Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam - Pdf 28


1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình truyền thông mới, sự chuyển
đổi sâu rộng trong xu hướng tiếp nhận thông tin đã đẩy ngành công nghiệp báo chí
truyền thống trên toàn cầu vào tình cảnh vô cùng khó khăn, đặc biệt tại Châu Mỹ
và Châu Âu.
1.2. Sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng
trên. Với tỷ lệ phổ cập Internet cao, thực tế, ở Việt Nam, việc đọc báo trên mạng đã
bắt đầu ảnh hưởng đến thói quen xem tin tức hàng ngày của nhiều người dân. Việc
tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng có nhiều thay đổi so với trước đây.
1.3. Câu hỏi đặt ra là: “thời hoàng kim” của báo chí truyền thống châu
Á, trong đó có Việt Nam sẽ tồn tại được đến khi nào? Nếu 55% người Mỹ dự
đoán rằng phương tiện truyền thông truyền thống sẽ chỉ tồn tại chừng 10 năm
nữa thì tỷ lệ tương ứng của người Việt Nam là bao nhiêu; liệu đến thời điểm
nào, báo in, truyền hình, phát thanh trở nên lạc hậu trước nhu cầu tiếp nhận
thông tin của người dân? Ai là công chúng chính của từng loại hình báo chí
Việt Nam hiện nay? Làm thế nào để các loại hình báo chí truyền thống vẫn luôn
thu hút được công chúng?
Những vấn đề trên cho thấy việc tìm hiểu Xu hướng tiếp nhận sản phẩm
báo chí của công chúng Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng nhu
cầu, khả năng tiếp nhận báo chí ngày càng cao của công chúng hiện nay.
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nắm bắt thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí, Luận án
đề cập đến xu hướng tiếp nhận của công chúng Việt Nam đối với bốn loại hình
báo chí cơ bản (bao gồm báo in, báo truyền hình, báo phát thanh và báo mạng
điện tử) và các phương tiện truyền thông mới. Từ đó, Luận án sẽ cung cấp
những dự báo có độ tin cậy về sự phát triển của báo chí Việt Nam nói chung và
các loại hình báo chí nói riêng.

Báo chí và Sự phát triển của khoa học kĩ thuật công nghệ.
4.2. Giả thuyết nghiên cứu

3
(1) Trên thực tế đang có sự vận động nhanh về ảnh hưởng của các loại hình
báo chí đối với công chúng. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ,
những xu hướng mới của báo chí thế giới, đặc điểm tiếp nhận có cả xu
thế chung và những nét riêng biệt của người Việt Nam sẽ tạo ra sự
chuyển biến nhanh, sâu, rộng trong nhu cầu, điều kiện tiếp nhận sản
phẩm báo chí trong tương lai.
(2) Những thay đổi trên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó có yếu
tố thế hệ cao – trung – trẻ tuổi, đặc biệt là thanh thiếu niên – lớp công
chúng trẻ sẽ quyết định đặc trưng tiếp nhận báo chí trong tương lai như
thế nào.
(3) Các loại hình báo chí truyền thống như báo in, phát thanh và truyền
hình bị ảnh hưởng mạnh, dẫn đến sụt giảm về công chúng và thậm chí
có thể diệt vong trước tốc độ phát triển mạnh của báo mạng cũng như
các phương tiện truyền thông mới, với các thiết bị điện tử cá nhân, nhất
là thông qua điện thoại di động, máy tính bảng.
5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp luận
* Phương pháp luận chung: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác- Lênin, Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử;
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về báo chí – truyền thông v.v…
* Phương pháp luận chuyên biệt: Sử dụng các lý thuyết: Truyền thông
đại chúng, lý thuyết xã hội học TTĐC, lý thuyết tâm lý báo chí, lý thuyết tiếp
nhận, lý thuyết sử dụng và hài lòng trong định hướng phân tích.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu chung: Đề tài sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu chung của khoa học xã hội nhân văn như phân tích – tổng

công chúng: những thay đổi của các yếu tố ảnh hưởng, thay đổi trong cách thức
tiếp nhận của công chúng tương lai, xu hướng phát triển các loại hình báo chí
8. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục
các chữ viết tắt, mục lục, phụ lục, nội dung Luận án gồm 5 chương, 17 tiết. 5
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu công chúng truyền thông đại chúng: Nghiên cứu sự
tiếp nhận các sản phẩm truyền thông của các nhóm công chúng là một trong
những hướng nghiên cứu cơ bản về truyền thông trên thế giới, kể cả phạm quốc
tế cũng như mỗi quốc gia.
1.1.2. Nghiên cứu xu hướng báo chí thế giới
Hiệp hội báo chí các nước hàng năm có các nghiên cứu, thống kê, báo
cáo về thực trạng phát triển cũng như xu hướng tiếp nhận báo chí của công
chúng trên nhiều phạm vi khác nhau, đặc biệt là các nước có nền báo chí phát
triển mạnh như Mỹ, Pháp, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản, Áo… Các tổ chức truyền
thông nổi tiếng như Nielsen, TNS, Kantar Media… cũng cung cấp nhiều dữ
liệu, phân tích, đánh giá về công chúng báo chí của thế giới, các châu lục, quốc
gia.
Có thể kể ra một số xu hướng: báo chí đa phương tiện, báo chí “công
dân”, toàn cầu hóa báo chí, địa phương hóa báo chí, báo chí tiêu dùng, báo chí
di động… Các khuynh hướng đó đã phản ánh khách quan các đòi hỏi của thị
trường báo chí, thị hiếu của công chúng trên toàn thế giới, giữa các châu lục,
các khu vực, quốc gia khác nhau.
1.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu công chúng
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XU HƯỚNG
TIẾP NHẬN SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA CÔNG CHÚNG
2.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1. Sản phẩm báo chí
Sản phẩm báo chí là sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình
thức chuyển tải như tờ báo in, tờ báo mạng, chương trình phát thanh, truyền
hình, báo chí trên điện thoại di dộng.

7
2.1.2. Công chúng báo chí
Công chúng báo chí là đối tượng mà báo chí (bao gồm báo in, truyền
hình, phát thanh, báo mạng, báo chí trên thiết bị di động) hướng vào để tác
động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình. Đồng thời,
công chúng còn tương tác trở lại, tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm –
phát tán thông tin, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo
chí - truyền thông.
2.1.3. Xu hướng tiếp nhận: là xu thế thiên về một chiều hướng nào đó của
báo chí, của công chúng, có mục tiêu, ý nghĩa và ảnh hưởng trong thời gian dài,
tác động đến hệ thống báo chí của một quốc gia, khu vực và thế giới. Sự tiếp
nhận này có thể là bị động hay chủ động. Nó mang tính tương tác rất cao giữa
sản phẩm báo chí – cơ quan báo chí – công chúng trong nền báo chí hiện đại.
2.2. Các lý thuyết tiếp cận vấn đề nghiên cứu
2.2.1. Lý thuyết truyền thông: Các lý thuyết TTĐC được chúng tôi vận
dụng ở hầu hết các cách đưa ra chỉ báo, đánh giá, nhận định về hoạt động,
quá trình, hiệu quả tiếp nhận của công chúng với từng loại hình báo chí, các
phương thức cũng như nội dung, hình thức tiếp nhận.
2.2.2. Lý thuyết xã hội học truyền thông đại chúng: Tính chất dự báo là

và công nhân viên chức Nhà nước; Trình độ Đại học và cấp 3 chiếm tỷ lệ chủ
yếu; Tình trạng hôn nhân có tỷ lệ độc thân chiếm cao hơn: chưa từng kết hôn
50,7%, góa/ly thân/ly hôn 2,2%.

CHƯƠNG 3
THỰC TRẠNG TIẾP NHẬN
SẢN PHẨM BÁO CHÍ CỦA CÔNG CHÚNG VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. Thực trạng tiếp nhận các loại hình báo chí
3.1.1. Công chúng truyền hình lớn nhất, nhưng đang có xu hướng
giảm dần: tỷ lệ công chúng xem truyền hình với tần suất đều đặn hàng ngày
chiếm tới 72.3%, cao hơn hẳn các loại hình khác. Tuy nhiên, xét trong khoảng
từ 2006 trở lại đây, tỷ lệ người theo dõi truyền hình trên phạm vi cả nước đã có
sự sụt giảm khá rõ rệt qua khảo sát của các công ty truyền thông. Có thể thấy
rằng sự suy giảm này là một xu thế chuyển dịch khá thú vị: công chúng suy
giảm về số lượng tổng cũng như mức độ xem hàng ngày, tuy nhiên công chúng
của các kênh, các chương trình, đặc biệt các chương trình hấp dẫn sẽ gia tăng
do sự bùng nổ, cạnh tranh mạnh mẽ của các kênh, các Đài trung ương cũng như
địa phương.

9
3.1.2. Công chúng báo mạng tăng lên mạnh mẽ: Từ 2008 – 2010, báo
mạng và các trang thông tin điện tử đã bắt đầu có sự dịch chuyển, soán ngôi
phát thanh lên vị trí thứ 3. Và đến năm 2011, báo mạng nhanh chóng soán ngôi
báo in, vươn lên vị trí thứ 2, chỉ sau truyền hình. Khảo sát của tác giả cho thấy,
mặc dù vẫn còn 17% công chúng không sử dụng báo mạng do chưa biết tới
Internet, số người sử dụng với tần suất “hàng ngày” hiện nay lên đến 67%.
3.1.3. Công chúng báo in giảm dần và chững lại với lượng độc giả thấp:
Có 30,5% số người được hỏi khẳng định sử dụng báo in với mức độ “hàng
ngày”. 21,5% trả lời thỉnh thoảng đọc ở tần suất “vài lần/tuần”; 9,3% là “vài
lần/tháng”; “vài lần/năm” là 3,3%. So sánh với những năm trước đây, sự suy

nhất là 19h - 20h, chiếm 61.5%. Khung giờ cao điểm thứ hai là từ 20h-21h
chiếm 41.3% .
* Phát thanh và báo mạng điện tử - “ly café nhấm nháp” cả ngày: Cả
hai đều tăng lượng độc giả, thính giả cao nhất vào buổi tối. Công chúng nghe
đài phát thanh nhiều nhất là khung giờ gần đêm, 21h-22h, chiếm 17.8%; tiếp đó
là khung giờ từ 22h- 24h chiếm 14.9%. Khung giờ công chúng đọc báo mạng
nhiều nhất cũng vào buổi tối là 20h-21h và 21h-22h. Tuy nhiên, có một điểm
khác biệt là nhóm công chúng của báo mạng có thói quen sử dụng trong khung
giờ hành chính buổi sáng cao hơn nhóm công chúng của phát thanh.
3.2.2. Cá nhân hóa báo chí
3.2.2.1. Số lượng phương tiện truyền thông sở hữu cá nhân tăng mạnh
Với số lượng lớn các phương tiện sở hữu cá nhân, công chúng dễ dàng và
thuận tiện hơn khi tiếp nhận báo chí. Riêng với số lượng ô tô tăng dần tại Việt
Nam, sẽ là phương tiện hiệu quả cho công chúng phát thanh ở thành thị.
3.2.2.2. Không gian tiếp nhận tại nhà riêng tăng so với tại cơ quan và
nơi công cộng: Với truyền hình, không gian công chúng lựa chọn để đặt tivi
xem, đa số công chúng thường đặt tại phòng khách chiếm tới 48%, trong khi đặt
tại phòng ngủ chỉ có 5.8%, phòng ăn 1.3% . Với báo mạng, công chúng thường
sử dụng tại nhà chiếm tới 58.4% vì việc dùng mạng sẽ thoải mái và nhanh hơn.
Tại quán café và cơ quan chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, lần lượt là 5.2% và 0.3%.
3.2.3. Công chúng “công nghệ” cao
3.2.3.1. Nhu cầu tích hợp đa phương tiện: Kết quả khảo sát của tác giả
cho thấy nhu cầu sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là các thiết bị có tính năng đa
phương tiện đã tăng vọt. Cụ thể có thể thấy qua loại truyền hình internet
(18,3%) hoặc xem qua máy vi tính có kết nối internet (26,6%) mà công chúng

11
hiện đang sử dụng. Điều đó cũng thể hiện được loại truyền hình mà các nhà
cung cấp đưa ra thị trường có được công chúng tiếp nhận phổ biến hay không.
3.2.3.2. Nhu cầu sử dụng các phương tiện truyền thông mới: Tỷ lệ công

12
3.3. Thực trạng tiếp nhận nội dung sản phẩm báo chí của công chúng
3.3.1. Mục đích tiếp nhận của công chúng chủ yếu nắm bắt tin tức thời
sự: Báo mạng chiếm ưu thế so với các loại hình truyền thông đại chúng khác
trên phương diện “phục vụ học tập nghiên cứu, học hỏi, tìm kiếm thông tin, tăng
cường kiến thức” chiếm 61,1%. Trong khi đó các loại hình khác như nghe đài
chiếm 10,1%, đọc báo in chiếm 21,5% và truyền hình chỉ chiếm có 9,8%. Kết
quả trên cho thấy người dân đã coi Internet là công cụ tìm kiếm thông tin đặc
biệt, nói cách khác là một phương tiện truyền tải thông tin hữu hiệu, bên cạnh
các loại hình truyền thống như ta đã phân tích ở trên.
Tuy nhiên, bù lại, ưu thế của các loại hình truyền thông còn lại so với báo
mạng điện tử lại nằm ở việc “nắm bắt tin tức thời sự”, khi xem truyền hình
chiếm 52,7%, nghe đài chiếm 40,9% và đọc báo chiếm tới 60,2%, thì tỉ lệ này
của báo mạng chỉ khiêm tốn ở con số 13%.
3.3.2. Các tờ báo/kênh chính thống, chủ đề chính trị thời sự
được công chúng ưa thích nhất: Với báo in, độc giả dành sự quan tâm nhất và
ưa thích nhất với các chủ đề An ninh - pháp luật (38%) và văn hóa- xã hội
(28.8%), tiếp đó mới là các thông tin về thời sự, chính trị (21.1%). Bên cạnh các
thông tin thời sự, công chúng phát thanh còn có một nhu cầu lớn khác là giải
trí với các chương trình ca nhạc trẻ. Một điểm nhấn nữa trong thị hiếu tiếp nhận
của công chúng chính là nhu cầu khá lớn đón nhận các thông tin giao thông trên
sóng VOV. Ba kênh truyền hình công chúng thích xem nhất là VTV1 (37,2%),
VTV3 (18,7%) và VTV2 (7,9%). Các kênh truyền hình tổng hợp của các đài
truyền hình khu vực phía Nam như HTV7, HTV9 của Đài Truyền hình TPHCM
hay kênh của Đài Truyền hình Vĩnh Long thu hút người xem cao hơn một số
kênh sóng của các đài trung ương như VCTV1, VTC1, TTXVN… Một bộ phận
lớn công chúng truyền hình rất thích theo dõi các kênh phim truyện trong và
ngoài nước. Tỷ lệ này cao hơn hẳn số người thích theo dõi các kênh chuyên về
thể thao, âm nhạc, vốn cũng mang tính giải trí. Các trang báo mạng và thông
tin điện tử công chúng lựa chọn nhiều nhất để truy cập lần lượt là vnexpress,

10% theo dõi khá thường xuyên. Thậm chí, mức độ theo dõi các trang thông tin
điện tử tiếng Việt có nguồn gốc từ nước ngoài lên đến 60%, với khoảng 20%
theo dõi thường xuyên. Tiêu biểu nhất là trang BBC tiếng Việt, có đến gần 50%
công chúng đã từng tiếp nhận. Những trang thông tin khác như VOA, SaiGonbao
cũng đạt một tỷ lệ công chúng theo dõi gần 20%. Các lý do công chúng tiếp cận

14
các trang tin điện tử nước ngoài đều nghiêng về sự kiểm chứng thông tin và nhu
cầu nắm bắt thông tin có chiều sâu về tình hình chính trị trong nước.
3.4. Thực trạng tiếp nhận hình thức sản phẩm báo chí của công chúng
3.4.1. Truyền hình được đánh giá cao về ngôn ngữ hình ảnh
“Ngôn ngữ, hình ảnh hợp lý, dễ nghe” là yếu tố được công chúng đánh
giá cao nhất, chiếm 52.3%. Hình ảnh, âm thanh kèm nhạc hiệu mà truyền hình
truyền tải đã gây được sự thích thú và thú vị cho công chúng. Tiếp đó là yếu tố
“chất lượng sóng tốt” (50,9%), “sắp xếp chương trình hợp lý” (38,4%).
“Quảng cáo vừa phải” chiếm 10% trong sự đánh giá hình thức truyền tải tốt
đồng nghĩa với việc trong sự đánh giá hình thức truyền tải không tốt.
3.4.2. Phát thanh được đánh giá cao về ngôn ngữ giọng điệu
Công chúng đánh giá hình thức truyền tải tốt nhất là do “Ngôn ngữ,
giọng điệu hợp lý, dễ nghe” chiếm tới 42.8%. Tiếp đó là “chất lượng phủ sóng
tốt” 31.8% khiến người nghe không bị ngắt quãng khi nghe một chương trình
nào đó; “sắp xếp chương trình hợp lý” để không gây sự nhàm chán cho người
nghe là yếu tố chiếm tỷ lệ thứ ba 24.3%. Đặc biệt trên phát thanh, lượng
“quảng cáo vừa phải”18.8% khiến thính giả không phải chờ đợi lâu khi theo
dõi chương trình.
3.4.3. Báo in được đánh giá cao về hình thức trình bày
Việc “trình bày hợp lý, dễ theo dõi” chiếm 46% được độc giả lựa chọn
nhiều nhất trong việc đánh giá hình thức tốt của báo in hiện nay. “Ấn tượng, thu
hút người xem”được độc giả lựa chọn nhiều thứ hai chiếm 34.2% khi các đầu
báo hay các trang bìa ngày nay được thiết kế khá độc đáo và thu hút sự chú ý.

75. Trong các nhóm tuổi đưa ra, nhóm tuổi trưởng thành từ 25 – 39 là nhóm
công chúng có nhu cầu sử dụng các loại hình báo chí đa dạng nhất.
Giới trẻ, với đặc điểm ham học hỏi, tò mò và cả tinh thần phấn đấu, là
nhóm “tham lam” nhất khi quan tâm đến rất nhiều các chủ đề nội dung của báo
chí: thông tin chính trị, các vấn đề xã hội, thể thao, lao động việc làm, khoa học
- công nghệ, văn hóa, nghệ thuật và các tin giật gân, xì-căng-đan. Độ tuổi từ
25-39 muốn tiếp nhận nhiều nhất với hai chủ đề là chính trị trong nước và kinh
tế - tài chính. Với nhóm tuổi trung niên từ 40 – 60, chủ đề thông tin được quan
tâm nhất là các thông tin chính trị xã hội.
4.1.3. Viên chức nhà nước, học sinh - sinh viên – “thượng đế” của báo
chí
Hai nhóm công nhân viên chức và học sinh sinh viên có tỷ lệ theo dõi
hàng ngày khá đồng đều các loại hình báo chí. Đối với truyền hình, có tới 43%

16
trong tổng số cán bộ công nhân, viên chức nhà nước và 25% học sinh/ sinh
viên có mặt trong cuộc điều tra sử dụng dịch vụ này hàng ngày, cao hơn
nhiều so với các nhóm khác. Đối với các lao động trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, đây là nhóm công chúng ít có điều kiện tiếp cận và sử dụng báo chí
nhất. Loại phương tiện truyền thông được quan tâm nhất là truyền hình và phát
thanh, nhưng cũng không quá 10% theo dõi hàng ngày.
Nhóm cán bộ công nhân, viên chức luôn quan tâm đến các dạng thông tin
tổng hợp, cập nhật hàng ngày như các vấn đề xã hội, chính trị trong nước, an
ninh quốc phòng, kinh tế tài chính và các thông tin về sức khỏe y tế. Tương
đồng với cơ cấu độ tuổi trẻ 14 – 24 tuổi tại phần 4.1.2, nhóm nghề nghiệp có
nhu cầu đa dạng nhất về nội dung thông tin tiếp nhận chính là nhóm học sinh
– sinh viên.
4.1.4. Đồng bằng nghe đài, đọc báo, miền núi xem tivi
Đối với báo in: công chúng ở Trung du miền núi phía Bắc ít quan tâm
đến báo in so với hai khu vực còn lại (cao nhất là khu vực Duyên hải miền

sở (cấp 2) trở xuống, thường quan tâm đến vấn đề xã hội, gắn liền với các thông
tin giật gân, xì căng đan. Trong khi đó, càng học vấn cao, người ta càng ít quan
tâm đến những dạng “rác thông tin” kiểu giật gân, xì căng đan câu khách vốn
vẫn xuất hiện trên nhiều sản phẩm báo chí hiện nay.
Hoạt động tương tác đơn giản nhất là Gửi nhận xét, bình luận về một bào
báo hay Gọi điện đến đường dây nóng của một cơ báo chí chỉ thực sự diễn ra từ
nhóm có trình độ học vấn trung học phổ thông trở lên, với 45,1% công chúng
có tham gia hoạt động này. Những hình thức tương tác cao cấp hơn, phức tạp
hơn như Gửi ảnh, tư liệu; Gửi bài đăng báo; Viết bài phản hồi một bài báo
khác cũng chỉ thực sự diễn ra từ nhóm trình độ cấp 3 trở lên và thể hiện rõ nhất
với nhóm học vấn đại học và trên đại học.
4.1.7. Điều kiện kinh tế tỷ lệ thuận với nhu cầu sử dụng báo chí
Ở những mức chi phí sinh hoạt thấp, nhu cầu sử dụng báo chí của công
chúng là không cao. Ở mức hóa đơn tiền điện từ 100 nghìn đồng trở xuống,
lượng người sử dụng hai loại hình truyền hình và phát thanh chỉ đạt lần lượt là
54,7% và 54,2%. Sau đó, tỷ lệ này tiếp tục tăng trưởng qua các mức chi phí sinh
hoạt cao hơn và đạt lượng người theo dõi báo chí rất đông đảo khi tiệm cận mức
chi phí 500 nghìn đồng/ tháng đối với tiền điện sinh hoạt.
Đặc biệt, ở mức chi phí từ 500 – 1000 nghìn đồng, lượng người xem
truyền hình hàng ngày đạt tới 91,2% và sử dụng báo mạng điện tử đạt 86,6%.
Ấn tượng hơn ở loại hình báo chí vốn được coi là thoái trào trong thời buổi

18
truyền thông số là báo in, tỷ lệ người sử dụng hàng ngày đạt tới 77,6%, cao hơn
gấp rưỡi tỷ lệ trung bình sử dụng báo in hàng ngày của công chúng Việt Nam là
52,6%. Riêng báo phát thanh lại không chịu ảnh hưởng của yếu tố chi phí sinh
hoạt này.
84,8% số người có ô tô xem truyền hình hàng ngày trong khi chỉ đạt tỷ lệ
70,8% ở những người không có ô tô. Đặc biệt, với tính tiện nghi và đặc điểm
sử dụng của ô tô, tỷ lệ nghe đài hàng ngày lên đến 32%. Tỷ lệ sử dụng báo in và

4.2.4. Khả năng thu hút và đáp ứng nhu cầu công chúng của các cơ
quan báo chí: tạo ra một thị trường truyền thông sôi nổi, có tốc độ phát triển
nhanh, góp phần đáp ứng và làm nảy sinh nhiều nhu cầu đa dạng về thông tin
của công chúng. Tốc độ đưa tin nhanh, cập nhật, đa dạng của báo chí giúp công
chúng tiếp nhận bất cứ thời gian nào. Việc chủ động tìm kiếm, lựa chọn thông
tin báo chí ngày càng được định hình rõ nhờ sự phát triển của Internet. Tuy
nhiên, những thông tin, hình ảnh phản cảm xuất hiện trên báo chí tác động lớn
đến giá trị thẩm mỹ, đạo đức, nhân cách của một bộ phận người xem, đặc biệt là
nhóm công chúng trẻ, trong đó có trẻ em. Việc xuất hiện quá nhiều kênh tin tức
dẫn đến việc công chúng đôi khi bị nhiễu thông tin, mất phương hướng và đôi
khi là bội thực thông tin.
4.2.5. Văn hóa đọc/nghe/xem của người Việt Nam là nền tảng tiếp
nhận của công chúng báo chí truyền thống
Người Việt Nam cũng vẫn giữ một số đặc trưng tiếp nhận báo chí truyền
thống: thích đọc báo in vào buổi sáng khi ngồi café; thích xem truyền hình vào
thời điểm có bữa cơm gia đình; thích nghe phát thanh trước giờ đi ngủ… Ngoài
ra, tính chất công việc của công chúng nước ta dễ tạo ra thời gian tranh thủ vừa
làm vừa đọc báo, nhất là đối với công nhân viên Nhà nước. Mặc dù thế hệ trẻ sẽ
có nhiều sự thay đổi, chuyển biến trong cách thức tiếp nhận, nhưng những đặc
trưng trên không dễ dàng bị phá hủy, bởi nó đã ăn sâu vào văn hóa người Việt.
4.2.6. Sự cạnh tranh của các loại hình truyền thông xã hội là cơ hội
cũng như thách thức cho báo chí – công chúng báo chí: công chúng, mà
nhiều nhất là giới trẻ, sẽ có nhiều khả năng, điều kiện và sự chủ động trong tiếp
nhận cũng như lan truyền, kiến tạo thông tin hơn, tính tương tác báo chí tốt hơn.
Đồng thời, xu thế đó cũng đã đặt ra những vấn đề đáng lưu tâm ở khía cạnh
quản lý, dư luận xã hội, văn hóa mạng… cũng như ảnh hưởng đến nhận thức
của công chúng nếu thông tin không xác thực, không lành mạnh.

Việt: lợi thế cho báo in, truyền hình và phát thanh tiếp tục phát triển
5.1.2. Giới trẻ - tiếp nhận chủ yếu các loại hình báo chí mới

21
5.1.3. Khả năng đáp ứng công chúng của các cơ quan báo chí nâng
cao, sự cạnh tranh truyền thông mạng mạnh mẽ, sự phát triển báo chí thế
giới tác động sâu rộng, điều kiện kinh tế phát triển tăng cường mức độ đô thị
hóa: gia tăng khả năng tiếp nhận của công chúng
5.1.4. Khoa học kĩ thuật công nghệ, trình độ học vấn, cơ cấu nghề
nghiệp trí thức phát triển: thúc đẩy khả năng tương tác báo chí tăng cao
5.1.5. Cơ chế báo chí bao cấp, báo chí miễn phí sẽ giảm, mang lại cả cơ
hội và rào cản trong điều kiện tiếp nhận của công chúng
5.2. Dự báo xu hướng phát triển của các loại hình báo chí
5.2.1. Báo in: Trong thời gian tới, báo in sẽ suy giảm về lượng phát hành,
về công chúng, nhiều cơ quan báo chí sẽ chuyển đổi hình thức in sang số hóa và
kéo theo lượng công chúng sang hình thức này.
5.2.2. Truyền hình: Truyền hình có xu hướng giảm về lượng công chúng.
Tuy nhiên, một điều cần đặc biệt chú ý là sự suy giảm này có thể chỉ là sự thay
đổi về hình thức phương tiện truyền hình. Tức là, người ta ít sử dụng tivi để
xem chương trình truyền hình mà chuyển qua theo dõi trên Internet.
5.2.3. Phát thanh: Phát thanh có sự phát triển trở lại. Đặc biệt, ở các khu
vực đô thị, nhu cầu thưởng thức âm nhạc của giới trẻ và nhu cầu thông tin liên
quan đến việc vận chuyển, đi lại đang góp phần thu hút lại lượng công chúng
quan tâm.
5.2.4. Báo Mạng điện tử: Với những ưu thế mạnh mẽ về công nghệ, báo
mạng sẽ có tốc độ phát triển số lượng người xem mạnh nhất và sẽ sớm vươn lên
vị trí thứ nhất về tỷ lệ công chúng trong khoảng 2 năm nữa.
5.2.5. Hình thành loại hình “báo chí di động”: Hình thức báo chí hội tụ
trên thiết bị di động cá nhân sẽ trở thành loại hình được ưa chuộng nhất trong
những năm tới, và tạo thành loại hình báo chí thứ 5 – báo chí di động.

Hai là, báo in đang dần chuyển đổi sang hình thức số hóa, tức là hình
thức báo in được trình bày trên các thiết bị công nghệ số. Một điểm lưu ý là
ngược lại với sự sụt giảm của nhật báo, các tạp chí chuyên đề ở Việt Nam lại có
xu hướng gia tăng.
Ba là, sau một thời gian thoái trào mạnh, tốc độ suy giảm gần như đã đạt
đến mức bão hòa, phát thanh bắt đầu có dấu hiệu hồi phục.
Bốn là, báo mạng sẽ có tốc độ phát triển số lượng người xem mạnh nhất
và sẽ sớm vươn lên vị trí thứ nhất về tỷ lệ công chúng trong khoảng 2 năm nữa.
Đây là dự báo có sự đồng thuận từ công chúng cũng như nhà báo, cùng với chủ

23
trương của Nhà nước đưa báo mạng trở thành loại hình báo chí chủ lực trong
tương lai.
Năm là, công chúng của các phương tiện truyền thông mới phát triển
nhanh chóng với việc gia tăng các thiết bị điện tử cá nhân, nhất là thông qua
điện thoại di động và máy tính bảng.
Sáu là, về những biến đổi trong phương thức tiếp nhận của công chúng,
có nhiều biến đổi lớn đã được hình thành trong thời gian qua. Công chúng ngày
càng tăng cao về mức độ tiếp nhận thông tin, nhu cầu sử dụng các phương tiện
truyền thông hiện đại, tăng tính chủ động tiếp nhận báo chí và cá thể hóa báo
chí. Nhu cầu công chúng sử dụng công nghệ cao, đặc biệt là các thiết bị có tính
năng đa phương tiện đã tăng vọt. Thời đại “báo chí công dân” được thể hiện rõ
rệt hơn bao giờ hết. Khả năng tương tác với công chúng của các loại hình báo chí
hiện nay là rất tốt, so với thời gian trước đây.
Bảy là, khi xếp theo thứ tự ưu tiên nhất về loại nội dung thông tin mà
công chúng muốn tiếp nhận từ báo chí, những thông tin về tình hình chính trị,
xã hội được ưa thích nhất, kể cả là tin trong nước hay quốc tế. Dạng tin của địa
phương lại không được săn lùng.
Tám là, sự khác biệt giữa các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đáng kể đến xu
hướng tiếp cận và sử dụng các sản phẩm báo chí của công chúng. Nhóm các

triển của báo chí thế giới, những chuyển đổi trong cách hưởng thụ
thông tin của công chúng
4. Vấn đề số hóa báo in nói riêng, số hóa các loại hình báo chí nói
chung: xu thế và kinh nghiệm trên thế giới, thực trạng tại Việt Nam,
giải pháp, mô hình cho các cơ quan báo chí
5. Vấn đề nhà báo công dân: nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ, vai trò
của công chúng – báo chí – nhà báo; những cơ hội cũng như thách
thức đối với báo chí trong mối quan hệ này; khả năng phi báo chí hóa
cũng như những cách thức mới trong hưởng thụ - sáng tạo – vận
chuyển thông tin.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status