Một số vấn đề pháp lí liên quan đến quản lí đất đai và quyền sử dụng đất, trích từ Tạp chí Luật học - Pdf 28

Bài tập lớn học kì môn Luật đất đai
MỤC LỤC
NỘI DUNG Trang
MỤC LỤC………………………………………………………………………….1
ĐỀ BÀI….………………………………………………………………………….2
Câu 1…………..……………………………………………………………………3
Câu 2……………………..…………………………………………………………5
Câu 3……………………………………………………………………………......5
Câu 4………………………..………………………………………………………7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………...9
1
Bài tập lớn học kì môn Luật đất đai
ĐỀ BÀI
Vợ, chồng ông T có 5 người con, trong đó anh L là người con trai duy nhất.
Khi tuổi già sức yếu, vợ, chồng ông T quyết định trao toàn bộ diện tích nhà, đất cho
vợ, chồng anh L. Để thực hiện ước nguyện của mình, ngày 09/09/2009, ông T và
vợ là bà V đã đến Phòng công chứng số 1, thành phố H làm hợp đồng tặng, cho nhà
đất của mình cho vợ, chồng anh L (mảnh đất này đã có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất); với điều kiện, vợ, chồng anh L phải có nghĩa vụ phụng dưỡng bố mẹ già
và sau này chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên.
Sau khi được tặng cho nhà, anh L phá ngôi nhà cũ của cha mẹ và xây dựng
một ngôi nhà mới. Thời gian đầu, tình hình sống chung của vợ chồng anh L với ông
bà T rất tốt. Nhưng càng về sau do phát sinh mâu thuẫn, mối quan hệ giữa vợ
chồng anh L với ông bà T diễn ra rất căng thẳng dẫn đến không thể cùng sống
chung trong một ngôi nhà. Tuy nhiên, do không còn chỗ ở khác nên ông bà T đã
làm đơn khởi kiện đòi lại nhà đất của mình hiện do vợ chồng anh L sử dụng
Hỏi:
1. Anh (chị) hãy cho biết việc kiện đòi lại nhà đất của ông bà T là đúng hay sai?
Tại sao?
2. Vụ việc trên đây thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan Nhà nước nào? Vì
sao?

3. Trong trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng
cho không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi
thường thiệt hại.”
Điều 467. Tặng cho bất động sản
“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng
thực hoặc phải đăng ký, nếu theo quy định của pháp luật bất động sản phải đăng
ký quyền sở hữu.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất
động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể
từ thời điểm chuyển giao tài sản.”
Điều 427. Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng dân sự
“Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự
là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các
chủ thể khác bị xâm phạm”
Như vậy ở đây ta xét 2 trường hợp:
Trường hợp 1: Mâu thuẫn do vi phạm điều kiện của hợp đồng (mâu thuẫn về
vấn đề phụng dưỡng bố mẹ già và chăm lo mồ mả, hương khói tổ tiên)
Trong trường hợp này vợ chồng anh L đã vi phạm điều kiện của hợp đồng tặng
cho nhà đất. Nếu vợ chồng anh L không đồng ý nuôi dưỡng ông bà T thì căn cứ
Khoản 3 điều 470 BLDS 2005, ông bà T có quyền đòi lại nhà, đất đã tặng, cho
(tất nhiên là trừ đi 1 phần chênh lệch do vợ chồng anh L đã xây nhà mới)
Trường hợp 2: Mâu thuẫn vì lý do khác không liên quan đến điều kiện của hợp
đồng
Như vậy ở đây vợ chồng anh L không vi phạm các điều kiện của hợp đồng thì
hợp đồng tặng cho của ông bà T hoàn toàn có hiệu lực và ông bà T hoàn toàn
không có quyền kiện đòi lại nhà đất đã tặng cho vợ chồng người con. Theo
4
Bài tập lớn học kì môn Luật đất đai
khoản 1 Điều 44 Luật Công chứng: “Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng,
giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status