Luật hành chính Việt Nam
MỤC LỤC
MỤC LỤC..................................................................................................................................................1
C- KẾT LUẬN 11.....................................................................................................................................1
BÀI LÀM....................................................................................................................................................1
A- ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................................................1
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ........................................................................................................................1
I. NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA ĐÔNG ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH NHÀ NƯỚC.................................................................................................................................2
1, Cơ sở pháp lý.................................................................................................................................2
2, Biểu hiện của nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo vào quản lý hành chính nhà
nước....................................................................................................................................................2
II- VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA ĐÔNG ĐẢO VÀO
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.................................................................................................4
1. Mặt tích cực....................................................................................................................................4
2. Mặt hạn chế. .................................................................................................................................8
III- NGUYÊN NHÂN DẪN TỚI HẠN CHẾ TRONG VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN
LAO ĐỘNG THAM GIA ĐÔNG ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.....................9
IV- VẤN ĐỀ NÂNG CAO PHÁP LUẬT ĐỂ ĐẢM BẢO NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA
ĐÔNG ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC..............................................................10
1. Về vấn đề pháp luật......................................................................................................................10
C- KẾT LUẬN ...........................................................................................................11
BÀI LÀM
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Với bản chất nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân, cách thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt
Nam phải thể hiện được quyền làm chủ của nhân dân đối với quyền lực nhà nước,
thông qua nhiều hình thức khác nhau. Trong đó, nhà nước đã tạo những điều kiện
quan trọng để nhân dân có thể tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Khoa pháp luật kinh tế- Trường đại học Luật Hà Nội
2, Biểu hiện của nguyên tắc nhân dân lao động tham gia đông đảo
vào quản lý hành chính nhà nước.
Trong quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc này thể hiện ở những hình thức
tham gia vào hoạt động quản lý hành chính nhà nước của nhân dân lao động. Đây là
những hình thức được pháp luật ghi nhân và đảm bảo thực hiện bằng các phương tiện
của nhà nước.Các hình thức tham gia vào quản lý hành chính nhà nước của nhân dân
lao động bao gồm:
a. Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Các cơ quan trong bộ máy nhà nước là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước.
Vì vậy, tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước là hình thực tham gia tích
Khoa pháp luật kinh tế- Trường đại học Luật Hà Nội
2
Luật hành chính Việt Nam
cực, trực tiếp và có hiệu quả của người lao động vào hoạt động quản lý hành chính
nhà nước. Người lao động nếu đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu mà pháp luật quy
định đều có thể tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước để trực tiếp hay
gián tiếp thực hiện công việc quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Trước hết, người lao động có thể tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước với tư
cách là thành viên của cơ quan này- những đại biểu được lựa chọn thông qua con
đường bầu cử. Ở cương vị này, người lao động trực tiếp xam xét và quyết định các
vấn đề quan trọng của nhà nước, của từng địa phương, trong đó có các vấn đề về quản
lý hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó, nhân dân lao động có thể tham gia vào hoạt dộng của các cơ quan
nhà nước khác (cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử) với
tư cách là những cán bộ, công chức. Là cán bộ, công chức của Nhà nước, nhân dân
lao động sẽ sử dụng một cách trực tiếp quyền lực nhà nước để tiến hành những công
việc khác nhau của quản lý hành chính nhà nước, thể hiện vai trò người làm chủ đất
nước, làm chủ xã hội của mình. Họ sẽ có đầy đủ các điều kiện để biến ý chí, nguyện
vọng của mình thành hiện thực nhằm “Xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công
bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
đối với cuộc sống của mỗi người dân. Thông qua những hoạt động mang tính chất tự
quản mà người dân lao động là những chủ thể tham gia tích cực, quyền tham gia quản
lý nhà nước, quản lý xã hội của người dân là pháp luật đã quy định thực sự được tôn
trọng và đảm bảo thực hiện. Nhà nước đã tạo những điều liện cần thiết về vật chất và
tinh thần để phát huy vai trò chủ động, tích cực của nhân dân lao động trong việc
tham gia những hoạt động mang tính tự quản nêu trên.
d. Trực tiếp thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công dân trong quản lý
hành chính nhà nước.
Điều 53 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) đã quy định công dân có
quyền “Tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung
của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước
tổ chức trưng cầu ý dân”. Để thực hiện quyền cơ bản này, pháp luật đã quy định các
quyền và nghĩa vụ cụ thể của công dân trong các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành
chính nhà nước. Những quyền, nghĩa vụ này của công dân có thể thực hiện thông qua
hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội (như đã phân tích ở phần
trên) hoặc cũng có thể được chính người dân trực tiếp thực hiện. Việc trực tiếp thực
hiện các quyền và nghĩa vụ này cũng chính là một hình thức tham gia vào quản lý
hành chính nhà nước của nhân dân lao động. Cùng với sự phát triển của xã hội, các
quyền và nghĩa vụ của công dân ngày càng được tôn trọng và đảm bảo thực hiện một
cách đầy đủ hơn. Do vậy, đây là một hình thức có ý nghĩa quan trọng để nhân dân lao
động phát huy vai trò làm chủ của mình.
II- VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC NHÂN DÂN LAO ĐỘNG THAM GIA ĐÔNG
ĐẢO VÀO QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.
1. Mặt tích cực.
a. Tham gia vào hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Nhân dân trực tiếp tham gia vào quản lý nhà nước chủ yếu với tư cách là cán
bộ, công chức. Do đó, để đáp ứng cho nhân dân có thể tham gia vào quản lý nhà nước
với tư cách này, nhà nước đã đưa ra luật cán bộ công chức, nêu ra rõ nhiệm vụ, chức
năng của cán bộ, công chức trong quản lý hành chính nhà nước. Luật Cán bộ, công
chức (CB-CC) có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Theo những quy định của luật
đánh giá công chức và quan trọng hơn là kết quả đánh giá phải được phục vụ cho
chính công cuộc cải tổ đội ngũ công chức.
Theo Luật CB-CC, công chức được đánh giá 6 tiêu chí như: chấp hành đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị,
đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ… Ngoài ra, công chức lãnh đạo, quản lý
còn được đánh giá theo kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh
đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức. Việc
đánh giá công chức do người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên quản lý trực
tiếp thực hiện và nhất thiết phải được tiến hành hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy
hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái.
Kết quả đánh giá công chức (xếp theo các mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hoàn
thành tốt nhiệm vụ; hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực; không hoàn
Khoa pháp luật kinh tế- Trường đại học Luật Hà Nội
5