Thực trạng và phương hướng phát triển sản xuất các loại cây
ăn trái đến năm 2015
2006, Trung tâm Thông tin Thương mại
Phát huy lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng ở một nước nhiệt đới, các tỉnh tại Việt Nam
đã hình thành các vùng nguyên liệu trái cây khá tập trung phục vụ cho chế biến công
nghiệp và tiêu dùng. Đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng
cây ăn trái lớn nhất, chiếm khoảng 36,5% diện tích cả nước. Tổng lượng giống cây ăn
trái các tỉnh ĐBSCL sản xuất bình quân trong vài năm gần đây vào khoảng 26 đến 27
triệu cây/năm. Số lượng giống cây ăn trái này được lưu thông khắp cả nước kể cả
sang một số nước láng giềng.
Cả nước hiện có khoảng 765.000 ha cây ăn trái, sản lượng hơn 6,5 triệu tấn với những loại
trái cây chủ yếu như: dứa, chuối, cam, quýt, bưởi, xoài, thanh long, vải thiều, nhãn, chôm
chôm, sầu riêng. Kim ngạch xuất khẩu trái cây trong những năm gần đây dao động ở
khoảng 150 đến 180 triệu USD/năm. Tuy nhiên, các loại cây ăn trái đang trồng hầu hết đều
cho năng suất không cao, chất lượng kém (không đẹp, kích cỡ không đều, vị không đặc
trưng), giá thành cao, nên khả năng cạnh tranh thấp. Điều này dẫn tới cây ăn trái nước ta
đang đứng trước thách thức lớn khi hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Theo dự báo của Tổ chức Nông – lương thế giới (FAO), nhu cầu tiêu thụ rau quả trên thị
trường thế giới hàng năm tăng khoảng 3,6%, trong khi đó thì khả năng tăng trưởng sản
xuất chỉ là 2,6% nên thị trường thế giới đối với mặt hàng rau quả luôn ở tình trạng cung
không đủ cầu, dễ tiêu thụ và giá cả luôn trong tình trạng tăng. Các nước càng phát triển
công nghiệp thì nhu cầu nhập khẩu rau lại càng tăng, đời sống càng được nâng cao thì nhu
cầu đối với các loại hoa tươi càng tăng. Có thể khẳng định rằng thị trường thế giới đối với
rau quả là rất có triển vọng.
I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm 2005 đạt 766,9 ngàn
ha (so với năm 1999 tăng thêm ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sản
lượng 6,5 triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến
cây có múi: 800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện
tích cây ăn quả lớn nhất (262,1 ngàn ha), sản lượng đạt 2,93 triệu tấn (chiếm 35,1% về diện
tích và 46,1% về sản lượng).
Giang (1,3 ngàn ha).
+ Xoài: cũng là loại cây trồng có tỷ trọng diện tích lớn của Việt Nam. Hiện có nhiều giống
xoài đang được trồng ở nước ta; giống có chất lượng cao và được trồng tập trung là giống
xoài cát Hoà Lộc. Xoài cát Hoà Lộc được phân bố chính dọc theo sông Tiền (cách cầu Mỹ
Thuận khoảng 20-25 km) với diện tích 4,4 ngàn ha đạt sản lượng 22,6 ngàn tấn. Diện tích
xoài Hoà Lộc tập trung chủ yếu ở tỉnh Tiền Giang (diện tích 1,6 ngàn ha, sản lượng 10,1
ngàn tấn); tiếp theo là tỉnh Đồng Tháp (873 ha, sản lượng 4,3 ngàn tấn).
+ Măng cụt: là loại trái cây nhiệt đới rất ngon và bổ. Măng cụt phân bố ở 2 vùng ĐBBSCL
và ĐNB, trong đó trồng chủ yếu ở ĐBSCL với tổng diện tích khoảng 4,9 ngàn ha, cho sản
lượng khoảng 4,5 ngàn tấn. Tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích tập trung lớn nhất: 4,2 ngàn ha
(chiếm 76,8% diện tích cả nước). Tuy măng cụt là sản phẩm rất được giá trên thị trường
nhưng việc mở rộng diện tích loại cây này hiện nay đang gặp nhiều trở ngại do thời gian
kiến thiết cơ bản dài (5-6 năm), là cây thân gỗ lớn, chiếm nhiều diện tích đất và chỉ thích
hợp với đất mầu ở các cù lao.
+ Dứa: đây là một trong 3 loại cây ăn quả chủ đạo được khuyến khích đầu tư phát triển
trong thời gian vừa qua nhằm phục vụ xuất khẩu. Các giống được sử dụng chính bao gồm
giống Queen và Cayene; trong đó giống Cayene là loại có năng suất cao, thích hợp để chế
biến (nước quả cô đặc, nước dứa tự nhiên…). Các địa phương có diện tích dứa tập trung
lớn là Tiền Giang (3,7 ngàn ha), Kiên Giang (3,3 ngàn ha); Nghệ An (3,1 ngàn ha), Ninh
Bình (3,0 ngàn ha) và Quảng Nam (2,7 ngàn ha).
Ngoài ra, còn có một số loại cây ăn quả khác cũng có khả năng xuất khẩu tươi là: Sầu riêng
cơm vàng hạt lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng... Tuy nhiên, những loại này có
diện tích và sản lượng còn rất khiêm tốn (ví dụ diện tích của Nhãn xuồng cơm vàng mới
chỉ có 200 ha, tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tầu), không đủ tiêu thụ trong nước và giá bán
trong nước thậm chí còn cao hơn giá xuất khẩu..
Về chủng loại các trái cây có lợi thế cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định 11 loại
trái cây có lợi thế cạnh tranh, bao gồm: Thanh long, Vú sữa, Măng cụt, Cây có múi (Bưởi,
Cam sành), Xoài, Sầu riêng, Dứa, Vải, Nhãn, Dừa và Đu đủ
Theo đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản cả nước đến
năm 2010 và tầm nhìn 2020 mới nhất của Thủ tướng Chính phủ thì trong đó, đối với cây
chuyển đổi diện tích những loại cây trồng kém hiệu quả sang sản xuất rau, quả, hình thành
được những vùng chuyên canh lớn với những loại rau quả đặc sản như: vùng rau Vân Nội
(Hà Nội), vùng rau, hoa Đà Lạt (Lâm Đồng), buởi Phúc Trạch, bưởi Năm Roi, xoài cát
Hoà Lộc, vú sữa Lò Rèn (Vĩnh Kim)...
Kinh tế trang trại là một phần không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế. Nghị quyết
03/2000/NQ-CP đã có tác dụng nhất định, trang trại tăng lên rõ rệt cả về số lượng và quy
mô, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo nên những vùng sản xuất hàng hóa tập trung
và thâm canh cao. Đã hình thành nhiều trang trại sản xuất cây ăn quả lâu năm phù hợp với
từng vùng sinh thái, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.
Các chính sách về tín dụng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đã khuyến khích các doanh
nghiệp tích cực đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao chất lượng và tính cạnh
tranh của nông sản hàng hoá, trong đó có rau quả. Việc ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu đã khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tìm tòi nghiên
cứu sản xuất các mặt hàng mới, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất, chế biến hàng xuất
khẩu…
Nhờ có chính sách khuyến khích của Nhà nước, hoạt động nghiên cứu ứng dụng và chuyển
giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung, ngành rau quả nói riêng đã
đạt được kết quả khả quan, hỗ trợ tích cực cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Nhất là công nghệ sinh học đã đạt được những tiến bộ bước đầu trong
việc tuyển chọn, lai tạo một số giống cây ăn quả, rau, đậu có chất lượng và năng suất cao,
chuyển giao quy trình sản xuất các loại giống sạch bệnh...
Việc thực hiện Chương trình Giống trong những năm qua đã tạo nên sự chuyển biến cơ
bản trong việc tổ chức, quản lý, chọn tạo, nhân giống và sản xuất giống. Việc ban hành
Pháp lệnh giống cây trồng đã tạo sơ sở pháp lý để tăng cường hiệu quả quản lý giống. Hệ
thống quản lý chất lượng và tổ chức thanh tra, kiểm tra giống đã được củng cố, tăng cường
hơn trước. Đến nay, hầu hết các tỉnh, thành phố đều có Trung tâm giống cây trồng, vật
nuôi; 40% các tỉnh, thành đã thực hiện cơ giới hoá khâu sấy, bảo quản và đóng gói hạt
giống... Từ năm 2000 đến nay, nhiều loại giống được chọn tạo, đưa tỷ lệ áp dụng giống
tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp lên khoảng 30% đối với cây ăn quả và 50% đối
với rau, góp phần tăng năng suất, sản lượng và hiệu quả sản xuất.
mở rộng…
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có chính sách ưu đãi riêng cho ngành hàng này. Sản xuất, chế
biến và tiêu thụ rau, quả chỉ được hưởng những chính sách dành cho ngành nông nghiệp
nói chung. Cụ thể một số chính sách như sau:
2.2.1.Chính sách đất đai
Luật Đất đai ban hành năm 1993 trao quyền sử dụng đất cho nông dân thông qua các hình
thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; quy định quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất, trong đó mở rộng các quyền (chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thế
chấp…) được nông dân hết sức hoan nghênh, tạo động lực lớn trong phát triển sản xuất.
Với việc sửa đổi vào các năm 2001 và năm 2003, Luật Đất đai đã tạo hành lang pháp lý
ngày càng thông thoáng, tạo điều kiện cho việc tập trung tích tụ đất cho sản xuất trang trại,
sản xuất các loại cây lâu năm và sản xuất trên quy mô lớn.
Nhà nước có những chính sách nhằm tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông
nghiệp có đất để sản xuất: giao đất nông nghiệp cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài vào
mục đích sản xuất nông nghiệp để khuyến khích phát huy hiệu quả sử dụng đất đai; đơn
giản hoá các thủ tục cho thuê đất để phát triển công nghiệp bảo quản, chế biến nông sản và
ngành nghề ở nông thôn; tạo việc làm cho lao động ở nông thôn phù hợp với quá trình
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Chính sách “dồn điền, đổi thửa” cho phép xử lý vấn đề đất đai manh mún, một trong
những khó khăn chủ yếu đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp quy mô lớn.
Việc quy hoạch, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai được thực hiện theo hướng phát triển
các vùng sản xuất chuyên canh, khai thác được lợi thế so sánh của từng vùng, bám sát nhu
cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, đạt hiệu quả cao về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi
trường.
Với những thay đổi về chính sách đất đai, nông dân được quyền tự quyết định sản xuất,
chuyển đổi từ những cây trồng kém hiệu quả sang trồng rau quả. Hơn nữa, nhờ chính sách
giao đất dài hạn 50 năm cho cây ăn quả, người nông dân sẵn sàng đầu tư hiệu quả vào
mảnh đất của mình.
2.2.2 Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Để thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển trong điều kiện nguồn Ngân sách
ban hành Quy chế tín dụng hỗ trợ xuất khẩu. Theo đó, tín dụng hỗ trợ xuất khẩu là ưu đãi
cuả Nhà nước nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân thuộc
mọi thành phần kinh tế phát triển sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu.
- Về Thuế thu nhập doanh nghiệp:
Nhà nước có những chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuộc mọi ngành nghề,
trong đó có sản xuất rau quả, đầu tư phát triển sản xuất. Bộ Tài chính đã ban hành Thông
tư số 18/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định số 30/1998/NĐ-CP và Nghị định số
26/2001/NĐ-CP của Chính phủ về Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Theo đó, các cơ sở
sản xuất thuộc lĩnh vực ngành nghề được ưu đãi đầu tư (như trồng cây ăn quả lâu năm trên
đất hoang hoá đồi núi trọc, chế biến bảo quản rau quả, ứng dụng công nghệ trong sản xuất
giống cây…) được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu kể từ khi có thu
nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo. Cơ sở sản xuất
mới thành lập thuộc các lĩnh vực ngành nghề ưu tiên đầu tư ở các tỉnh miền núi được miễn
thuế thu nhập doanh nghiệp trong 4 năm đầu và giảm 50% số thuế phải nộp trong thời hạn
từ 7 đến 9 năm; nếu phát sinh lỗ, doanh nghiệp còn được chuyển lỗ trong vòng 5 năm.
- Về Thuế VAT:
Để khuyến khích tiêu thụ nông sản, các doanh nghiệp được miễn thuế VAT và thuế thu
nhập doanh nghiệp trên khâu lưu thông theo Thông tư số 91/2000/TT-BTC ngày 06/9/2000
của Bộ Tài chính về hướng dẫn thi hành Nghị quyết 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của
Chính phủ.
- Về Thuế sử dụng đất nông nghiệp:
Nghị định số 129/2003/NĐ-CP ngày 03/11/2003 của Chính phủ đã quy định chi tiết thi
hành Nghị quyết số 15/2003/QH11,ngày 17/6/2003 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử
dụng đất nông nghiệp. Các hộ nghèo, hộ sản xuất nông nghiệp ở các xã đặc biệt khó khăn
được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trên toàn bộ diện tích đất sản xuất nông nghiệp;
người nông dân được Nhà nước giao đất sản xuất nông nghiệp, xã viên hợp tác xã… nhận
đất giao khoán ổn định để sản xuất nông nghiệp đều được miễn thuế sử dụng đất nông
nghiệp trong hạn mức; người nông dân được quyền đóng góp ruộng đất của mình để thành
lập Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo Luật Hợp tác xã.
- Các chính sách tài chính khác:
án đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ được
hưởng các ưu đãi: miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập tăng thêm của năm
đầu và giảm 50% số thuế phải nộp 4 năm tiếp theo; miễn thuế nhập khẩu máy móc, thiết bị
phục vụ trực tiếp các dự án chuyển giao công nghệ mà trong nước chưa sản xuất được…
Đặc biệt, Nhà nước có chính sách khuyến khích việc ứng dụng công nghệ cao và sản xuất
sản phẩm công nghệ cao.
Chính phủ còn ban hành một số văn bản dưới Luật nhằm cụ thể hoá các chính sách liên
quan đến đổi mới công nghệ: Nghị định 43/1999/NĐ-CP về Tín dụng đầu tư phát triển quy
định đối tượng cho vay là các dự án đầu tư phát triển có khả năng thu hồi vốn (bao gồm cả
cho vay đổi mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất) thuộc các thành phần kinh tế trong
lĩnh vực xây dựng cơ sở bảo quản, chế biến nông sản; Nghị định 119/1999/NĐ-CP đưa ra
một số chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động
khoa học và công nghệ nhằm cải tiến quy trình công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm
và hiệu quả sản xuất, kinh doanh;…
Những năm gần đây, Nhà nước có chính sách ưu tiên và biện pháp thúc đẩy việc ứng dụng
kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ trong nông nghiệp và phát triển nông
thôn. Nghị quyết 09 của Chính phủ khuyến khích việc ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ vào sản xuất nông nghiệp để nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm,
đáp ứng nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng. Chất lượng nông sản được nâng cao thông qua các
chương trình nâng cấp giống cây trồng, vật nuôi, công nghệ sinh học, khuyến nông và
nghiên cứu các quy trình kỹ thuật tiên tiến áp dụng vào sản xuất, bảo quản, chế biến..., góp
phần tăng tính cạnh tranh của nông sản hàng hoá.
Về Khuyến nông, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/CP ngày 02/03/1993 quy định
về công tác khuyến nông và Nghị định số 56/2005/NS-CP ngày 26/4/2005 về tổ chức
khuyến nông, nhằm xã hội hoá hoạt động khuyến nông, tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các
nhà quản lý, khoa học, doanh nghiệp với người sản xuất và giữa người sản xuất với nhau
để nâng cao nhận thức về khoa học kỹ thuật sản xuất, kỹ năng quản lý và kinh doanh...
tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân,
góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Đến
nay, hệ thống khuyến nông được kiện toàn từ TƯ đến địa phương, 100% số tỉnh, thành phố
Nhà nước. Việc đầu tư thiết bị cơ giới hoá và công nghiệp hoá sản xuất, chế biến giống
được vay vốn ngân hàng với lãi suất ưu đãi. Quỹ Hỗ trợ phát triển khoa học và công nghệ
Quốc gia và của các địa phương dành kinh phí cho các dự án thử nghiệm về sản xuất, chế
biến giống.
Về đất đai: Đất đai được sử dụng với mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm về
giống, sản xuất giống được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thu tiền sử dụng đất hoặc tiền
thuê đất.
Công tác quản lý Nhà nước về giống ngày càng được tăng cường, Chính phủ đã ban hành
Pháp lệnh Giống cây trồng (năm 2004) và Nghị định hướng dẫn xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giống. Hệ thống quản lý chất lượng và tổ chức thanh tra, kiểm tra về
giống từ Trung ương đến địa phương không ngừng được củng cố: Bộ Nông nghiệp và
PTNT đã ban hành những quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, định mức và chuẩn hoá thiết kế
mẫu các hạng mục cho chương trình giống để sử dụng trong việc xây dựng, thẩm định, phê
duyệt và triển khai các dự án giống; nhiều địa phương đã tổ chức công tác kiểm tra các cơ
sở sản xuất và dịch vụ giống, ban hành quy định về quản lý giống trên địa bàn, cấp giấy
chứng nhận và chứng chỉ chất lượng giống; một số nơi đã xây dựng Trung tâm kiểm định
chất lượng giống; hoạt động bảo hộ giống cây trồng mới, quyền tác giả đã bắt đầu được
triển khai; chương trình khuyến nông tăng cường đào tạo, phổ cập kiến thức công tác giống
cho nông dân...
Về Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP)
Vệ sinh an toàn thực phẩm đã được Chính phủ xếp vào một trong 10 chương trình trọng
điểm quốc gia từ năm 1999. Năm 2003, Chính phủ công bố Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực
phẩm với mục đích bảo vệ tính mạng, sức khỏe của con người và tăng cường hiệu lực quản
lý Nhà nước về VSATTP. Nhà nước cam kết có chính sách và biện pháp để bảo đảm
VSATTP như: Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch
về VSATTP; Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và pháp luật về
VSATTP; Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật
về VSATTP; Khuyến khích các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm áp dụng
các hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến nhằm bảo đảm VSATTP theo đúng tiêu chuẩn
quốc tế... Người sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm phải chịu trách nhiệm đối với
tồn dư hoá chất độc hại trong nông sản thực phẩm, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng,
góp phần nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu hàng nông sản,
trong đó có rau quả.
2.2.5. Các chính sách phát triển mối liên kết có hiệu quả giữa sản xuất và tiêu thụ
Luật Hợp tác xã (ban hành năm 1996, sửa đổi năm 2003) đã tạo cơ sở pháp lý và phát huy
vai trò của HTX trong việc phát triển nền kinh tế thị trường. Các HTX nông nghiệp ngày
càng vững mạnh, đời sống của xã viên được cải thiện, cơ sở vật chất của HTX ngày một
tăng cường. Đã hình thành những mối liên kết giữa các HTX với nhau, giữa HTX với
doanh nghiệp... trong sản xuất, mở rộng quy mô, tạo nguồn hàng phong phú cho thị trường.
Chính phủ cũng đã ban hành một số chính sách như: hỗ trợ kinh phí từ ngân sách các cấp
để bồi dưỡng, đào tạo cho các cán bộ quản lý và phụ trách chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ
của HTX; ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần thu nhập từ các hoạt động
dịch vụ phục vụ sản xuất, kinh doanh của xã viên HTX; hỗ trợ các HTX đầu tư cơ sở hạ
tầng phục vụ sản xuất; các tổ chức tín dụng (Ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng nhân
dân, Ngân hàng Phát triển Việt Nam...) cho các HTX vay vốn để đầu tư mới, đầu tư nâng
cấp, mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ... để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động của các HTX.
Luật Doanh nghiệp (ban hành năm 1999 và 2005) được coi là đòn bẩy quan trọng tạo bước
đột phá trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Doanh nghiệp được quyền chủ động mở rộng quy
mô và ngành nghề kinh doanh, được Nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo thuận lợi tham
gia sản xuất, cung ứng sản phẩm...
Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP về Kinh tế trang trại ban hành các chính sách ưu đãi (về
thuế, hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng...) nhằm khuyến khích và tạo thuận lợi để phát
triển sản xuất hộ gia đình theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn.
Chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những chính sách quan trọng góp
phần thay đổi kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá có
năng suất, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu thị trường; phát huy lợi thế so sánh của từng
vùng; hình thành các vùng sản xuất hàng hoá tập trung, gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, bảo
quản, chế biến và thị trường tiêu thụ, thúc đẩy tiêu thụ nông sản một cách toàn diện và hiệu
Trong những năm qua sản xuất rau quả của Việt Nam đã đạt được những kết quả nhất định
nhưng vẫn tồn tại nhiều hạn chế do những yếu kém nội tại của ngành rau quả cũng như
những bất cập trong thực hiện các chính sách phát triển. Cụ thể là:
- Về phát triển vùng chuyên canh rau quả xuất khẩu:
Trong những năm qua, những nỗ lực xây dựng vùng nguyên liệu tốt cho chế biến xuất
khẩu đã góp phần hình thành được nhiều vùng quả tập trung như vùng xoài cát Hoà Lộc
(Tiền Giang), Thanh Long (Bình Thuận), vải thiều Bắc Giang, nho (Ninh Thuận), bưởi
Năm Roi (Vĩnh Long)... Năm 2006, Việt Nam phấn đấu đưa diện tích cây ăn quả lên 760
nghìn ha, tăng 5 nghìn ha so với năm 2005 và đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả phấn đấu
đạt 330 triệu USD. Để đạt mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tập trung
phát triển các loại cây ăn quả có lợi thế như loại cây có múi gồm cam, quýt, bưởi; dứa,
xoài, nhãn, vải, thanh long, sầu riêng, măng cụt, vú sữa. Phát triển các giống cây ăn quả
chất lượng cao, đặc sản ở các vùng như cam, quýt (Canh, Cần Thơ), bưởi (Phúc Trạch,
Đoan Hùng, Năm Roi), Xoài cát (Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang), quýt hồng (Đồng
Tháp).
Tuy nhiên, diện tích các vùng chuyên canh còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích
755.000 ha cây ăn quả hiện có trên cả nước; phần lớn diện tích vẫn là vườn tạp, phát triển
theo quy mô hộ gia đình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định của
xuất khẩu là do quy hoạch chưa có trọng tâm, chưa tập trung tối ưu để tạo ra những vùng
sản xuất có tính cạnh tranh. Số vùng chuyên canh như vải thiều Bắc Giang, vú sữa Lò Rèn,
thanh long Bình Thuận, nho Ninh Thuận còn quá ít nên khi khách hàng cần sản lượng lớn,
thời gian giao hàng ngắn thì khó có thể thu gom đủ. Ngoài ra, do giống và quy trình chăm
sóc không đồng đều, nguồn nguyên liệu lại không ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng chế
biến.
3.2. NHỮNG TỒN TẠI
Bên cạnh một số thành tựu nhất định, hệ thống chính sách của Việt Nam nói chung, nông
nghiệp nói riêng còn nhiều bất cập, việc ban hành chính sách thiếu sự đồng bộ, không có
tính chiến lược mà thường mang tính giải quyết tình thế.
Nhiều chính sách còn chưa thực sự cụ thể hoá, mức độ phát huy hiệu lực còn rất hạn chế
do không đủ các nguồn lực về tài chính, trình độ quản lý, thủ tục rườm rà, khó vận dụng:
Các chính sách về kinh tế trang trại còn chưa được cụ thể hoá, khó áp dụng trong thực tiễn.
Do đó, sự phát triển của kinh tế trang trại còn mang tính tự phát, hiệu quả hoạt động còn
chưa cao. Để loại hình kinh tế đặc thù này phát triển ngang tầm với ưu thế vốn có của nó,
cần phải xây dựng một kế hoạch phát triển lâu dài dựa trên thế mạnh của từng vùng.
Việc thực hiện các chính sách chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông
thôn còn chậm, thiếu đồng bộ. Tuy diện tích rau, quả và hoa, cây cảnh có tăng nhưng tại
khu vực sản xuất nguyên liệu tập trung cho công nghiệp chế biến thì năng suất, chất lượng
rau quả còn thấp, không đủ cho các nhà máy. Những nơi dân tự trồng thì rải rác, phân tán,
diện tích manh mún, chủng loại không ổn định, chất lượng không đồng đều. Việc thực hiện
chủ trương đa dạng hoá nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản
phẩm chưa được nhiều.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từ nguồn ngân sách Nhà nước thiếu
sự cân đối giữa các ngành hàng, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế (TD: đầu
tư phát triển thuỷ lợi chủ yếu tập trung cho cây lúa, phần lớn diện tích cây ăn quả chưa có
công trình thuỷ lợi). Sự chuyển biến trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư còn chậm, chưa thực
sự phù hợp với yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Môi trường đầu tư còn nhiều hạn chế (thiếu tính chiến lược, định hướng thu hút đầu tư
nước ngoài; chi phí đầu tư cao; hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư
nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn còn nhiều bất cập; thủ tục hành
chính rườm rà...) nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vào
lĩnh vực này. Do đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
còn hết sức hạn chế và có xu hướng giảm sút trong những năm gần đây, chưa tương xứng
với tiềm năng cũng như thế mạnh phát triển của nông nghiệp Việt Nam. Hiệu quả thực
hiện các dự án trong lĩnh vực này còn rất nhỏ so với hoạt động đầu tư nước ngoài trong các
lĩnh vực khác. Ngoài một số dự án sản xuất giống, chế biến nông sản..., nhìn chung các dự
án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này triển khai chậm do khó khăn về thủ tục cấp đất,
nguồn nguyên liệu...
Nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp
so với yêu cầu, theo đánh giá chung mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốn của các
tổ chức kinh tế, hộ gia đình. Đặc biệt, các doanh nghiệp tư nhân, HTX và hộ nông dân tiếp
kỹ thuật cho nông dân.
Thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm trong những năm gần đây rất đáng lo ngại. Đặc biệt,
trong sản xuất rau quả, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất bảo quản không đúng quy
định hoặc cấm lưu hành trên thị trường đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, ảnh
hưởng tới sức khoẻ người tiêu dùng. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về VSATTP
đến nay về cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn VSATTP
còn chậm, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và và các tiêu
chuẩn quốc tế. Hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về VSATTP còn yếu, phân tán, chưa
phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ ngành.
Việc thực hiện ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80 của Chính
phủ vẫn còn nhiều bất cập. Nhà nước chưa tạo được một hành lang pháp lý phù hợp cho
việc giải quyết tranh chấp trong liên kết giữa các nhà, đặc biệt là vấn đề hợp đồng sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông. Các chính sách về tín dụng, vốn
sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng, giống mới, khoa học kỹ thuật…theo QĐ 80 chưa được các
cấp, các ngành triển khai đồng bộ, chưa khai thông. Đối với những trường hợp thiệt hại do
các nguyên nhân bất khả kháng (như thiên tai, dịch bệnh), Nhà nước chưa có chính sách cụ
thể để hỗ trợ cho các bên tham gia hợp đồng.
Các chương trình xúc tiến thương mại hiện nay vẫn chưa chú trọng vào phát triển thị
trường phi truyền thống trong khi chính những thị trường này mới là những thị trường mà
Nhà nước cần hỗ trợ xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp có thể thâm nhập thị trường.
Hiện nay các hoạt động đàm phán để ký kết các thoả thuận hoặc các hiệp định về thương
mại rau quả của Việt Nam còn chậm và cần phải triển khai mở rộng cũng như đẩy nhanh
tiến độ của các hoạt động nay thông qua đàm phán ký kết các FTA hoặc các hiệp định về
buôn bán rau quả với một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Nhật Bản, EU và Hoa
Kỳ…Do chưa ký kết được thoả thuận song phương về buôn bán rau quả với một số thị
trường, đặc biệt là với Trung Quốc nên rau quả của Việt Nam hiện nay rất kém cạnh tranh
với rau quả của những nước đã có thoả thuận cắt giảm thuế quan như Thái Lan tại thị
trường quốc tế. Đây là một trong những rào cản đối với rau quả của Việt Nam. Chính phủ
Trung Quốc cũng thắt chặt hoạt động kiểm soát rau quả nhập khẩu sau khi Trung Quốc gia
nhập WTO tạo thêm khó khăn cho rau quả xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này.
trương chính sách đã được ban hành những còn chậm trong việc hướng dẫn tổ chức thực
hiện. Một số chính sách chậm được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu của chuyển đổi cơ
cấu và phát triển sản xuất. Việc tuyên truyền phổ biến các chính sách để nâng cao nhận