Lời nói đầu
Trong xu hớng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, với chính sách mở
cửa và hội nhập, Việt Nam đang từng bớc hoàn thiện hệ thống pháp luật th-
ơng mại. Năm 1997, Luật thơng mại Việt Nam ra đời đánh dấu một bớc
phát triển lớn trong chặng đờng xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
nớc ta. Luật thơng mại của Việt Nam ra đời là một điều hết sức khích lệ, là
một kết quả tất yếu của đòi hỏi do thay đổi về diện mạo và sắc thái đời sống
kinh tế nớc ta.
Phạm vi điều chỉnh của Luật thơng mại Việt Nam rất rộng, nhng trong
bài tiểu luận này, chúng em chỉ muốn đề cập đến vấn đề liên quan đến chế
độ trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế với mong muốn Luật
thơng mại Việt Nam sẽ phát huy hiệu quả đúng với mục đích ra đời của nó.
Vì vậy, em đã lựa chọn đề tài : "Trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp
đồng kinh tế. Trình bày một vụ tranh chấp hợp đồng kinh tế trớc tòa án
và trách nhiệm của bên vi phạm".
Do trình độ hạn hẹp với một vấn đề rộng lớn, phức tạp, bài viết
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong sự đóng góp của thầy
cô giáo để em hoàn thiện bài tiểu luận của mình đợc tốt hơn.
Ngoài lời mở đầu và kết luận, bài tiểu luận gồm 2 phần chính :
Phần A : Khái niệm và việc thực hiện hợp đồng kinh tế
Phần B : Tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến trách nhiệm vật chất
Phần A
Khái niệm và việc thực hiện
hợp đồng kinh tế
I. Khái niệm
Hiện nay, trong khoa học pháp lý khái niệm hợp đồng đợc hiểu theo
hai nghĩa chủ quan và khách quan.
* Theo nghĩa khách quan (hay còn gọi là nghĩa rộng)
Hợp đồng kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các đơn vị kinh tế (còn gọi là chế độ
pháp lý về hợp đồng kinh tế).
gây thiệt hại cho các bên gặp khó khăn do việc thực hiện hợp đồng dẫn đến
những tranh chấp đáng tiếc.
II. Cách thức thực hiện hợp đồng kinh tế
Thực hiện hợp đồng kinh tế là hành vi của các chủ thể tham gia
quan hệ hợp đồng nhằm làm cho các điều khoản đã cam kết trong hợp đồng
trở thành hiện thực.
Thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết là nghĩa vụ của các đơn vị
kinh tế. Các đơn vị phải thực hiện nghiêm chỉnh những điều đã cam kết
trong hợp đồng. Hợp đồng kinh tế đợc coi là thực hiện xong khi các bên
hoàn thành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Pháp luật hợp đồng kinh tế đã qui định nghĩa vụ của các bên trong việc thực
hiện đúng các điều khoản của hợp đồng kinh tế:
1. Thực hiện đúng điều khoản số lợng
Điều khoản về số lợng là một trong những điều khoản chủ yếu trong
nội dung của hợp đồng kinh tế. Thực hiện đúng về số lợng tức là giao đầy
đủ số lợng, trọng lợng hàng hóa, khối lợng công việc nh đã thỏa thuận.
Trong khi giao nhận, các bên phải tiến hành kiểm tra số lợng hoặc trọng l-
ợng hành hóa bằng các phơng pháp cân, đo, đong, đếm chính xác và lập
biên bản giao hàng.
Trong quá trình kiểm tra khi giao nhận, nếu các bên phát hiện ra sự
thiếu hụt hàng hóa thì phải tìm nguyên nhân của sự thiếu hụt để quy trách
nhiệm vật chất. Sản phẩm giao không đúng số lợng thì bên nhận chỉ đợc
nhận và thanh toán theo số thực nhận, còn số sản phẩm thiếu thì bên giao
phải giao tiếp sau đó. Đối với số sản phẩm đợc giao không đồng bộ và
không sử dụng đợc thì bên nhận có quyền từ chối nhận và từ chối thanh
toán sản phẩm hàng hóa, công việc cho đến khi hoàn thành đồng bộ.
Trong trờng hợp giao hàng hóa không đồng bộ, bên nhận đợc lựa
chọn một trong hai cách xử lý sau:
- Yêu cầu bên vi phạm phải hoàn thành đồng bộ sản phẩm, hàng
hóa, công việc rồi mới nhận. Nếu phải chờ hoàn thành đồng bộ mà hợp
nghĩa vụ phải sửa chữa các sai sót về chất lợng. Các bên có quyền thỏa
thuận thay thế việc sửa chữa sai sót bằng cách giảm giá hoặc đổi lấy sản
phẩm hàng hóa khác.
3. Thực hiện đúng điều khoản về thời gian giao nhận hàng hóa hoặc
công việc
Giao nhận hàng hóa hoặc công việc đúng thời gian là yếu tố quan
trọng giúp các bên thực hiện đúng tiến độ kế hoạch sản xuất kinh doanh của
mình. Thời gian giao nhận hàng hóa có thể là thời hạn hoặc thời điểm nhất
định do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Thời hạn giao hàng hóa hoặc công việc là khoảng thời gian nhất
định mà trong khoảng thời gian đó, hàng hóa hoặc công việc phải đợc hoàn
thành bàn giao, còn thời điểm là điểm thời gian cụ thể mà việc giao nhận đ-
ợc thực hiện.
Khi có vi phạm điều khoản về thời gian thực hiện hợp đồng (trờng
hợp giao chậm) bên bị vi phạm hợp đồng có quyền:
- Hoặc không nhận sản phẩm hàng hóa, công việc hoàn thành chậm
trễ, bắt phạt vi phạm hợp đồng và bồi thờng thiệt hại nh trờng hợp không
thực hiện hợp đồng.
- Hoặc nhận sản phẩm hàng hóa, công việc hoàn thành chậm trễ và
bắt phạt vi phạm thời hạn thực hiện hợp đồng và bồi thờng thiệt hại.
Trờng hợp hoàn thành trớc thời hạn, nếu trong hợp đồng không qui
định bên nhận phải tiếp nhận trớc thời hạn thì bên tiếp nhận có quyền cha
tiếp nhận hoặc tiếp nhận với điều kiện bên giao phải chịu các phí tổn bảo
quản trong thời gian cha đến thời điểm giao nhận qui định.
Trờng hợp bên giao thực hiện đúng thời hạn nh thỏa thuận trong hợp
đồng, bên nhận phải có nghĩa vụ tiếp nhận. Nếu không tiếp nhận sản phẩm
hàng hóa, công việc đã hoàn thành đúng chất lợng và thời hạn theo hợp
đồng kinh tế thì coi nh đã vi phạm điều khoản về thời gian giao nhận. Trờng
hợp nhận chậm, bên bị vi phạm có quyền:
- Bắt bên vi phạm chịu phạt vi phạm nghĩa vụ tiếp nhận sản phẩm,
định của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền. Các bên có nghĩa vụ thanh toán
cho nhau đúng giá cả qui định.
Thanh toán theo hợp đồng là khâu cuối cùng kết thúc quá trình thực
hiện hợp đồng kinh tế. Nghĩa vụ trả tiền phải đợc thực hiện theo phơng thức
và thời hạn thanh toán đã thỏa thuận trong hợp đồng kinh tế. Nếu trong hợp
đồng không ghi thời hạn trả tiền thì thời hạn đó là 15 ngày, kể từ ngày nhận
đợc hóa đơn đòi tiền (chỉ đợc lập hóa đơn, giấy đòi tiền phù hợp với việc
thực hiện từng phần hay toàn bộ hợp đồng kinh tế). Nghĩa vụ trả tiền đợc
coi là hoàn thành từ khi chuyển đủ tiền trên tài khoản của mình tại ngân
hàng cho bên đòi hoặc khi bên đòi tiền trực tiếp nhận đợc số tiền mặt theo
hóa đơn.
Ngoài ra, nghĩa vụ trả tiền cũng đợc coi là hoàn thành nếu bên trả
tiền đề nghị và đợc bên đòi tiền chấp nhận trả bằng hiện vật hoặc tài sản thế
chấp, cầm cố, bảo lãnh, có giá trị tơng đơng với số tiền phải trả và việc trả
hiện vật hoặc các tài sản đó đã thực hiện xong.
Bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán bị phạt vi phạm hợp đồng. Mức
phạt có thể bằng mức lãi suất tín dụng quá hạn theo qui định của pháp luật
và phải chịu bồi thờng thiệt hại cho bên kia số tiền lãi mà họ phải trả cho
ngân hàng trên số tiền cha đợc thanh toán. Trong trờng hợp này số tiền phạt
đợc tính căn cứ vào mức lãi suất tín dụng quá hạn nhân với thời gian chậm
thanh toán, không giới hạn mức tối đa.
Phần II
Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến
trách nhiệm vật chất
I. Trách nhiệm vật chất trong quan hệ hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm trách nhiệm vật chất
Khi hợp đồng kinh tế đã đợc ký kết và quan hệ hợp đồng kinh tế đợc
thiết lập đúng pháp luật, các bên có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh những
điều khoản đã cam kết. Nếu một bên nào có hành vi vi phạm gây thiệt hại
cho bên kia thì bên gây thiệt hại phải gánh chịu những hậu quả vật chất bất
- Điều khoản liên quan đến điều kiện khiếu nại gồm:
+ Nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa trong một thời hạn nào đó, nếu
sau thời hạn này thì không đợc khiếu nại
+ Nghĩa vụ thông báo những sai sót có thể thấy rõ đợc khi giao
nhận hàng hay trong một thời hạn nào đó
+ Nghĩa vụ thông báo những sai sót không thấy rõ ngay và,
hoặc thiệt hại phát sinh từ đó trong một thời hạn nhất định
+ Thời hạn đảm bảo hợp đồng
+ Nghĩa vụ gửi khiếu nại theo cách nhất định
+ Nghĩa vụ cung cấp những chứng cứ về các thiệt hại hay các
khoản đền bù khác
- Điều khoản liên quan đến việc thông báo trớc: Các bên cũng cần
qui định nghĩa vụ thông báo trớc về những khó khăn trong quá trình thực
hiện hợp đồng, khả năng khắc phục những khó khăn đó cũng nh yêu cầu
đối tác cùng cộng tác khắc phục. Bên bị vi phạm cũng cần thông báo cho
bên vi phạm biết về hành vi vi phạm của họ, yêu cầu giải quyết trong một
thời hạn nhất định, trớc khi áp dụng các chế tài qui định trong hợp đồng.
- Điều khoản báo trớc và việc sử dụng có giới hạn: Trong hợp đồng
cần thiết phải qui định về cách sử dụng, vận chuyển hàng hóa một cách
thích hợp để đề phòng những rủi ro có thể xảy ra. Trong trờng hợp đặc biệt thì
cũng cần phải có 1 điều khoản riêng qui định về điều này, cũng nh qui định
về loại trừ trách nhiệm trong trờng hợp sử dụng hàng hóa sai quy cách.
3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm vật chất
Trách nhiệm vật chất trong quan hệ hợp đồng kinh tế đợc áp dụng
khi có những căn cứ nhất định. Giống nh căn cứ phát sinh trách nhiệm vật
chất trong một số quan hệ pháp luật khác, căn cứ phát sinh trách nhiệm vật
chất trong quan hệ hợp đồng kinh tế bao gồm bốn căn cứ sau:
- Có hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế;
- Có thiệt hại thực tế xảy ra;
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế;
chấp hành không đầy đủ hợp đồng mà thôi (tức là co hành vi vi phạm).
Khi có đầy đủ những căn cứ nói trên, bên vi phạm phải chịu trách
nhiệm vật chất. Tuy nhiên, trong trờng hợp các bên ký kết hợp đồng cha
cần có thiệt hại thực tế xảy ra, bên có hành vi vi phạm đã phải gánh chịu
trách nhiệm dới hình thức phạt hợp đồng. Nói cách khác, không phải bất cứ
hình thức trách nhiệm tài sản nào cũng cần phải có đủ bốn điều kiện trên.
Để áp dụng chế tài phạt hợp đồng thì chỉ cần có hai điều kiện là đủ: có
hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm.
Bên vi phạm hợp đồng đợc xét giảm hoặc miễn hoàn toàn trách
nhiệm tài sản trong các trờng hợp sau đây:
a- Gặp thiên tai, địch họa và các trở lực khách quan khác không thể
lờng trớc đợc và đã thi hành mọi biện pháp để khắc phục.
b- Phải thi hành lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền
do Thủ tớng Chính phủ, Trởng ban chống lụt bão Trung ơng, Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng và cấp tơng đơng ký.
c- Do bên thứ ba vi phạm hợp đồng kinh tế với bên vi phạm, nhng
bên thứ ba không phải chịu trách nhiệm tài sản trong các trờng hợp a, b nói
trên.
d- Do vi phạm hợp đồng kinh tế của một bên là nguyên nhân trực
tiếp dẫn đến sự vi phạm hợp đồng kinh tế của bên kia.
4. Các hình thức trách nhiệm vật chất
Khi vi phạm hợp đồng kinh tế, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm
vật chất. Có hai hình thức trách nhiệm vật chất là phạt hợp đồng và bồi th-
ờng thiệt hại. Tiền phạt hợp đồng và tiền bồi thờng thiệt hại là số tiền mà
bên vi phạm phải lấy từ tài sản của mình trả cho bên bị vi phạm hợp đồng
kinh tế. Đối với những hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh thì một khoản tiền
phạt vi phạm hợp đồng phải nộp vào ngân sách nhà nớc.
a. Phạt hợp đồng
Phạt hợp đồng là một chế tài tiền tệ đợc áp dụng nhằm củng cố quan
hệ hợp đồng kinh tế, nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật hợp đồng kinh tế
tín dụng quá hạn của ngân hàng nhà nớc Việt Nam tính từ ngày hết hạn
thanh toán. Số tiền phạt bằng mức lãi suất tín dụng quá hạn nhân với số tiền
chậm trả nhng với thời gian chậm trả, không giới hạn mức tối đa.
Trong trờng hợp pháp luật cha có qui định mức phạt, các bên có
quyền thỏa thuận về mức tiền phạt bằng tỷ lệ phần trăm giá trị phần hợp
đồng bị vi phạm hoặc bằng một số tiền tuyệt đối.
Riêng tiền phạt đối với trờng hợp vi phạm hợp đồng kinh tế theo chỉ
tiêu pháp lệnh, pháp luật có qui định khác.
b. Bồi thờng thiệt hại
Bồi thờng thiệt hại cũng là một chế tài tiền tệ dùng để bù đắp những
thiệt hại thực tế cho bên bị thiệt hại. Nếu nh hình thức phạt hợp đồng với
chức năng chủ yếu là trừng phạt, giáo dục và phòng ngừa thì bồi thờng thiệt
hại với chức năng chủ yếu là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị
thiệt hại cho bên bị vi phạm. Căn cứ phát sinh chế tài này là có hành vi vi
phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi vi phạm hợp đồng kinh tế và thiệt hại thực tế đó, có lỗi của bên vi
phạm.
Theo qui định của pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bên có hành vi vi
phạm, chỉ phải bồi thờng thiệt hại thực tế đã xảy ra, đó là những thiệt hại có
thể tính toán đợc bao gồm:
- Giá trị số tài sản mất mát, h hỏng bao gồm cả số tiền lãi phải trả
cho ngân hàng (trong trờng hợp bị vi phạm nghĩa vụ thanh toán), khoản thu
nhập mà lẽ ra trong điều kiện bình thờng (hợp đồng không bị vi phạm) thì
bên bị vi phạm cũng sẽ thu đợc.
- Các chi phí để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại do vi phạm hợp đồng
gây ra (chi phí hợp lý và cần thiết) mà bên bị vi phạm đã phải chi. Bên bị vi
phạm có nghĩa vụ phải chứng minh đã áp dụng các biện pháp cần thiết để
hạn chế thiệt hại ngay sau khi đợc biết có vi phạm.
- Tiền phạt vi phạm hợp đồng và bồi thờng thiệt hại mà bên bị vi
phạm phải trả cho ngời khác do hậu quả trực tiếp của sự vi phạm hợp đồng
là Công ty ô tô Daewoo Việt Nam (VIDAMCO) có ký hợp đồng bán cho
công ty TNHH Xây dựng - Giao thông Tân á (TANACO) 150 xe ô tô hiệu
Daewoo theo phơng thức trả chậm, với tổng số tiền là 2.695.000 USD (cha
tính tiền trả lãi góp).
Cụ thể : Theo hợp đồng VID-TNC/95720 năm 1995, VIDAMCO
bán cho TANACO 100 xe ô tô du lịch tổng trị giá 1.820.000 USD, thanh
toán ngay 10%, số còn lại 1.683.000 USD đợc chia làm 6 tháng 1 lần trả
chậm, bắt đầu từ ngày 17/10/1996 và hoàn thành việc thanh toán vào ngày
10/10/1998 ; Hợp đồng VID-TNC 961146 năm 1996, VIDAMCO bán cho
TANACO 50 ô tô du lịch trị giá 825.000 USD, thanh toán trớc 123.000
USD vào ngày 14/11/1996, số còn lại đợc chia làm 6 tháng 1 lần trả chậm
và hoàn thành trớc ngày 30/11/1999. Để đảm bảo việc trả nợ, Ngân hàng th-
ơng mại cổ phần ngoài quốc doanh (VP Bank) đã ký giấy bảo lãnh thanh
toán.
Thực hiện hợp đồng, VIDAMCO đã giao hàng đúng chủng loại, số
lợng, chất lợng, thời gian và địa điểm. Nhng ngợc lại, TANACO lại cố tình
chây ỳ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nợ VIDAMCO 1.795.972 USD (bao
gồm cả tiền hàng và tiền phạt do chậm thanh toán). Theo ông tổng giám
đốc VIDAMCO Jung In Kim, công ty đã nhiều lần yêu cầu TANACO thực
hiện nghĩa vụ thanh toán dứt điểm các khoản nợ và VP Banhk thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh thanh toán của mình. Nhng cuối cùng mọi thiện chí giải
quyết nợ nần bằng con đờng hòa giải đều bị các đối tác khớc từ. Vì vậy, để
đảm bảo quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình, ngày 7/10/1998,
VIDAMCO đã làm đơn khởi kiện ra Tòa Kinh tế, Tòa án Nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh yêu cầu TANACO và VP Bank thực hiện nghĩa vụ của
mình.
Sau gần 2 năm nghiên cứu, xem xét tất cả các chứng cứ, cuối năm
2001, Tòa kinh tế Tòa án Nhân dân TP HCM đã ra bản án chấp nhận yêu
cầu đòi nợ của VIDAMCO, buộc TANACO phải thanh toán cả tiền hàng và
tiền lãi quá hạn do chậm thanh toán hai hợp đồng là 1.796.061 USD. Tuy
II.
Khái niệm và việc thực hiện hợp đồng kinh tế
Khái niệm
Cách thức thực hiện hợp đồng kinh tế
1. Thực hiện đúng điều khoản số lợng
2. Thực hiện đúng điều khoản về chất lợng hàng hóa
hoặc công việc
3. Thực hiện đúng điều khoản về thời gian giao nhận
hàng hóa hoặc công việc
4. Thực hiện đúng điều khoản về địa điểm, phơng thức
giao nhận hàng hóa
5. Thực hiện đúng điều khoản về giá cả, thanh toán
2
2
3
3
4
5
6
6
Phần B -
I.
II.
Tìm hiểu các vấn đề liên quan đến trách nhiệm vật chất.
Trách nhiệm vật chất trong quan hệ hợp đồng kinh tế
1. Khái niệm trách nhiệm vật chất
2. Phân tích về các điều khoản liên quan đến trách
nhiệm vật chất
3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm vật chất