ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
NGUYỄN THỊ LINH
XÂY DỰNG HỆ THỐNG THỰC NGHIỆM VỀ MẠNG DỰA
TRÊN PHẦN MỀM GNS3 KẾT HỢP CÔNG NGHỆ ẢO HÓA
MÁY CHỦ VSPHERE ESXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ
Nguyễn Thị Linh
ii
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em muốn bày tỏ cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy giáo TS. Trần Trúc
Mai, TS Dương Lê Minh, anh Hoàng Tiến Quang đã tận tình hướng dẫn em
trong suốt quá trình thực hiện luận văn .
Em xin gửi lời lời cảm ơn sâu sắc đến những thầy cô giáo đã giảng dạy em
trong hai năm qua, đã giúp em có nền tảng vững chắc để hoàn thành khoá luận
này.
Cuối cùng, em muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, và đặc biệt là
gia đìnhđãluôn kịp thời động viên và giúp đỡ em vượt qua những khó khăn
trong cuộc sống để hoàn thành khóa luận.
2. 1. 1. Công cụ CLI, công cụ quản lý tự động 16
2. 1. 1. 1. ESXi Shell 18
2. 1. 1. 2. Lệnh “esxcli” 18
2. 1. 1. 3. Lệnh vim-cmd 20
2. 1. 1. 4. Sử dụng câu lệnh vCLI trong kịch bản 21
2. 1. 2. VMware snapshot 22
2. 2. Lý thuyếtvề GNS3 24
2. 2. 1. Giới thiệu chung 24
2. 2. 2. Cách xây dựng mô hình mạng trên GNS3 27
2. 2. 3. Kết nối các hosts vào mô hình mạng 30
2. 2. 4 Kết nối GNS3 với mạng thật 36
2. 2. 5 Các thiết bị Frame Relay và ATM 38
2. 3. Kết luận 40
Chương 3. XÂY DỰNG BÀI GIẢNG DỰA TRÊN GNS3 VÀ VMWARE ESXI SERVER 42
3. 1. Giải pháp kết hợp GNS3 và vSphereESXi 42
3. 1. 1. Giải pháp kết hợp GNS3 và vSphere ESXi 43
3. 1. 2. Đánh giá tài nguyên máy thật để xây dựng mô hình. 45 iv
3. 1. 3. Quy trình 47
3. 2. Xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu dựa trên VMware ESXI 49
3. 2. 1. Tạo snapshot 49
3. 2. 2. Nhân bản snapshot, tạo máy ảo liên kết 50
3. 3. Xây dựng hệ thống trung tâm dữ liệu dựa trên VMWare ESXI qua shell-script 53
3. 3. 1. Tạo snapshot 53
3. 3. 2. Nhân bản snapshot, tạo máyảo liên kết 54
3. 3. 3. Đổi IP cho máy ảo sau nhân bản 54
3. 3. 4. Bật máy ảo 55
3. 4. Xây dựng các mô hình mạng với GNS3 55
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNHVẼ
HÌNH VẼ
Hình 1: Màn hình GNS3 7
Hình 2: Các thiết bị mà GNS3 hỗ trợ 8
Hình 3: Cấu hình GNS3 cho phép máy tính kết nối qua IP và cổng (v1. 1) 9
Hình 4: Thông tin router 9
Hình 5: Cấu trúcVMware vSphere ESXi 10
Hình 6: Những điểm mới và cải tiến trong VMware ESXi [] 11
Hình 7: Kiến trúc vSphere ESXi 15
Hình 8: ESXCLI –giao diện dòng lệnh chuẩn của vSphere ESXi vCLI 17
Hình 9: Cấu trúc snapshot vàsnapshot con. 23
Hình 10: MụcPreferences 25
Hình 11: Đổi cổng thiết bị chuyển mạch 26
Hình 12: Add IOS image 27
Hình 13: Topo mạng 3 router kết nối 28
Hình 14: Kiểm tra kết nối 3 router bằng lệnh ping 30
Hình 15: Xây dựng topo giả lập kết nối router và host 31
Hình 16: Topo router kết nối host 32
Hình 17: Màn hình console VPCs 33
Hình 18: Màn hình host C1 ping router 33
Hình 19: Đổi tên LAN2 thành Loopback 34
BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng so sánh VMware vSphere ESXi và Hyper-V 13
Bảng 2: Bảng thông tin cấu hình thiết bị 57
Bảng 3: Thông tin máy ảo cung cấp 57
LỜI MỞ ĐẦU
Việc phát minh ra Internet là một trong những phát minh vĩ đại nhất của
nhân loại trong thế kỷ XX và sự phát minh này có ảnh hưởng rất lớn đến sự
phát triển kinh tế toàn cầu. Sự ảnh hưởng của Internet lên nền kinh tế thế giới,
lên cuộc sống của mỗi người trên thế giới sẽ còn tiếp tục trong nhiều năm tới,
đặc biệt là ở các nước đang và chưa phát triển. Với sự phát triển bùng nổ như
vũ bão của Internetkhiến nhu cầu đào tạo xây dựng nguồn nhân lực để duy trì,
quản lý, phát triển mạng ngày càng lớn. Từ các công ty hàng đầu trên thế giới
như Microsoft, Cisco, Oracle, IBM, Sun . . . đều phải cần đến một đội ngũ
chuyên viên, kỹ sư lớn để hỗ trợ và phát triển các giải pháp công nghệ phần
mềm và các thiết bị phần cứng mạng của họ trên toàn thế giới; đến các công ty
vừa và nhỏ, cũng cần một ai đó xây dựng, duy trì hệ thống mạng. Vì thế, trên
thế giới cũng như tại Việt Nam, có rất nhiều ngườitheo học các ngành liên
quan đến mạng máy tính tại các trường đại học và các trung tâm đào tạo.
Hiểu được những điều này, là một trong những trường hàng đầu về đào
tạo CNTT ở Việt Nam, trường Đại học Công Nghệ, đặc biệt là khoa CNTT,
trong đó có ngành Truyền dữ liệu và Mạng máy tính luôn luôn mong muốn
đào tạo, cung cấp ra thị trường nguồn nhân lực chất lượng cao được trang bị
đầy đủ tri thức và kỹ năng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp,
tổ chức, hay trong việc xây dựng nhà nước. Vì thế, việc nâng cao chất lượng
dạy học và đổi mới phương pháp dạy học là một trong những nhiệm vụ hàng
đầu của trường và khoa. Tuy nhiên, ngành Truyền dữ liệu và Mạng máy tính
có tính đặc thù riêng, để có thể nắm vững tri thức, ít bỡ ngỡ khi vào làm việc,
hiệu quả.
Từ những lý do trên, luận văn đề xuất giải pháp với tên đề tài như
sau:“Xây dựng hệ thống thực nghiệm về mạng dựa trên phần mềm GNS3
kết hợp công nghệ ảo hóamáy chủ vSphere ESXi”
Trước bối cảnh tình hình xã hội hiện nay và tương lai gần, luận văn
nhận thấy giải pháp này thực sự mang tính khoa học, có ý nghĩa thực tiễn và
tính ứng dụng cao.
Nhiệm vụ chính của luận văn là nghiên cứu, đề xuất các giải pháp xây
dựng hệ thống bài thực nghiệm về mạng dựa trên phần mềm GNS3 và Công
nghệ ảo hóa máy chủ, cụ thể là vSphere ESXi. Luận văn được tổ chức thành
ba chương
Chương 1: Bất cập trong dạy học môn mạng và các giải pháp liên
quan. Chương này sẽ phân tích thực trạng dạy học thực hành mạng, đưa ra các
giải pháp, các hướng đề xuất, cụ thể là mô hình Client – Server; giới thiệu về
phần mềm GNS3, công nghệ ảo, Công nghệ ảo hóamáy chủ vSphere ESXi. 3
Chương 2:Lý thuyết về GNS3 và công nghệ ảo hóamáy chủ vSphere
ESXi. Chương này sẽ nghiên cứu tính năng, ưu nhược điểm của GNS3
vSphere ESXi.
Chương 3: Xây dựng bài giảng dựa trên GNS3 và vSphere ESXi.
Chương này sẽ đưa ra giải pháp cụ thể cho việc xây dựng bài giảng. Đồng thời
bước đầu xây dựng mô hình thực nghiệm.
Nội dung của luận văn hy vọng sẽ đóng góp một giải pháp giúp xây
dựng một môi trường thực hành mạng hiệu quả tại trường ĐH Công nghệ với
chi phí đào tạo thấp nhất.
viên sinh viên có môi trường đào tạo. Tuy nhiên, qua quá trình tìm hiểu chúng
luận văn được biết, tại các cơ sở đào tạo nói chung, bộ môn MTTMT, trang
thiết bị để thực hành thì không có nhiều, chỉ đáp ứng một phần rất nhỏ trong
đó, không thể đảm bảo môi trường thực hành tốt cho sinh viên. Thêm vào đó,
có những kiến thức khi triển khai thực tế yêu cầu phải có một cơ sở hạ tầng
lớn, yêu cầu về khoảng cách địa lý rộng, không thể mô phỏng thành mô hình
thật, trên thiết bị thật cho sinh viên thực hành như VPN, FrameRelay. . . Điều
này cũng gây khó khăn cho cả giảng viên, học viên và sinh viên. Đây cũng là
một vấn đề cần được giải quyết để giúp sinh viên có tiếp cận sâu rộng và toàn
diện.
Một câu hỏi được đặt ra là: tại sao các cơ sở đào tạo không trang bị cho
sinh viên? Câu trả lời là: chi phí; Chi phí trang bị cho tất cả cả thiết bị là vô
cùng lớn, có thể lên tới hàng chục tỉ đồng. Thứ hai là, các thiết bị mạng trên
thức tế là rất nhiều chủng loại và các dòng máy khác nhau. Riêng switch có 2
đến hàng trăm chủng loại [
1
]. Thứ ba, như đã đề cập ở trên, không phải thiết
bị, cơ sở hạ tầng nào cũng có thể xây dựng trang bị được. Điều này cho thấy
khả năng trang bị các thiết bị cho sinh viên thực hành có khả năng thực hiện
không cao.
Trước những hạn chế này, việc nghiên cứu và xây dựng các phòng lab
ảo mà trong đó sử dụngcác thiết bị ảo có đầy đủ tính năng như thiết bị thật cho
học viên, sinh viên thực hành là một giải pháp tối ưu hiện nay. Ngoài ra, giải
pháp này khi áp dụng vào môi trường dạy học, có thể cung cấp, hỗ trợ các
hoạt độngdạy và học. Đó là, giáo viên có thể xây dựng các mô hình mạng từ
đơn giản đến phức tạp, vận dụng các kiến thức đã học để sinh viên có thể thực
hành. Sinh viên, học viên có thể sử dụng máy tính, truy cập từ xa vào các bài
- Tạo ra các thư mục với tên là các lớp học, các đối tượng học. Gán
các bài thực hành cho từng lớp học, đối tượng đó. Đồng thời cho
phép truy cập hoặc có thể kích hoạt thời gian truy cập vào các bài
học.
- Quản lý các bài thực hành theo thời gian, theo vết, gán bài thực hành
này cho đánh giá giữa ký, cuối kỳ của lớp nào.
- Quản lý kết quả thực hành của sinh viên theo từng bài, từng lớp để
có thể đưa giá đánh giá cuối cùng.
Đối với học viên - sinh viên:
- Sinh viên có thể tạo, sửa chữa, tẩy xoá ra các bài tập bằng cách kéo
thả các thiết bị ảo cần thiết, có thể gửi và chia sẻ vời giảng viên, sinh
viên khác để cùng làm việc.
- Nhận được các bài thực hành giảng viên gửi, cấu hình các bài lap
được giao. Sinh viên có thể sửa chữa, tẩy xoá phần cấu hình, nhưng
không có quyền chỉnh sửa bài thực hành trước khi nộp bài cho giảng
viên.
Về phía server, server có nhiệm vụ xử lý các thao tác sau:
- Đảm bảo xử lý các thao tác của người dùng và trả về đúng kết quả
mong muốn.
- Lưu trữ tất cả các bài thực hành với đầy đủ trạng thái, thông tin liên
quan.
- Đảm bảo cho giảng viên, sinh viên truy cập vào các bài thực hành
phù hợp với quyền hạn.
- Đảm bảo việc quản lý các bài thực hành theo thời gian, theo vết và
giúp giảng viên dễ dàng quản lý
- Đảm bảo việc lưu trữ các kết quả thực hành, lịch sử người dùng, có
thể truy xuất ra các định dạng khác nhau và theo từng lớp học, thời
gian giúp giảng viên có thể đưa ra đánh giá cho từng thời điểm (
cuối kỳ, giữa kỳ) vàtheo nhu cầu cụ thể.
Nhận thấy, mô hình Client – Server với giao diện phía client sử dụng
thường phải tiêu tốn hàng ngàn dolla cho việc trang bị các thiết bị thì giờ đây
nó trở lên hoàn toàn miễn phí. Mặc dù, ý tưởng ảo hoá thiết bị không phải là
mới, sự kỳ vọng của Dynamips là giúp tất cả mọi người có thể thực hành với
nó. Trên thực tế, có những chương trình ảo hoá thiết bị mạng như vậy ví dụ
như Packet tracer, Netsim, các chương trình này cung cấp sự ảo hoá một cách
hạn chế, chỉ cung cấp một số tính năng, câu lệnh cụ thể, ít ỏi. Dynamips
chạymột file ảnh Cisco đầy đủ nên gần như các câu lệnh mà được hỗ trợ trên
thiết bị phần cứng thật chạy file ảnh Cisco này thì cũng được hỗ trợ trên
Dynamips. Ngoài ra, Dynamips có khả năng tối ưu hoá rất cao và là một đặc
điểm nổi bật của Dynamips. Khả năng tối ưu hoá đầu tiên và quan trọng nhất
là giá trị không tải máy tính (idlepc value), một cách gọi ngắn gọn là giá
trịidlepc. Với Dynamips, việc xử lý hàng loạt các giá trị đầu vào có thể thực
hiện trên các bộ chuyển mạch, CPU riêng biệt thì giờ đây có thể thực hiện với
một phương pháp chia sẻ trên một máy tính đơn. Giá trị Idlepc giúp việc kiểm
soát việc máy tính xử lý những dữ liệu đầu vào như thế nào. Nếu không có
một giá trị idlepc, nó là rất dễ dàng khiến các CPU cài đặt nó bị kẹt trong một
vòng lặp xử lý, gây ra việc sử dụng lên thẳng đến 100%, ngay cả khimáy tính 5
với cấu hình CPU mới nhất và khoẻ nhất. Với một giá trị idlepc, máy tính có
thể phá vỡ vòng lặp, do đó chờ đợi một lệnh hợp lệ để đi vào trước khi ghi chu
kỳ CPU. Với giá trị idlepc đúng và đủ bộ nhớ, có thể chạy 10-15 bộ chuyển
mạch trên thậm chí là một máy tính xách tay lõi kép mà không gặp một vấn đề
gì. Dynamips đã làm cho quá trình xác định giá trị idlepc khá đơn giản. Mặt
khác, Dynamips còn có một số tính năng tối ưu hoá khác như
GhostIOS/SparseMem đảm bảo tất cả các bộ định tuyến chạy cùng một không
gian bộ nhớ duy nhất cho tất cả các bộ định tuyến đang chạy và đảm bảo rằng
bộ nhớ chỉ được phân bố cho các bộ định tuyến cần được sử dụng
Dynamips còn có một số tính năng nổi bật khác như chức năng chuyển
giải quyết khác. Đó là sử dụng GNS3 kết hợp với vSphere. GNS3 là phần 6
mềm giao diện đồ họa choDynamips nên GNS3 có đẩy đủ những ưu điểm của
Dynamips, hỗ trợ mô hình client-server và cung cấp thêm những tính năng
khác giúp mọi công việc trở nên đơn giản hơn. Tuy nhiên, GNS3 có một số
nhược điểm nhưng vSphere ESXi đã khắc phục được nhược điểm này. Giới
thiệu về GNS3, công nghệ ảo hoá vSphere ESXi và phân tích lý do luận văn
chọn GNS3 sẽ được đề cấp trongcác phần tiếp theo.
1.3. GNS3: phần mềm mô phỏng mô hình mạng hữu hiệu
GNS3 (Graphical Network Simulator)[
3
] là giao diện đồ họa cho
Dynamips, một phần mềm giả lập hệ thống mạng ảo hữu hiệu. GNS3 có đầy
đủ các tính năng nổi bật của Dynamips/Dynagennhư GNS3 chạy Cisco IOS
thật nhưng hạn chế một số nhược điểm của Dynamips. GNS3 là chương trình
mở rộng tối ưu cho Dynamips và Dynagen để tạo ra môi trường đồ họa thân
thiện người dùng. Bên cạnh đó GNS3 được tính hợp rất nhiều các công cụ
giúp người dùng thiết kế và cấu hình các mô hình mạng một cách dễ dàng.
GNS3 có thể tương thích với rất nhiều hệ điều hành. Cho phép người
dùng có thể kết nối một mạng ảo với mạng thật hay có thể kết hợp với các
phần mềm ảo hóa khác như VMWare, VirtualPC, …Chính vì GNS3 chạy
Cisco IOS do đó nó cho phép người dùng có thể thực hiện tất cả các lệnh như
trên Router thật, không bị giới hạn các tính năng như những phần mềm ảo hóa
khác.
GNS3 hỗ trợ các chường trình ảo hóa khác như Qemu, Pemu và Virtual PC
trường mạng thật. Có rất nhiều các phần mềm mô phỏng hiện nay, tuy nhiên
có một số câu lệnh, tham số có trên thiết bị thật không được hỗ trợ. GNS3 hỗ
trợ đa dạng các thiết bị mô phỏng cho Cisco IOS, PIX, ASA, IPS hay Juniper
JunOS cũng mô phỏng các máy chủ Linux, Windows, Mac OS X, FreeBSD.
GNS3 giả lập một hay nhiều Router trên máy tính cá nhân, sau đó nạp các hệ
điều hành liên mạng (IOS) đang chạy trên các Router thực vào. Do đó, bất kỳ
thao tác nào chạy được trên Router thật cũng sẽ hoạt động được trên Router
giả lập này, và các lỗi xảy ra, nếu có, cũng tương đồng giữa hai môi trường
này. Vì vậy, có thể biết được chính xác sản phẩm IOS thực tế là gì và thực
hành như trên thiết bị thật.
Hai, GNS3 có thể tương tác với các máy ảo Virtual box, VMWare nên
có thể giả lập các hệ điều hành chạy trên môi trường ảo kết nối vào môi
trường ảo hóa. Các phần mềm khác không hỗ trợ được điều này.
Ba, GNS3 có thể kết nối với mạng thật qua cáp mạng của máy cài
GNS3. Do đó, có thể thử nghiệm máy thật với môi trường mạng ảo. Giúp mở
rộng mô hình mạng ảo thành phòng thực hành ảo.
Bốn, GNS3 là phần mềm xây dựng có nhân là bộ chương trình
Dynamips/Dynagen nhưng đưa ra giao diện đồ họa nên có đầy đủ các đặc tính
nổi bật của Dynamips. GNS3 cho phép người dùng sử dụng dễ dàng, có thể
kéo thả tùy chọn, không cần cấu hình và hiệu chỉnh các tập tin. net trong
Dynamips/Dynagenbằng dòng lệnh.
Hệ thống Client/Server và đa server
Chế độDynamips “Hypervisor” được GNS3 sử dụng là một kênh giao tiếp
TCP/IP, vì vậy GNS3 có thể chạy trên một máy tính khác hơn là mô phỏng
Dynamips. Kể từ phiên bản GNS3 v1. 1, phần mềm đã chỉ rõ việc xem GNS3
như là một server để có thể truy cập từ các máy khác vào. 9
máy chủ vSphere ESXi sẽ tạo một lớp ảo hóa Hypervisor [
5
] để điều khiển
quá trình chia sẻ và sử dụng tài nguyên của các máy ảo. Nhờ cấu trúc xử lý
linh hoạt nên các máy ảo có thể tận dụng tối đa hiệu suất phần cứng và quản lý
dễ dàng hơn.
Hình 5: Cấu trúcVMware vSphere ESXi
Cốt lõi của bộ sản phẩm vSphere là hypervisorhay còn gọi là bare-metal
hypervisor [
6
] cho phép chạy trực tiếp trên nền tảng phần cứng của máy chủ,
không thông qua bất kì một hệ điều hành hay một nền tảng nào khác. Các
hypervisor này có khả năng điều khiển, kiểm soát phần cứng của máy chủ; nó
cũng có khả năng quản ly
́
các hệ điều hành chạy trên nó. Mọi vấn đề liên lạc
giữa máy ảo với phần cứng được thực hiện qua lớp ảo hóa Hypervisor do máy
chủ vSphere ESXi tạo ra. Vì vậy tốc độ làm việc của các máy ảo nhanh hơn và
đạt hiệu quả cao hơn.
Trong vSphere, hypervisor bao gồm hai hình thức khác nhau:VMware
ESX và VMware ESXi. Cả hai sản phẩm này chia sẻ cùng một độngcơ ảo hóa
lõi, cả hai có thể hỗ trợ cùng một tập hợp các tính năng ảo hóa, và cả haiđược 11
cài đặt và chạy trên hệ thống phần cứng. VMware ESX và ESXi khác nhau
vềcách thức chúng được đóng gói.
VMware ESX bao gồm hai thành phần tương tác với nhau để cung cấp
một môitrường ảo hóa năng động và mạnh mẽ: Service Console (COS) và
đây là một giải pháp cho bài toán này.
1.4.2. Nhận xét giữa công nghệ ảo hóamáy chủ vSphere ESXi và các công
nghệ ảo hóa khác (hyper-V)
Trong công nghệ ảo hoá máy chủ, có rất nhiều phần mềm được xây
dựng và phát triển, trong đó, có hai phần mềm nổi bật nhất là hyper-V và
VMwareESX/ESXi Server.
Hyper-V chính là công nghệ ảo hoá thế hệ kế tiếp dựa trên hypervisor
của Microfoft, Hyper-V khai thác phần cứng server 64-bit thế hệ mới. Hyper-
V chỉ chạy trên nền HĐH server 64 bit và CPU có hỗ trợ 64 bit có tính năng
ảo hoá và có nhiều cải tiến quan trọng trong Window Server 2008 x64 và tích
hợp các công cụ quản lý server quen thuộc trên Windows
VMware là sản phầm của VMware Inc. – một công ty phần mềm thuộc
tập đoàn EMC. VMware là công ty tiên phong và vẫn đang là một trong
những công ty phát triển nền tảng ảo hóa tốt nhất hiện nay.
Để có cái nhìn tổng quát về hai sản phẩm này, luận văn đưa ra Bảng 1.
Bảng so sánh xây dựng dựa trên cái nhìn về kiến trúc, đặc điểm của hai sản
phẩm. [
9
]
Tiêu chí
Hyper-V
VMware ESXi
Ưu điểm
1. Chi phí thấp (miễn phí với
hệ điều hành Server 2008 trở lên)
2. Phụ thuộc vào hệ điều
hành. Hyper-V thuộc kiểu một
của Hypervisor. Phần mềm phải
cài đặt trên máy chủ có cài sẵn hệ
Bảng 1: Bảng so sánh VMware vSphere ESXi và Hyper-V
Tuy Hyper-V có chi phí thấp nhưng VMWare lại có thể chạy độc lập
không cần HĐH, đồng thời, có thể tạo máy chủ ảo với những cầu hình có sẵn
một cách nhanh chóng. Ngoài ra, VMWare ESXi Server cũng cung cấp
license miễn phí cho người dùng với chức năng cho cơ bản nhưng đáp ứng đủ
nhu cầu sử dụng. VMWare ESXi Server cũng cung cấp cấu hình dựng sẵn,
một điều cần thiết nhất của đề tài, cộng thêm VMWare ESXi Serverhỗ trợ
mạnh mẽ việc tạo và nhân bản các máy ảo theo nhiều cách (giao diện và dòng
lệnh). Việc lựa chọn công nghệ nào là dựa vào nhu cầu và mục đích của người
sử dụng tuy nhiên tác giả của luận văn nhận thấy VMWare ESXi Server là
một lựa chọn tối ưu chobài toán này.
Luận văn quyết định tập trung nghiên cứu sâu hơn theo hướng này với
đề tài “Xây dựng hệ thống thực nghiệm về mạng dựa trên phần mềm GNS3 kết
hợp Công nghệ ảo hóa máy chủ vSphere ESXi”
1.5. Kết luận
Trong chương này, luận văn đã phân tích được tình hình thực tế, phân tích
bài toàn. Luận văn cũng đưa ra một số hướng giải quyết bài toán, phân tích ưu
nhược điểm và những khả năng hạn chế của nó. Đồng thời cũng giới thiệu sơ
bộ về GNS3 và công nghệ ảo hóamáy chủ vSphere ESXi. Từ đó, lựa chọn
hướng giải quyết bải toán. Trong chương tới, luận văn sẽ đề cập đến một số lý