Nghiên cứu phối hợp một số hóa chất nhóm pyrethroid để phòng chống muỗi anopheles epiroticus linton harbach, 2005 đã kháng hóa chất diệt côn trùng - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRỊNH HOÀNG ANH

NGHIÊN CỨU PHỐI HỢP MỘT SỐ HÓA CHẤT
NHÓM PYRETHROID ĐỂ PHÒNG CHỐNG MUỖI
ANOPHELES EPIROTICUS LINTON & HARBACH, 2005
ĐÃ KHÁNG HÓA CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội – 2014

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Hương
Bình và PGS.TS. Nguyễn Văn Vịnh đã hướng dẫn tôi rất tận tình và chu đáo trong
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện sốt rét – Ký sinh trùng – Côn
trùng Trung Ương, Ban chủ nhiệm khoa Sinh học trường Đại học Khoa học Tự
nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện giúp cho tôi học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn. Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn
Động vật học, khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc
gia Hà Nội đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập,nghiên cứu và tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Tôi gửi tới các bác, cô chú, bạn bè đồng nghiệp trong trường Trung cấp Y tế
Đặng Văn Ngữ, Khoa Côn trùng, Khoa Hóa thực nghiệm, Viện sốt rét – Ký sinh
trùng – Côn trùng Trung Ương, những người đã tận tình giúp đỡ, động viên và tạo
điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn. Cảm ơn bạn bè thân thiết luôn là
nguồn cổ vũ động viên tôi phấn đấu.
Với tất cả lòng biết ơn sâu nặng, tôi xin dành cho gia đình, bố mẹ, những
người đã dìu dắt, cổ vũ động viên, yêu thương và cảm thông sâu sắc.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 12 năm 2014
Học viên
Trịnh Hoàng Anh Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 43
3.1. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 43
3.1.1. Mức nhạy cảm của muỗi An. dirus chủng phòng thí nghiệm với các hóa chất
nhóm pyrethroid 44
3.1.2. Xác định hiệu lực xua diệt của các mẫu hóa chất trong buồng thử Glass
Chamber 45
3.1.3. Hiệu lực diệt tồn lưu của các mẫu hóa chất đối với màn và tường vách trong
điều kiện phòng thí nghiệm 46
3.1.4. Đánh giá tác dụng không mong muốn trong phòng thí nghiệm 50
3.2. Nghiên cứu tại thực địa 51
3.2.1. Mức nhạy cảm của muỗi An. epiroticus chủng thực địa với các hóa chất nhóm
pyrethroid 52
3.2.2. Đánh giá hiệu lực tồn lưu trên tường vách với muỗi An. epiroticus 53
3.2.3. Hiệu lực tồn lưu của hóa chất trên màn tẩm với An. epiroticus 54
3.2.4. Đánh giá hiệu lực của biện pháp phòng chống trước và sau khi tẩm 1 tháng 56
3.2.5. Đánh giá các thử nghiệm trong nhà bẫy 58
3.2.6. Kết quả đánh giá tác dụng không mong muốn của người tiếp xúc trực
tiếp với các mẫu hóa chất 66
3.2.7. Đánh giá khả năng chấp nhận của cộng đồng khi sử dụng các mẫu hóa
chất để phun và tẩm màn 66
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

CS: Dạng huyền phù trong viên nang (Capsule Suspension)

). 23
Bảng 2.3. Lượng hóa chất và lượng nước để pha dung dịch phun 200 m
2
và 50 m
2

tường 24
Bảng 2.4. Quy trình luân chuyển các loại màn và nhóm người ngủ 38
Bảng 2.5. Quy trình luân chuyển các loại tường và nhóm người ngủ 39
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá mức độ nhạy cảm của An. dirus với Alphacypermethrin
30 mg/m
2
và Lambdacyhalothrin 0,05% tại phòng thí nghiệm 44
Bảng 3.2. Thời gian ngã gục KT
50
và KT
90
trong buồng thử Glass Chamber với
muỗi An. dirus (chủng PTN) 45
Bảng 3.3. Hiệu lực tồn lưu của các mẫu tường phun với muỗi An. dirus tại phòng thí
nghiệm 47
Bảng 3.4. Hiệu lực tồn lưu của các mẫu màn tẩm với An. dirus trong phòng thí nghiệm 49
Bảng 3.5. Kết quả đánh giá mức độ nhạy cảm của An. epiroticus với
Alphacypermethrin 30 mg/m
2
và Lambdacyhalothrin 0,05% 52
Bảng 3.6. Hiệu lực tồn lưu của hóa chất trên tường với An. epiroticus 53
Bảng 3.7. Hiệu lực tồn lưu của các mẫu màn tẩm với An. epiroticus 55
Bảng 3.8. Mật độ muỗi An. epiroticus tại các điểm tẩm màn, điều tra bằng phương
pháp mồi người ban đêm 57

Hình 2.2. Cấu tạo nhà bẫy 35
Hình 2.3. Mô hình cấu tạo chi tiết nhà bẫy 35
Hình 3.1. Biến đổi tỷ lệ % muỗi An. dirus chết của các mẫu tường phun hóa chất tại
phòng thí nghiệm 47
Hình 3.2. Biến đổi tỷ lệ % muỗi An. dirus chết của các mẫu màn tẩm hóa chất trong
phòng thí nghiệm Error! Bookmark not defined.
Hình 3.3. Biến đổi tỷ lệ % muỗi An. epiroticus chết của các tường phun hóa chất . 54
Hình 3.4. Biến đổi tỷ lệ % muỗi An. epiroticus chết trên các màn tẩm hóa chất 56

1

MỞ ĐẦU
Bệnh sốt rét (SR) là bệnh nguy hiểm do ký sinh trùng (KST) Plasmodium ở
người gây ra. Anopheles là véc-tơ truyền bệnh. Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
hiện nay khoảng 40% dân số trên thế giới có nguy cơ mắc bệnh sốt rét. Ước tính
năm 2013 trên toàn cầu có khoảng 207 triệu ca mắc sốt rét và có 627.000 người chết
nhất là trẻ em tại Châu Phi [63]. Cho đến hiện nay, bệnh sốt rét chưa có vắc xin dự
phòng, do đó, phòng chống véc-tơ là một phần quan trọng trong chiến lược phòng
chống SR toàn cầu của WHO với mục tiêu chính là cắt đứt sự lan truyền KST.
Hiện nay các biện pháp được áp dụng nhiều nhất và hiệu quả nhất để phòng
chống véc-tơ là sử dụng hóa chất diệt côn trùng để phun tồn lưu hay tẩm vào màn,
rèm. Đã có rất nhiều các loại hóa chất khác nhau được sử dụng dưới các hình thức
khác nhau, chẳng hạn như nhóm clo hữu cơ (Diclo Diphenyl Tricloetal - DDT),
nhóm cacbamat, nhóm photpho hữu cơ. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng, một
số véc-tơ đã kháng với các hóa chất này. Mặt khác, các hóa chất này hoặc tồn lưu
quá lâu trong môi trường, trong cơ thể sinh vật hoặc có độc tính cao, có mùi khó
chịu nên ít được cộng đồng chấp nhận. Những năm gần đây, việc sử dụng một số
hóa chất nhóm pyrethroid thay thế các hóa chất diệt côn trùng nhóm clo hữu cơ,
nhóm cacbamat, nhóm photpho hữu cơ đã mở ra một hướng mới cho công tác
phòng chống véc-tơ. Nhờ tính ưu việt của các hóa chất nhóm pyrethroid thế hệ mới

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các véc-tơ truyền bệnh sốt rét
Họ muỗi Culicidae có khoảng 3500 loài, được chia thành 3 phân họ:
Toxorhynchitinae, Culicinae, Anophelinae. Phân họ Anophelinae được chia thành 3
giống: Bironella, Chagasia và Anopheles. Các loài muỗi có khả năng truyền bệnh
SR gọi là véc-tơ SR đều thuộc giống Anopheles.
Trên thế giới đã phát hiện được khoảng 420 loài Anopheles khác nhau, trong
đó có khoảng 70 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở người và chỉ có khoảng 30
loài là véc-tơ truyền bệnh chính (White, 1982) [53]. Do các đặc điểm về địa lý, khí
hậu và sinh thái của muỗi mà ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có các loài truyền SR chính
khác nhau. Ở Châu Phi, véc-tơ truyền SR chính là An. gambiae, An. funestus, An.
arabiensis; ở Trung Mỹ có An. albimanus; ở Đông Nam Á có An. dirus, An.
minimus, An. sundaicus, An. maculatus
Ở Việt Nam, đã xác định 3 loài véc-tơ SR chính, đó là: An. minimus, An.
dirus, An. epiroticus (trước đây gọi là An. sundaicus). Trong đó, An. epiroticus là
đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này.
1.1.1. Vị trí phân loại của muỗi Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005
Giới: Động vật (Animalia)
Ngành: Chân đốt (Arthropoda)
Lớp: Côn trùng (Insecta)
Bộ: Hai cánh (Diptera)
Họ: Muỗi (Culicidae)
Phân họ: Anophelinae
Giống: Anopheles
Phân giống: Cellia
Loài: Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005
1.1.2. Phân bố của muỗi Anopheles epiroticus Linton & Harbach, 2005
An. epiroticus ss. là một loài trong phức hợp loài An. sundaicus mới được
định tên từ An. sundaicus dạng A [46]. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có 3 dạng

sundaicus, chẳng hạn ở Banglades là 4,3% (Nasiruddin, 1952). Theo Fryauff và cs
(2002) ở đảo Nias phía tây Sumatra, Indonesia An. sundaicus nhiễm thoa trùng
Plasmodium vivax là 1,2% [36].
An. epiroticus hút máu cả người và gia súc, tỷ lệ hút máu người và gia súc ở
các vùng khác nhau cũng khác nhau. Một số nghiên cứu ở miền Nam Việt Nam
thấy An. epiroticus thích đốt người hơn gia súc [6]. Nhìn chung hoạt động tìm mồi
của An. epiroticus diễn ra suốt đêm nhưng đỉnh đốt mồi thay đổi theo từng địa
phương. Tỷ lệ nhiễm thoa trùng của An. epiroticus ở miền Nam Việt Nam năm
1961 là 2,9%, năm 1975 là 2,7% [16]. Trong những năm gần đây, tuy không thấy
5

muỗi nhiễm trùng nhưng mật độ đốt người trung bình của An. epiroticus rất cao
(trung bình 12,8 con/giờ/người) [31] cho thấy mức độ nguy hiểm của loài này nếu
như ở đây có mầm bệnh. Như vậy tuy An. epiroticus đã được xác định là véc-tơ
chính truyền SR vùng ven biển Nam bộ nhưng hiện nay vai trò truyền SR của An.
epiroticus không thể hiện một cách rõ ràng [6].
1.2. Các biện pháp phòng chống véc-tơ sốt rét
Có thể phân loại các biện pháp PC véc-tơ thành 3 loại theo cách sử dụng là
vật lý-môi trường, sinh học và hóa học.
1.2.1. Các biện pháp vật lý và môi trường
Các biện pháp vật lý có từ cổ xưa đơn giản để xua, diệt, ngăn muỗi tiếp xúc
đốt người dưới các hình thức cơ học như đập, xua bằng cành lá, hun khói, đóng kín
cửa, mặc quần áo dài hoặc sử dụng lưới chống muỗi cho cửa nhà ở, nằm màn
tránh muỗi đốt; trong những năm gần đây là vợt tích điện, bẫy đèn Ngoài ra, còn
phải kể đến các biện pháp cải tạo môi trường như phát quang bụi rậm, khơi thông
cống rãnh, đổ dầu, thả hạt xốp, bèo che mặt nước [22].
1.2.2. Các biện pháp sinh học
Các biện pháp sinh học phòng chống véc-tơ SR thực hiện bằng cách đưa vào
môi trường sống của chúng những kẻ thù tự nhiên, chẳng hạn các sinh vật gây hại
hoặc động vật ăn thịt. Có thể kể đến biện pháp sử dụng cá ăn bọ gậy hoặc cá ăn

Phun tồn lưu hóa chất trên tường vách có tác dụng PC muỗi cao vì hóa chất
có khả năng gây độc cho muỗi bằng con đường tiếp xúc. Hầu hết các loài muỗi sau
khi bay vào nhà tìm mồi đều có một khoảng thời gian đậu rình mồi trong nhà trước
khi đốt mồi hoặc nghỉ sau khi đốt máu trước khi bay ra khỏi nhà. Một số loài muỗi
đậu trong nhà trong suốt thời gian tiêu máu và phát triển trứng. Khi đậu trên tường
vách đã được phun hóa chất, chân muỗi tiếp xúc với hóa chất và muỗi bị ngộ độc.
1.2.3.2. Biện pháp tẩm màn
Tác động của màn tẩm là xua và ngăn không cho muỗi hút máu người, tất
cả mọi người dùng màn đều được bảo vệ, thậm chí cả khi tỷ lệ phủ màn thấp.
Màn tẩm hóa chất sẽ có tác dụng diệt chết hoặc xua đuổi muỗi bay đi, không vào
7

màn đốt người được. Màn tẩm hóa chất theo liều quy định sẽ không độc hại đối
với sức khỏe người.
Bảng 1.1. Một số hóa chất sử dụng để tẩm màn và phun tồn lưu ở Việt Nam
Năm Tên hóa chất Dạng
hóa chất
Nồng độ Ứng dụng
1997-
2001
Permethrin EC 500g/l Tẩm màn
Lambdacyhalothrin WP 100g/kg Phun tồn lưu

2002-
2006
Alphacypermethrin SC 100g/l Tẩm màn+ phun tồn lưu
Lambdacyhalothrin WP 100g/kg Phun tồn lưu
Lambdacyhalothrin CS 25g/l Tẩm màn
kháng với một hoặc nhiều nhóm hóa chất. Trong số các loài này có khoảng 60% là
côn trùng nông nghiệp, còn 40% là côn trùng y học và KST thú y [43].
Đối với muỗi, lần đầu tiên vào năm 1947, Culex tritaeniorhynchus và Aedes
solicitans được thông báo đã kháng DDT. Năm 1976, WHO thông báo có 43 loài
muỗi kháng DDT, năm 1986 tăng lên 51 loài, trong đó 34 loài là véc-tơ SR [15].
Năm 1991 đã phát hiện 55 loài muỗi kháng hóa chất, trong đó có 53 loài kháng
DDT, 27 loài kháng photpho hữu cơ, 17 loài kháng cacbamat, 10 loài kháng
pyrethroid tổng hợp y [43]. Năm 1992, WHO đã công bố 72 loài muỗi kháng hóa
chất, trong đó có 69 loài kháng DDT, 38 loài kháng photpho hữu cơ, 17 loài kháng
cả ba loại trên. Sự kháng hóa chất của muỗi ngày càng tăng cả về số lượng loài,
mức độ và kháng chéo với nhiều hóa chất. Đến năm 2000 đã có khoảng 100 loài
muỗi kháng hóa chất trong đó có hơn 50 loài Anopheles [39].
An. gambiae là véc-tơ sốt rét chính ở Châu Phi đã xuất hiện đột biến gen Kdr
kháng hóa chất nhóm pyrethroid. Kiểu gen kháng lan rộng tới các nước vùng Đông,
Tây Phi như Bờ Biển Ngà, Burkina Fasso và Mali. Đột biến gen kháng Kdr xuất hiện ở
nhiều loài Anopheles khác như An. albimanus ở Trung Mỹ, An. stephensi ở vùng vịnh,
An. sacharovi ở Thổ Nhĩ Kỳ, An. culicifacies ở Ấn Độ, hoặc An. epiroticus ở Châu Á.
Muỗi sốt rét kháng hóa chất, KSTSR kháng thuốc điều trị đang là một thách thức lớn
cho công tác chống sốt rét ở nhiều nước hiện nay [25, 28, 31, 41].
Kháng pyrethroid đã được chứng minh ở 1 số loài véc-tơ SR ở Thái Lan
(Chareonviriyaphap và cộng sự, 2002). Phát triển tính kháng với pyrethroid xuất
hiện trong một quần thể An.minimus A ở bắc Thái Lan sau một năm đưa nhóm
9

pyrethroid vào chương trình phòng chống véc-tơ SR (Chareonviriyaphap và cộng
sự, 1999) [20].
Các công trình nghiên cứu ở Đông Nam Á cho thấy An. epiroticus đã kháng
với hóa chất diệt như Permethrin, Kothrin, Lambda-cyhalothrin, Deltamethrin và
An. minimus tăng sức chịu đựng với nhóm pyrethroid ở Thái Lan (Annual malaria
report, 2000)

Những thay đổi của lớp biểu bì của côn trùng làm giảm tốc độ thẩm thấu của hoá
chất diệt côn trùng gây nên sự kháng đối với một số hoá chất diệt. Đơn thuần tính
thấm giảm chỉ gây ra sự kháng ở mức độ thấp [5].
Cơ chế này hiếm khi được đề cập tới, nó thường được coi là thứ yếu thậm chí
không được nhắc tới ở muỗi. Tuy nhiên, nếu phối hợp với các cơ chế kháng khác,
nó có thể tạo nên sự kháng cao. Cơ chế này hầu hết được phát hiện qua các nghiên
cứu tính thấm sử dụng hoá chất diệt đánh dấu.
Kháng do thay đổi trong quá trình trao đổi chất
Đây là một trong những cơ chế kháng quan trọng. Một nhóm nhỏ các enzym
hoặc họ các enzym có liên quan trong tính kháng trao đổi chất. Sự kháng là kết quả
của sự thay đổi về mặt cấu trúc enzym làm tăng khả năng giải độc của nó và/hoặc
sự tăng số lượng enzym nhằm tăng cường sự đào thải độc tố của hoá chất diệt côn
trùng. Các phân tử hóa chất sau khi thâm nhập vào cơ thể, dưới tác dụng của các
enzym trong cơ thể muỗi sẽ phân hủy chúng theo nhiều con đường khác nhau như:
oxy hóa, thủy phân, hydro hóa, khử clo, ankyl hóa trở thành chất không độc. Các
hệ thống enzym: esterase, glutathione-S.transferase và cytochrome 450,
monooxygenase nhìn chung được coi là các hệ thống giải độc chủ yếu của các hóa
chất diệt côn trùng ở côn trùng [5] tương ứng với các nhóm hóa chất clo hữu cơ,
phốtpho hữu cơ, cacbamat và pyrethroid.
Kháng do biến đổi vị trí đích
Sự kháng này gây ra bởi sự biến đổi vị trí đích tác động của hoá chất diệt côn
trùng.
11

Vị trí đích là kênh vận chuyển cổng điện thế Na của màng thần kinh. Các vị
trí đích khác nhau của các hóa chất diệt côn trùng gây độc thần kinh là thụ thể cổng
phối tử axit γ-aminobutyric (GABA) và thụ thể acetylcholine nicotin (nAchR).
Kháng tập tính
Những thay đổi tập tính thông qua việc giảm tiếp xúc với hoá chất diệt có thể
làm tăng khả năng sống sót của côn trùng. Những thay đổi bao gồm sự giảm xu

12

Trên thị trường Alphacypermethrin được sản xuất với các tên thương phẩm khác
nhau như: Fendona 10SC (CYANAMID), Fastac (SHELL); Dominex và Bestox
(FMC).
Hoạt chất Alphacypermethrin nguyên chất ở dạng tinh thể, có màu trắng
nhạt, mùi nhẹ. Alphacypermethrin có tác dụng gây độc tiếp xúc, ức chế thần kinh
trung ương và ngoại vi với liều rất nhỏ, có phổ diệt côn trùng rộng đối với côn trùng
miệng nhai và chích hút…
 Lambdacyhalothrin
Lambdacyhalothrin còn có tên thương phẩm khác là Karate, PP321, Icon. Công
thức phân tử là C
23
H
19
ClF
3
NO
3
, phân tử lượng là 449,9 đơn vị cácbon.
Lambdacyhalothrin là chất rắn, không màu; dạng kỹ thuật (90%) ở thể dầu, màu
đỏ nâu và thường được sản xuất dưới dạng huyền phù (CS), dạng bột dễ tan trong
nước (WP), dạng nhũ dầu (EC) tùy theo mục đích sử dụng. Ngoài ra còn được sản
xuất dưới dạng hỗn hợp với Dimethoate, Tetramethrin, Pirimicarb.
Lambdacyhalothrin có tác dụng diệt tiếp xúc cao, được sản xuất dưới dạng chế
phẩm Icon 2,5CS để tẩm màn và Icon 10WP để phun tồn lưu trên tường. Cả 2 dạng
sản phẩm đều có tác dụng diệt muỗi Anopheles cao và có tác dụng diệt tồn lưu lâu
dài [52].
 Deltamethrin
Deltamethrin còn có tên khác là Decis, Decamethrin, Cislin, K-Othrin. Công

với Dimethoat, Thiram, Pyrethrin, Malathion, Tetramethrin, Biollethrin +
Piperonylbutoxit [52].
 Etofenprox
Etofenprox còn có tên khác là Vectron, Trebon. Công thức phân tử là
C
25
H
46
O
3
. Chất này có tác dụng diệt côn trùng qua đường tiếp xúc, phổ diệt côn
trùng rộng, được sử dụng nhiều trong nông nghiệp và trong y tế. Độ độc của
Etofenprox với động vật máu nóng rất thấp.
Các chế phẩm dùng để phun tồn lưu như Vectron 20WP, Trebon 10WP; để
phun sương như Vectron 30ULV, tẩm màn như Vectron 10EC; vừa để phun tồn lưu
vừa để tẩm màn như Vectron 10EW. Các chế phẩm có hiệu lực diệt tồn lưu trên
vách gỗ, nứa từ 6 đến 10 tháng, trên màn từ 5 đến 6 tháng [52].
1.4.1. Tình hình nghiên cứu hóa chất pyrethroid trên thế giới
Để phòng chống các loài côn trùng có hại, việc sử dụng các hóa chất diệt là
một trong những biện pháp quan trọng, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu ứng
dụng các hóa chất nhóm pyrethroid để tẩm màn, phun tồn lưu cho thấy đạt hiệu quả
cao trong phòng chống côn trùng truyền bệnh, góp phần giảm tỷ lệ mắc sốt rét.
Màn tẩm hóa chất diệt được xác định là có tác dụng nhanh, an toàn và có độc
tính thấp đối với người. Hàng rào bảo vệ bằng hóa chất do màn cung cấp được thêm
vào hàng rào vật lý (màn thường) thường không được bảo vệ hoàn toàn. Màn tẩm
hóa chất có thể được xem là mồi bẫy muỗi nhờ mùi cơ thể người nằm màn.
Từ năm 1992 hóa chất tổng hợp nhóm pyrethroid đã được dùng như hóa chất
diệt côn trùng chủ yếu trong cả lĩnh vực nông nghiệp và y tế công cộng. Vào mùa
dịch, các hóa chất Deltamethrin, Cypermethrin và Permethrin là những hóa chất
tổng hợp chủ yếu thuộc nhóm pyrethroid được sử dụng để phòng chống muỗi Ae.

lực tồn lưu 9 tháng đối với màn không giặt, tỷ lệ chết của muỗi An. maculatus là
90% [54].
Tại Cote d’Ivoire: hiệu lực của Lambdacyhalothrin dạng CS đã được Darriet
và cộng sự (1999) tiến hành trong phòng thí nghiệm và nhà bẫy tại thung lũng
M’be’ [54]:
+ Trong phòng thí nghiệm, với màn không giặt, ở liều 10 mg /m
2
có hiệu lực
tồn lưu 8 tháng, ở liều 15 mg /m
2
hiệu lực tồn lưu 9 tháng với muỗi thử nghiệm là
An. gambiae và An. funestus.
15

+ Kết quả theo dõi ở những nhà bẫy cho thấy: tỷ lệ An. gambiae vào nhà bẫy
có tẩm màn ở liều 10 mg /m
2
giảm 55%. Tỷ lệ muỗi An. funestus vào nhà bẫy có
tẩm màn ở liều 15 mg /m
2
giảm 68%. Tỷ lệ muỗi An. gambiae bay ra khỏi nhà bẫy
có tẩm màn là 80%, trong khi đó nhà bẫy đối chứng (không tẩm màn) thì tỷ lệ muỗi
An. gambiae bay ra khỏi nhà bẫy là 38%. Như vậy, tỷ lệ muỗi bay ra khỏi nhà bẫy
có tẩm màn tăng 2 lần so với nhà bẫy đối chứng. Điều đó nói lên là
Lambdacyhalothrin dạng CS có hiệu quả xua muỗi. Tỷ lệ hút máu của An. gambiae
giảm 31% ở nhà bẫy tẩm màn liều 10 mg /m
2
và giảm 47% ở nhà bẫy tẩm màn liều
15 mg /m
2

sốt rét, các biện pháp phòng chống véc-tơ chủ yếu hiện nay là tẩm màn và phun tồn
lưu trong nhà với hóa chất diệt côn trùng, vì vậy sự xuất hiện tính kháng hóa chất
của véc-tơ sốt rét làm cho hiệu quả của hoạt động phòng chống véc-tơ bị hạn chế.
Ở Việt Nam nhiều năm gần đây đã sử dụng một số hóa chất nhóm
pyrethroid để tẩm màn, rèm và phun tồn lưu và đã đạt được hiệu quả phòng chống
côn trùng truyện bệnh góp phần giảm đáng kể tỷ lệ mắc sốt rét.
Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh và cộng sự đã tiến hành thử nghiệm đánh
giá tác dụng diệt tồn lưu của Icon 10CS và so sánh hiệu lực phòng chống An.
minimus của màn tẩm Icon 10CS (nồng độ 20 mg/m
2
) với màn tẩm Permethrin
50EC (nồng độ 200 mg/m
2
) tại xã Liên Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình từ
tháng 6 năm 1996 đến tháng 7 năm 1997. Cả màn tẩm Icon 10CS và màn tẩm
Permethrin 50EC đều có tác dụng tốt trong phòng chống An. minimus, đặc biệt là
giảm mật độ muỗi vào nhà đốt máu ban đêm và muỗi trú đậu trong nhà ban ngày ở
những tháng đầu sau khi tẩm màn. Tác dụng diệt tồn lưu của màn tẩm Permethrin
kéo dài 7 tháng, của màn tẩm Icon là 12 tháng. Màn tẩm Icon 10CS giữ được tác
dụng diệt tồn lưu sau 3 lần giặt, trong khi đó tác dụng diệt tồn lưu của màn tẩm
Permethrin giảm rõ rệt sau lần giặt đầu tiên [14].
Nguyễn Tuấn Ruyện, Trần Đức Hinh và cộng sự (1997) đã sử dụng biện
pháp phun tồn lưu bằng Fendona 10SC để phòng chống muỗi sốt rét tại xã Bảo Hà,
huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai. Kết quả cho thấy muỗi An. minimus tại điểm nghiên
cứu nhạy cảm với hóa chất Fendona, tỷ lệ muỗi chết là 100%. Tác dụng tồn lưu của
Fendona 10SC liều 30 mg/m
2
trên tường gỗ là 11 tháng, trên tường gạch là 9 tháng.
Sử dụng biện pháp phun tồn lưu bằng Fendona đã làm giảm mật độ An. minimus trú
ẩn trong nhà và vào nhà tìm người hút máu [18].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status