về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự - Pdf 28

Luật dân sự
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Quá trình công ngiệp hóa- hiện đại hóa đất nước mang lại sự tiến bộ vượt bậc về
khoa học kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, máy móc và thiết bị cho mọi lĩnh vực của đời sống.
Tuy nhiên kèm theo đó, một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả
nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động sản xuất và sinh
hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương
lai. Vì vậy, giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, cũng như việc giải quyết vấn đề
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết đối với các cấp
quản lí, các doanh nghiệp mà đó còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của
toàn xã hội.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI.
1. Khái niệm về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự.
Khi một nghĩa vụ dân sự được xác lập, các bên phải thực hiện nội dung của nghĩa
vụ đó. Nếu một bên vị phạm nghĩa vụ, thì phải gánh chịu nhưng hậu quả bất lợi mà
pháp luật đã dự liệu.
Khoản 1 điều 302 BLDS quy định: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có
quyền”.
Như vậy, các bên có nghĩa vụ dân sự đối với nhau kể từ khi quan hệ nghĩa vụ
được xác lập nhưng trách nhiệm dân sự chỉ xuất hiện khi có một bên không thực hiện,
thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình.
Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự là một trong những loại trách
nhiệm pháp lý nói chung nên giống như loại trách nhiệm pháp lý khác,nó cũng có
những đặc điểm sau đây:
- Chỉ được áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và chỉ áp dụng đối với
người có hành vi vi phạm đó;
- Là một hình thức cưỡng chế của Nhà nước và do cơ quan nhà nước có thẩm

phạm chỉ có trách nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu sự vi phạm nghĩa vụ
đã gây ra thiệt hại cho người bị vi phạm, thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Vì vậy để xác định được có phải là trách nhiệm bồi thường thiệt hại
hay không thì phải tùy thuộc vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm nghĩa vụ.
Khoa Pháp luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội
2
Luật dân sự
3. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong bộ luật dân
sự. Theo quy định tại điều 281 BLDS, thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa
vụ dân sự là sự kiện (gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật) và tương ứng với căn cứ
này là các quy định tại chương XXI, phần thứ ba bộ luật dân sự “Trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là
căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong trường
hợp này trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi
thường cho người bị thiệt hại. Nhà làm luật trong trường hợp này đã đồng nghĩa trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với “nghĩa vụ phát sinh theo hành vi trái
pháp luật”. Từ những quy định tại điều 604, điều 281 có thể nêu khái niệm về nghĩa
vụ bồi thường thiệt hại như sau: Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là một loại quan hệ
dân sự trong đó người xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy
tín, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại phải
bồi thường những thiệt hại do mình gây ra.
Người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người có nghĩa vụ)
là các bên tham gia vào các quan hệ đó. Bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có
thể có một hoặc nhiều người tham gia. Nghĩa vụ, hoặc quyền của họ có thể là liên đới,
riêng rẽ, hoặc theo phần tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại.
Khách thể của quan hệ nghĩa vụ này luôn thể hiện dưới dạng “hành động” phải
thực hiện hành vi “bồi thường” cho người bị thiệt hại. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi
thường thiệt hại là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể
khác. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại

hay phụ.
II. THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
1. Hành vi gây ô nhiễm môi trường.
Theo quy định tại Điều 3 Luật bảo vệ môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản
xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
Cũng theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường thì “Thành phần môi
trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh,
ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác”.
Theo quy định trên, hành vi làm ô nhiễm môi trường được hiểu là những hành vi
tác động đến các yếu tố của môi trường và gây ô nhiễm các yếu tố đó, làm tổn hại đến
các yếu tố nguyên thủy của môi trường dẫn đến thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính
mạng của người khác.
Khoa Pháp luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội
4
Luật dân sự
2. Thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường bao gồm:
2.1 Sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường
Môi trường có ảnh hưởng đến đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con
người và sự vật. Xem xét dưới giác độ xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại thì
các yếu tố nhân tạo thường được nhìn nhận là các tài sản hiện hữu, thuộc quyền sở
hữu của một chủ thể xác định. Nếu chúng có bị suy giảm chắc năng, tính hữu ích thì
cần được hiểu là suy giảm chức năng, tính hữu ích của chính tài sản đó. Nói cách
khác, đó là các thiệt hại và người bị thiệt hại trong trường hợp này có thể là nhà nước
cũng có thể là một tổ chức, cá nhân cụ thể. Trong khi đó các yếu tố tự nhiên lại được
xem là những yếu tố cần thiết cho sự tồn tại, phát triển chung của cả cộng đồng,
không do một tổ chức, cá nhân nào tạo ra và đương nhiên thuộc quyền sở hữu cộng
đồng mà đại diện là nhà nước, do đó, nếu có sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của
các yếu tố này thì đó là sự suy giảm các giá trị môi trường sống nói chung. Vì vậy,
nói đến thiệt hại trong lĩnh vực môi trường dưới góc độ chức năng, tính hữu ích của

bị giảm sút tài sản… mà nguyên nhân của nó là do chức năng, tính hữu ích của môi
trường bị suy giảm. Chính những biểu hiện xấu này của môi trường đã làm cho bọ bị
mất, bị giảm sút tài sản, phải chi trả những chi phí cho việc sửa chữa, thay thế, ngăn
chặn và phục hồi tài sản.
 Thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân do hậu quả của việc suy
giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường. Đây là những thiệt hại mà người bị
thiệt hại phải gánh chịu do việc khai thác, sử dụng các thành phần môi trường đã bị
suy giảm chức năng, tính hưu ích. Họ là những chủ thể được phép khai thác, sử dụng
một cách hợp lý các thành phần môi trường đó để phục vụ cho các hoạt động của
mình. Tuy nhiên, do các thành phần môi trường này đã bị ô nhiễm nên họ không thể
tiếp tục khai thác, sử dụng hoặc phải khai thác, sử dụng một cách hạn chế, dẫn đến lợi
ích vật chất của họ bị tổn hại.
III. ĐIỀU KIỆN LÀM PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường thuộc loại trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo pháp luật dân sự, trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do ô
nhiễm môi trường phát sinh khi có các điều kiện sau đây:
1. Có thiệt hại xảy ra
Đây là điều kiện mang tính chất tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bởi
mục đích của việc áp dụng trách nhhiệm này là khôi phục tình trạng tài sản, sức
Khoa Pháp luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội
6
Luật dân sự
khoẻ… cho người bị thiệt hại. Thiệt hại thường là tổn thất thực tế được tính thành tiền
do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của cá nhân, tổ chức. Các thiệt hại
do ô nhiễm môi trường gây nên có thể bao gồm những thiệt hại sau đây:
- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm. Có thể là: tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng,
thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với việc không sử
dụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác công dụng của tài

các chất thải, xác động vật,thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn và gây dịch bệnh vào
nguồn nước; nhập khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn môi trường; …
- Vi phạm các quy định về đánh giá tác động môi trường hoặc các yêu cầu ghi tại
phiếu thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường.
- Vi phạm các quy định về bảo về nguồn tài nguyên thiên nhiên như các quy định
về bảo vệ rừng, khai thác, kinh doanh động vật, thực vật quý hiếm; bảo vệ nguồn đất,
bảo vệ đất; vi phạm các quy định về đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên…
- Vi phạm các quy định về vệ sinh công cộng như quy định về vận chuyển và xử
lý chất thải, rác thải; quy định về tiếng ồn, độ rung…
- Vi phạm các quy định về bảo quản và sử dụng các chất dễ gây ô nhiễm; vi
phạm các quy định về phòng, chống sự cố môi trường trường trong tìm kiếm, thăm
dò, khai thác vận chuyển dầu khí; trong thăm dò, khai thác hầm mỏ…
3. Có lỗi của chủ thể gây thiệt hại
Điều 624 BLDS quy định: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm
môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường
hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi”.
Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi
làm ô nhiễm chỉ được loại trừ trong trường hợp người bị hại có lỗi. Điều này có nghĩa
là trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường nếu người bị
thiệt hại không có lỗi thì trách nhiệm bồi thường luôn luôn đặt ra đối với người làm ô
nhiễm môi trường.
Thậm chí, trong một số trường hợp cụ thể trách nhiệm bồi thường thiệt hại không
được loại trừ ngay cả khi người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi. Khoản 2 điều
627 BLDS quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng
nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại kể cả khi không có lỗi”. Quy định
này cần được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại do các
nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như các phương tiên giao thông vận tải, các nhà máy
công nghiệp đang hoạt động, các lò phản ứng hạt nhân, các nhà máy điện nguyên tử,
kho chưa vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất dễ cháy, chất phóng xạ… Trong thời gian
Khoa Pháp luật kinh tế - Đại học Luật Hà Nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status