riêng vào tài sản chung rất chặt chẻ.
Khoản 2 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, quy định việc nhập tài sản là nhà
ở, quyền sử dụng đất và các tài sản khác có giá trị lớn thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc
chồng vào tài sản chung của vợ chồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký của cả vơ và
chồng, văn bản đó có thể được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật. Việc
nhập tài sản rieng vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm rốn tránh thực hiện các nghĩa vụ
riêng của bên đó về tài sản là vô hiệu.
III. Một số vấn đề về kỹ năng giải quyết án hôn nhân và gia đình
1. Cách thể hiện ý kiến của Luật sư, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong bản
án dân sự
Hiện nay phần ý kiến của Luật sư, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân trong nhiều bản án
hay được viết ở phần cuối cùng của nhận định. Nếu để ở phần cuối cùng của phần nhận định thì
nó chẳng còn ý nghĩa gì để mà nhận xét nữa, mà các ý kiến của Luật sư phải được đưa lông với ý

Có thể trao đổi với nhau, chúng ta vẫn dùng, nhưng khi phát biểu tại phiên tòa; viết trong
bản án thì phải dùng thuật ngữ chíng xác là "chung sống với nhau như vợ chồng".
Vấn đề hủy hôn nhân trái pháp luật trước đây thường gọi là "tiêu hôn", nhưng bây giờ
phápmluật hôn nhân và gia đình không dùng thuật ngữ này nữa, vì vậy, khi phát biểu tại phiên tòa;
viết trong bản án không được dùng thuật ngữ này.
Xin lưu ý là Luật dùng chính thức thuật ngữ nào, từ nào thì chúng ta dùng thuật ngữ đó, từ
đó. Đó chính là văn hóa xét xử.
Trong Luật dùng từ "cha", từ "ẹ" thì khi xét xử Tòa án cũng phải dùng đúng các từ đó. Lời
khai của đương sự được viện dẫn trong bản án thì có thể dùng từ địa phương, vì là viện dẫn lời
khai của đương sư, nhưng phải đóng mở ngoặc kép (" "). Ví dụ, viện dẫn lời khai của đương sự:
"Ba tôi đã khai rằng, ba toi cho chị ấy", nhưng nếu là nhận xét của Tòa thì phải dùng theo ngôn
ngữ của Luật.
4. Vấn đề chia tài sản
Ngay triong quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử chúng ta đã phải có một bảng thống kê
những tài sản gì mà các đương sự đã thống nhất được với nhau, còn những tài sản gì mà các
đương sự tranh chấp thì tách riêng ra thành một bản, có như vậy thì khi chúng ta tuyên án mới dễ,
không dài dòng, mà người nghe cũng dễ hiểu hơn.
Có thể chỉ tuyên một câu ngắn gọn là: "đối với các đồ dùng sinh hoạt gia đình, thì anh chị
đã thỏa thuạn theo văn bản ngày, tháng, năm". Làm như vậy thì tránh được tình trạng trong án hôn
nhân của chúng ta liệt kê đủ thứ, cả cái bát, cái đĩa... nghe như có vẻ không nghiêm túc, có vẻ lẩm
cẩm.
Đối vơúi những tài sản, những vấn đề còn đang tranh chấp thì lại phải tuyên rất cụ thể,
chính xác đảm bảo làm sao cho người không tham giua trong vụ này, đọc Bản án, quyết định của
Tòa án cũng biết được phần tài sản được thi hành như thế nào.
Đối với nhà, đất cần phải ghi thật đầy đủ và chi tiết, để bất cứ người nào đọc cũng hiểu
được tòa chia như thế nào. Muốn vậy, bản án, quyết định của tòa về nhà, đất phải thể hiện đượcvị
trí của nó như: Phía đông giáp... phía tây giáp ... diện tích, kích thước của mỗi người ; ranh giới
được xác định như thế nào đề không nhầm lẫn được bên này với bên kia. Trên bản đồ chia nhà,
đất phải đánh mốc 1,2,3,4 cho cụ thể. Nói chung, việc phân chia hiện vật, nhà đất phải có sơ đồ
kèm theo bản án, có đu chữ ký của Hội đồng xét xử.

sản gì tòa giải quyết thì giải quyết dứt điểm để các đương sự không có quyền khởi kiện lại nữa.
Những tài sản còn sót lại, vcác đương sự chưa yêu cầu giải quyết thì họ có quyền khởi kiện tiếp.
Pháp luật hiện hành dành cho ácc đương sự nhất là đối với các tranh chấp về hôn nhân và
gia đình quyền hoàn toàn tự quyết định việc yêu cầu tòa giải quyết. Do đoa các đượng sự yêu cầu
tòa giải quyết cái gì thì tòa giải quyết cái đó và phải chịu án phí đối với việc yêu cầu giải quyết.
Tòa khuyến khích các đương sự tự giải quyết với nhau. Nếu đơng sự tự giải quyết được thì tòa
không can thiệp và đương sự không phải mất án phí. Vì vây, một khối tài sản chung của vợ chồng
có thể sẽ khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết làm rất nhiều lần, chứ không đòi hỏi phải giải quyết
một lần. Chính vì vậy phải tuyên cho rõ để sau này xác định được việc này (tài sản này) còn được
khởi kiện lại nữa hay không. Thực tế hiện nay thường xảy ra là trong bản án chỉ tuyên một câu
"bác các yêu cầu khác". Tuyên như vậy là không đúng vì có những vấn đề đương sự yêu cầu mà
tòa án chưa giải quyết, nhưng trong phần nhận định có đề cấp đến yêu cầu đó và trong phần quyết
định lại "bác các yêu cầu khác" sẽ khó khăn nếu sau này đương sự khởi kiện. Vì vậy, trong bản án
ghi rõ bác yêu cầu nào, chứ không nên nghi "bác các yêu cầu khác".
Yêu cầu nào của đương sự được chấp nhận thì giải quyết cụ thể, còn yêu cầu nào chưa giải
quyết thì cũng phải nêu rõ. Yêu cầu mà tòa án bác, cũng chính là các đã giải quyết rồi, đã phán
quyết rồi.
Trong bản án mà chúng ta nêu rõ ràng cụ thể về những vấn đề đã giải quyết (chấp nhận
yêu cầu hoặc bác yêu cầu) thì cũng dễ dàng cho việc phúc thẩm. Bởi vì cấp phúc thẩm chỉ xem xét
những vấn đề tòa sơ thẩm đã giải quyết.

B. THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC LOẠI ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Các loại án hôn nhân và gia đìn Toà án giải quyết bao gồm:
- Các vự án ly hôn : Thuận tình ly hôn hay ly hôn do một bên yêu cầu.
- Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật
- Yêu cầu xác định quan hệ cha, mẹ, con
- Yêu cầu cấp dưỡng, thay đổi mức cấp dưỡng
- Yêu cầu chia tài sản vợ chồng sau khi ly hôn
I. TRƯỜNG HỢP GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN THUẬN TÌNH LY HÔN
!.Cơ sở pháp lý cuả việc giải quyết

giải quyết cho ly hôn. Thực tế có thể xảy ra hai trường hợp sau:
+ Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ hoặc người
chồng của mình mất tích và yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Tòa
án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Tòa án thấy chưa đủ điều kiện tuyên
bố người đó mất tích thì bác yêu cầu của vợ hoặc chồng.
+ Người vợ hoặc người chồng đã bị Tòa án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của những
người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người vợ,
người chồng mới yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
+ Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải.
Trong trường hợp Tòa án hòa giải không thành thì Tòa án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn
và hòa giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc
chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối
sự thỏa thuận đó thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên
tòa trong các trường hợp sau đây:
- Hai bên thực sự tự nguyện ly hôn.
- Hai bên thỏa thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom,
nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con.
- Sự thỏa thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là đảm bảo
quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không kháng
cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
Trong trường hợp hòa giải tại Tòa án mà thiếu một trong các điều kiện trên thì Tòa án lập
biên bản hòa giải đoàn tụ không thành về những vấn đề hai bên không thoả thuận được hoặc thỏa
thuận được nhưng không đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ, con đồng thời mở phiên tòa xét
xử.
2.Một số trường hợp cụ thể
Yêu cầu:
- Nghiên cứu các vụ án thực tế nắm được việc áp dụng pháp luật trong những vụ án cụ thể
- Viết Quyết định công nhận thuận tình ly hôn.


QUYẾT ĐỊNH
1.Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau :
Công nhận sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị B.L và anh Hà P. T
- Về con chung : Giao cho chị Nguyễn Thị B.L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu: Hà Thị U
,sinh ngày 17 -3- 1999 .Việc cấp dưỡng nuôi con chị L không yêu cầu nhưng anh T tự nguyện
đóng góp cấp dưỡng nuôi cháu Linh với số tiền 20.000.000đ ( hai mượi triệu đồng) .Nay anh T
đã giao nhận cho chị L quản lý sử dụng trong việc nuôi con chung , người không trực tiếp nuôi
con có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai được ngăn căn .
Thông báo UBND phường P, Huế xóa đăng ký kết hôn giữa chị Nguyễn Thị B.L và anh Hà Ph. T
2.Về án phí dân sự sơ thẩm là 50.000đ , mỗi người phải chịu một nữa số tiền là 25.000đ , nhưng
chị L đã tự nguyện nộp thay cho anh T và đã nộp đủ tại BL số 930 ngày 6-10-2003 .
3.Quyết định này có hiệu lực ngay .

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thẩm phán
b.Trường hợp 2: TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
......................................... Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc
------ ---------------------------
Sô :94 /04.QĐTTLH Huê ,ngày tháng năm 2004
TL số: 02 /DSST
Ngày:26/02/2004.
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 36/DSST ngày 26/2/2004 .

Điều 31,44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự .

QUYẾT ĐỊNH

1. Công nhận sự thỏa thuận về việc tình ly hôn giữa anh Lê Thừa K và chị Trương Thị V
II) Về con chung : Công nhận sự thỏa thuận và tự nguyện của anh K, chị Vấn là : Giao hai con
là..........., sinh ngày 04/7/1988 và................., sinh ngày 15/10/1990 cho chị V trực tiếp nuôi
dưỡng.Anh K đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con một tháng 300.000đ (ba trăm ngàn đồng ).Thời
gian cấp dưỡng là từ tháng 5/2004 trở đi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung ,
không ai được ngăn cản.
III) Về án phí : Anh K và chị V mỗi người phải chịu 25.000đ, nhưng chị Vấn tự nguyện nộp thay
cho anh K và đã nộp đủ tiền tạm ứng án phí , theo phiếu thu số 17 ngày 26/2/2004 của Đội thi
hành án Dân sự Tp Huế. Nay khỏi phải nộp nữa.
IV) Yêu cầu UBND phường ...........- Huế xóa tên đăng ký kết hôn của anh Lê Thừa K và chị
Trương Thị V trong sổ đăng ký kết hôn.
5.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thẩm phán
Nơi nhận:
+ VKS ND Tp Huế
+TA tỉnh
+ THA TP Huế
+ Đương sự.

c.Trường hợp 3:

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thành Phố Huế Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc

- Về con chung : Ông A , bà P cùng thống nhất thỏa thuận việc nuôi con theo nguyện vọng của
các con : Nay giao 2 con chung: L.S sinh ngày 28/6/1987 và L. V- sinh ngày 9/9/1990 cho bà P
trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành, ông A tự nguyện đóng góp phí tổn nuôi con chung với bà
P một tháng 900.000đ tính kể từ tháng 5/2004 trở đi cho đến khi cháu V trưởng thành .
Về tài sản chung : Ông A và bà P đã thống nhất tự thỏa thuận phân chia tài sản chung ( trên cơ sở
hai bên tự lập biên bản thỏa thuận phân chia tài sản ngày 25/4/2004 ) như sau : Trong số tài sản
chung của vợ chồng ; giao cho ông A được quyền sỡ hưữ và sử dụng số tài sản gồm :
1) Tòan bộ tài sản hiện có tại Công ty ............................tọa lạc tại.................trong số tài sản này
bao gồm cả nhà xưởng được xây dựng trên diện tích ..........thuộc tờ bản đồ số ..... thửa đất số .....
( thửa đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND TP Huế cấp ngày ..................mang
tên người được quyền sử dụng là ông A ) ; số tiền góp vốn cổ phần tại Công
ty ...............................chiếm 87% là 694.579.000đ , vật tư , thiết bị máy móc sản xuất .

2 ) Một ngôi nhà gồm 2 căn , tọa lạc tại ..........................( ngôi nhà đang được dùng kinh
doanh..............................); trong đó 1 căn có diện tích xây dựng là ..............được xây dựng trên
diện tích đất ... m2 thuộc thửa đất số........, tờ bản đồ số ...... ( nhà ở và quyền sử dụng đất ở đã
có giấy chứng nhận do UBND tỉnh TT Huế cấp ngày...............) và một căn có diện tích xây dựng
là ....m2 được xây dựng trên diện tích đất ....m2 thuộc thửa đất số ........, tờ bản đồ số ..... ( nhà
và quyền sử dụng đất này đã đươc được UBND tỉnh TT Huế cấp giấy chứng nhận ngày...........) ;
đồng thời thời ông A được quyền sử dụng 1/4 diện tích đất ở và một phần diện tích nhà ở tọa
lạc tại .................................cụ thể diện tích đất ở ông An được chia là ....m2 được trích ra từ thửa
đất số .... ( có diện tích ....m2 ) tọa lạc ............................... Huế, nhà đất đã được UBND tỉnh TT
Huế cấp giấy chứng nhận quyền sỡ hữu , sử dụng ngày cấp cho bà P, ông A trên đất có một phần
nhà ở có diện tích xây dựng là ...m2 ( có ký hiệu thửa đất mới tách là ....... ; tờ bản đồ số ........ ) có
đặc điểm : Phía bắc giáp thửa đất số .........phía nam giáp thửa đất số.......; phía đông giáp thửa đất
số......... ; phía tây giáp đường...............
Giao cho bà P được quyền sỡ hưữ và sử dụng số tài sản gồm: 1/4 diện tích nhà ở và quyền sử
dụng đất ở tọa lạc tại số.................................................. Trong đó diện tích đất ở là .........trên đất
có diện tích nhà ở là........... (đất được trích ra từ thửa đất số ..... ) có đặc điểm : Phía bắc giáp
đường..............................., phía nam giáp thửa đất số ...; phía đông giáp thửa đất số......... ; phía

của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Xét thấy cuộc hôn nhân của ông A ,bà P đã mâu thuẫn trầm trọng , đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích của hôn nhân không đạt được . Ông A ,bà P tự nguyện xin thuận tình ly hôn là phù
hợp với quy định của pháp luật cần được chấp nhận.
Áp dụng khoản 3 điều 33, điều 44, 45, 46 điều 90,92,94,95,97,98 luật Hôn nhân và gia đình ngày
09/6/2000 của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam ;
Điều 31,43,44 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ; Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997
quy định về án phí .

QUYẾT ĐỊNH

1) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
a) Về tình cảm vợ chồng :
Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa Ông L.V.A và ba L.T.P.
- Đề nghị UBND phường................. xóa tên ông A ,bà P trong sổ lưu đăng ký kết hôn tại phường
( quyển số ...số thứ tự ... ngày 16/10/1987)
b) Về con chung : Công nhận sự thỏa thuận của anh ông A ,bà P ( trên cơ sở nguyện vọng của các
con ).
Giao 2 cháu : L.S- sinh ngày 28/6/1987 và L.K sinh ngày 9/9/1991 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng
đến trưởng thành . Ông An tự nguyện đóng góp phí tổn nuôicon với bà P một tháng 900.000đ tính
kể từ tháng 6/2004 trở đi cho đến khi cháu K trưởng thành .
Ông A được quyền qua lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản .
c) Về tài sản chung : Công nhận sự thỏa thuận của ông An,bà P:
Phần tài sản ông L.V.A được giao quyền sỡ hữu và sử dụng
là:.............................................................................................................................

+ Phần tài sản bà L.T.P được giao sỡ hưữ và sử dụng gồm:
Giao cho bà Phương Anh được quyền sử dụng diện tích đất ở là ...m2được trích ra 1/4 từ thửa đất
số 94 trên đất có diện tích nhà là ...m2 ( thửa đất có ký hiệu mới tách thửa là : ... ; tờ bản đồ số... )
có đặc điểm : Phía bắc giáp đường ........, phía nam giáp thửa đất ........; phía đông giáp thửa đất ....

bảo lãnh để vay tiền Ngân hàng Công Thương TT Huế để đầu tư kinh doanh.........................) .
Nếu có tranh chấp xảy ra ông A , ông M ,bà N , ông V có trách nhiệm giải quyết nợ với Ngân
hàng Công Thương và Ngân hàng Ngoại Thương TT Huế ( kể cả tiền lãi phát sinh ) về số nợ của
các cá nhân , ông A có trách thanh tóan , bà P không có liên quan kể cả khi hai bên còn là vợ
chồng hợp pháp hoặc sau khi đã nhận được quyết định giải quyết cho thuận tình ly hôn của Tòa
án có hiệu lực pháp luật
2.Về án phí : ông A ,bà P mỗi bên phải chịu 25.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng ông A đã tự
nguyện xin nộp cả phần án phí cho bà P phải chịu và đã tạm nộp dự phí đủ 50.000đ .Căn cứ biên
lai số ... quyển số 04 ngày ...............của Đội thi hành án Tp Huế .
3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thẩm phánd.Trường hợp 4:

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thành Phố Huế Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc
------ --------------------------
Sô : 87/QĐTTLH Huê ,ngày tháng năm 2004
TL số: 04/DSST
Ngày:21-4-2004 QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

Căn cứ vào biên bản hòa giải đòan tụ không thành và sự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn được
lập ngày 18-5- 2004 giữa:
Một bên: Chị Hoàng thị T - sinh năm 1979.Tạm trú : .....................

1) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
a) Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng T. Tvà anh Nguyễn N
- Đề nghị UBND xã ......- Huyện ............- Tỉnh Quảng Bình xóa tên chị T, anh N trong sổ lưu
đăng ký kết hôn tại xã ( quyển số ngày 20/4/1999)
b) Về con chung : Công nhận sự thỏa thuận của anh N ,chị T: Nay giao cháu N.L - sinh ngày
8/9/1999 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng ,anh N tự nguyện đóng góp phí tổn nuôi con với chị T
200.000đ /tháng , tính kể từ tháng 5/2004 trở đi cho đến khi cháu L trưởng thành.Anh N được
quyền qua lại thăm nom , chăm sóc con chung không ai được cản trở.
c) Về tài sản : Công nhận sự thỏa thuận của anh N, chị T,
Giao cho anh N sở hưữ một dàn máy nghe nhạc gồm ( 1 âm li,2 loa).
Giao cho chị T được quyền sỡ hưữ tòan bộ số tài sản chung còn lại gồm : 1 ti vi Samsung ; 1 đầu
đĩa hình , 1 tủ trưng đồ phòng khách và tòan bộ đồ dùng sinh hoạt gia đình.
2.Về án phí : Anh N, chị T mỗi bên phải chịu 25.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng chị T đã tự
nguyện xin nộp cả phần án phí cho anh N và đã tạm nộp dự phí đủ 50.000đ , nay được trừ .Căn cứ
biên lai số ..., quyển số ... ngày .............của Đội thi hành án Tp Huế .
3.Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thẩm phán

e.Trường hợp 5:

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thành Phố Huế Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc
------ ---------------------------
Sô :05/QĐTTLH Huê ,ngày tháng năm 2004
TL số: 65/DSST
Ngày: 5/4/2004 QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status