Trong quá trình hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được nhiều sự
giúp đỡ quý báu của các đơn vị cá nhân. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành tới:
Các thày cô trong khoa Sinh - KTNN, trường Đại học Sư phạm Hà Nội
2 đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ.
Các đơn vị quản lí khu du lịch Đại Lải đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận
lọi để tôi hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn những người thân, bạn bè đã hỗ ữợ, động
viên và khích lệ giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS. Vũ Quang
Mạnh, TS. Đào Duy Trinh đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận.
Tôi xỉn chân thành cảm ơn ỉ
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013 Sinh viên
Nguyễn Thị Trang
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày ữong khóa luận là
kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn tận tình của PGS TS.
Vũ Quang Mạnh và TS. Đào Duy Trinh.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong khóa luận này.
Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2013 Sinh viên
Nguyễn Thị Trang
LỜI CẢM ƠN
Trang
Bảng 2.1. Địa điểm, tầng đất và số lượng mẫu thu ở khu vực nghiên
DANH MỤC CÁC HÌNH *
Trang
1
Hình 3.7. Tỷ lệ thành phàn của nhóm phân loại Collembola ở lớp
thảm mục rừng phòng hộ khu du lịch
LỜI CẢM ƠN
C
A
M
Đ
O
A
N
D
A
N
H
MỤC LỤC
M
Ụ
C
C
Á
C
B
Ả
N
G
D
A
V
I
Ế
T
T
Ắ
T
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Môi trường đất là một môi trường sống rất đặc thù, nó chứa cả một
thế giới sinh yật vô cùng đa dạng và phong phú. Trong đó nhóm động yật
đất chiếm hơn 90% tổng sinh lượng hệ động vật ở cạn và hơn 50% tổng số
loài động vật sống trên Trái Đất. Nhiều nhóm sinh vật đóng vai trò quan
trọng trong việc chỉ thị điều kiện sinh thái của môi trường đất, góp phần
làm sạch môi trường. Trong đó đại diện chính của nhóm này là động yật
Chân khớp bé (Microarthropoda), vói kích thước cơ thể khoảng 0,1 - 0,2
mm đến 2,0 - 3,0 mm thường chiếm ưu thế về số lượng. Hai đại diện chính
của nhóm này là Ve giáp (Acari) và Bọ nhảy (Collembola). Ngoài ra còn có
các đại diện thuộc các nhóm động vật không xương sống khác.
Việc nghiên cứu sinh vật đất có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm
hiểu tính đa dạng của thế giới sinh yật và các đặc tính sinh học đất. Từ đó
góp phần đề xuất cải tạo và tăng độ phì nhiêu của đất, giúp đánh giá sắp xếp
các vùng địa lý tự nhiên, các vùng sinh thái, quy hoạch và phân bố các vùng
sản xuất nông nghiệp.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp của đất nước
nói chung và của tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng, đặc biệt là khu du lịch Đại Lải
thuộc thị xã (TX) Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, vấn đề ô nhiễm môi trường
đang là vấn đề mang tính cấp thiết của toàn xã hội. Hiện nay lượng du
Bộ môn Sinh thái đất đã được hình thành như một chuyên ngành
khoa học riêng từ những năm 50 của thế kỉ XX. Sinh thái đất là bộ môn
khoa học nghiên cứu các nhóm sinh vật đất cùng hoạt động sống của chúng
trong mối liên quan chặt chẽ của chúng với môi trường đất nơi chúng sống.
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Trang 12 K35B SP Sinh
Khoa học Sinh thái đất ngày càng phát triển, thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu của các lĩnh vực khác nhau.
Cũng như các động vật đất khác, nhóm Chân khớp bé
(Microarthropoda) với hai đại diện chủ yếu là Ve bét (Acari) và Bọ nhảy
(Collembola) đã được biết đến cách đây hàng trăm năm. Tuy nhiên, những
bước đàu nghiên cứu về chúng vẫn còn lẻ tẻ và chỉ phát triển mạnh trong
vài chục năm gần đây [9].
Collembola, một trong những đại diện chủ yếu của nhóm chân khớp
bé (Microarthropoda) sống ở đất đã được biết từ rất lâu, cách đây hàng trăm
năm. Hóa thạch của chúng (Rhynỉella paraecursor Hirst et Maulik, 1926) đã được
phát hiện ở vùng đầm lầy Thụy Điển có tuổi từ kỷ Devon giữa, cách ngày
nay 400 triệu năm (Palacois - Vargas, 1983) (Vũ Quang Mạnh, 2003) [9].
Năm 1758, loài Collembola đầu tiên đã được Linnaeus mô tả từ Thụy
Điển: Podura vỉrìdỉs Linnaeus (Wallace, 1794) cùng với hàng loạt loài khác
thuộc giống Podura: p. aquatica, p. cincta, p. fusca Tiếp sau đó có các công trình của
Muller, 1776; Templeton, 1835; Boheman, 1856; Lubbock,
1899 .nhưng chỉ ở mức độ là các thông báo tản mạn về thành phàn
loài, mô tả loài mới ở từng khu yực hạn chế (vùng Bắc Âu, vùng
châu Âu, ) [14].
Phải đến năm 1905, khi nhà động vật học người Italia, A. Berlese tìm
ra phương pháp đơn giản, tách động vật chân khớp bé ra khỏi môi trường
đất thì những nghiên cứu về nhóm này mới phát triển mạnh mẽ.
về khu hệ Collembola: Hai công trình được coi là cơ bản và đầy đủ
nhất, có tính chất bao trùm toàn bộ khu hệ châu Âu là của Gisin, 1960 và
thuộc Trung Mỹ như: Cuba (225 loài), Antilles (387 loài), Jamaica (28
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Trang 14 K35B SP Sinh
loài) Hiện tại 498 loài Oribatida đã được ghi nhận (gồm 300 loài đã xác
định tên, 198 loài còn ở dạng sp., cf ).
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của
Oribatida theo các hướng: chỉ thị cho chất lượng đất ở mức độ loài hay
quần xã, chỉ thị cho thuốc trừ sâu, phân bón sử dụng trong sản xuất nông
nghiệp, chỉ thị cho môi trường đô thị
1.2. Tình hình nghiên cứu Chân khớp bé ở Việt Nam
Trên thế giới, Chân khớp bé được nghiên cứu từ rất sớm. Nhưng ở
Việt Nam, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX mới bắt đầu được nghiên
cứu. Lúc này có rất ít các công trình nghiên cứu bởi các tác giả nước ngoài
về Acari trước năm 1975.
Đầu tiên là công trình nghiên cứu của Vũ Quang Mạnh (1980) về
thành phần, phân bố và số lượng của các nhóm Microarthropoda ở một số
kiểu hệ sinh thái đồng bằng sông Hồng và rừng nhiệt đới. Trong công trình
này, tác giả cũng đã nghiên cứu về ảnh hưởng của một số nhân tố tự nhiên
chính đã ảnh hưởng tới sự phân bố và sự biến động số lượng của hai nhóm
Acari và Collembola ở đất [5], [6].
Vũ Quang Mạnh (1984) đã công bố kết quả nghiên cứu về thành
phần, phân bố số lượng các nhóm Microarthropoda ở đất Cà Mau (Minh
Hải) và Từ Liêm (Hà Nội) ữong Thông báo khoa học, Sinh học - Kỹ thuật
nông nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I [7].
Vũ Quang Mạnh, Mara Jeleva (1987) đã giới thiệu đặc điểm phân bố
và danh pháp phân loại học của 11 loài mới cho khu hệ Oribatida Việt Nam
và 1 loài mói cho khoa học [10].
Vũ Quang Mạnh, 1990, đã tổng kết tất cả các công trình nghiên cứu
Chân khớp bé ở Việt Nanm cho đến thòi điểm đó. Tác giả đã rút ra kết luận
về thành phần, đặc điểm phân bố và số lượng Chân khớp bé, nêu lên một số
Nguyễn Thị Trang 16 K35B SP Sinh
Năm 2005, Vương Thị Hòa và các cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng
của một số thuốc sử dụng trong nông nghiệp như: Shachong Shuang 200SL,
Butavi 60EC lên cấu trúc quần xã động vật Chân khớp bé đã cho thấy: chỉ
với 50ml cộng với khoảng 10 - 20 lít nước cũng gây ảnh hưởng rất nhiều tới
số lượng của nhóm Chân khớp bé. Đồng thòi cho thấy trong điều kiện thòi
tiết khác nhau, kể cả tác động của hai loại thuốc trên thì nhóm Oribatida
luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé [3], [4].
Tiếp đến năm 2006 - 2007 có nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Anh
và các cộng sự về ảnh hưởng của phân lân, kali với liều lượng khác nhau
đến nhóm Bọ nhảy trên đất trồng màu ở Gia Lâm và đi đến nhận xét: với
các liều lượng lân bón khác nhau từ thấp đến cao, nhìn chung đều ảnh
hưởng đến khu hệ sinh vật đất, làm thay đổi cấu trúc ưu thế của động vật
Chân khớp bé ở đất. Bón lân với liều lượng 60kg p
2
0
5
/lha và bón kali với
liều lượng 90kg/lha là thích hợp nhất, vừa giữ được tính đa dạng sinh học
cao của khu hệ động vật đất mà cây trồng cũng cho năng suất cao [1], [2].
Năm 2006, Vũ Quang Mạnh, Đào Duy Trinh đã nghiên cứu Ve giáp
trong cấu trúc của nhóm Chân khớp bé Microarthropoda ở các đai cao địa lý
của vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ. Kết quả cho thấy ảnh hưởng của
thòi tiết lên lên sự phân bố của nhóm Chân khớp bé theo tầng là rất cao và
phát hiện được 8 họ [13].
Nhìn chung còn các công trình nghiên cứu và các báo cáo khoa học
về Chân khớp bé đã và đang được thực hiện. Tuy đã đạt được những kết
quả đáng chú ý, nhưng đây mới chỉ là những kết quả bước đầu mang tính
chất thăm dò định hướng, vẫn còn nhiều hạn chế và nhiều điều chưa biết
đến. Vì vậy, để thực sự hiểu rõ vai trò quan ữọng của Chân khớp bé, từ đó
Đất rừng 05 05 10
Thảm lá mục 10
2.4. Phương pháp nghiên cứu
Mau đất được lấy ở 2 tầng có độ sâu từ 0 - 10 cm (tính từ mặt đất) kí
hiệu là tầng - 1, ở độ sâu tiếp theo 11 - 20 cm kí hiệu là tầng - 2 và thảm lá
rừng kí hiệu là tầng 0. Mỗi mẫu có kích thước 5 X 5 X 10cm.
Các mẫu định lượng của đất được thu lặp lại 5 lần ở mỗi tầng và ở
mỗi điểm nghiên cứu. Mỗi mẫu được cho vào 1 túi nilon riêng được buộc
chặt, bên trong có chứa nhãn ghi đầy đủ các thông số: tầng đất, ngày tháng,
địa điểm lấy mẫu [9], [16].
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
Mẩu đất sau khi lấy ở thực địa được chuyển về phòng thí nghiệm
động vật của trường để xử lý.
Chúng tôi tiến hành tách nhóm động vật Chân khớp bé theo phương
pháp phễu lọc “Berlese - Tullgren” dựa theo tập tính hướng sáng âm và
hướng đất dương của chúng. Mầu đất trong phễu lọc sẽ khô dần, theo đó
Microarthropoda sẽ chui sâu xuống lớp đất phía dưới, qua lưới lọc và roi
xuống đáy phễu.
Cấu tạo của phễu như sau: phễu bằng thủy tính (hay bằng giấy cứng),
cao 30 cm, đường kính miệng là 18 cm, đường kính vòi là 1,5 cm. Bộ phễu
được đặt trong giá gỗ, vòi phễu gắn với ống nghiệm chứa dung dịch formol
4%, bên ữong có nhãn ghi các số liệu như khi lấy mẫu ngoài thực địa.
Đặt trên phễu là rây lọc hình trụ, thành là vành kim loại, đường kính
15 cm, cao 4 cm; lưới lọc bằng sợi nilon, kích thước mắt lưới khoảng (1,0
X 1,0) mm. Trước khi cho mẫu đất vào rây lọc, đất được bóp nhỏ và rải đều
trên mặt lưới, phần vụn lọt qua mắt lưới sẽ được đổ trở lại trước khi đặt rây
vào phễu.
Mau được tách lọc trong điều kiện phòng thí nghiệm 25°c - 30°c,
trong bảy ngày đêm rồi tiến hành thu ống nghiệm dưới đáy phễu đã được
lọc. Dùng nút bông bịt kín ống nghiệm và lấy dây chun bó các ống nghiệm
được đưa vào ống nghiệm nhỏ có chứa dung dịch bảo quản, bên trong có
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Trang 20 K35B SP Sinh
nhãn ghi địa điểm, thòi gian, sinh cảnh, tầng đất rồi nút lại bằng bông
không thấm nước.
2.5. Một vài nét khái quát về khu vực nghiên cứu
2.5.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng thuộc trung
du và miền núi phía bắc, có tọa độ: từ 21° 08’ (tại xã Đạo Trù, huyện Tam
Đảo) đến 21°19' (tại xã Tráng Việt, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội) YĨ
độ bắc; từ 105° 109’ (xã Bạch Lưu, huyện Sông Lô) đến 105°47’ (xã Ngọc
Thanh, thị xã Phúc Yên) kinh độ đông. Diện tích tự nhiên, tính đến
31/12/2008 là 1.231,76 km
2
, dân số 1.014.488 người, gồm 9 đơn vị hành
chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện: Lập Thạch, Sông
Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên Lạc với 113 xã,
24 phường và thị trấn [17]. Trong những năm qua, với chính sách đổi mới,
mở cửa nền kinh tế, thu hút đầu tư của tỉnh, đòi sống vật chất và tinh thần
của nhân dân được cải thiện. Các khu du lịch - dịch vụ dần được hình thành
để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, hưởng thụ văn hóa, vui chơi giải trí của nhân
dân, ữong đó có khu vực hồ Đại Lải.
Hồ Đại Lải là một hồ nước nhân tạo lớn. Xưa kia, vùng hồ là một
thung lũng cằn cỗi nằm giữa một bên là dải núi Thằn Lằn, một bên là các
đồi ữọc trải dàn ra từ phía chân dãy Tam Đảo.Vào mùa mưa, nước từ các
con sông, suối phía Nam của dãy núi Tam Đảo như: sông Vực Tuyền, sông
Tôn, sông Bá Hạ, suối Đồng Câu, Đồng Chão đều dồn chảy vào lòng hồ,
khiến mực nước hồ có thể lên cao tói cốt 21m, nước chảy dồn về như thác,
đồng thòi lại rút đi rất nhanh, cuốn trôi theo phù sa màu mỡ, làm cho đồng
ruộng bị xói mòn, đất đai bạc màu vì khô cằn. Vì vậy, Bộ Thuỷ lợi đã cho
nước 525ha, “trái tim” khu du lịch là đảo nhỏ trong lòng hồ. Phía bắc hồ
Khóa luận tốt nghiệp đại học Trường ĐHSP Hà Nội 2
Nguyễn Thị Trang 22 K35B SP Sinh
Đại Lải là dãy Tam Đảo, núi non cao và xa dần vói những cánh rừng xanh
biếc ngút ngàn.
Ba mặt hồ là các gò đồi nối tiếp cùng núi Thằn Lằn, được xâu chuỗi nối dài
bởi những đập đất kiên cố như bức tường thành giữ nước. Xung quanh là
bát ngát màu xanh của hơn 9.000ha rừng phòng hộ. Nhờ có rừng và hồ
nước rộng lớn, khí hậu ở Đại Lải mát mẻ vào mùa hè, trong khi mùa đông
nhiệt độ không xuống quá thấp, do được dãy Tam Đảo và các ngọn núi Mỏ
Quạ, Thằn Lằn, Cột Cờ che chắn [21], nên hệ thực vật và động vật ở đây
rất phong phú.
I
IĐ
I
tộ
HỏnuníỊ,
Câử
I
Kh
u
rtỹ
hi
°
Bỗ Hiên
©2013
GũỊỊỊỊle Map data ©
2
D
1
Acari
MĐTB (Cá
thể/m
2
)
4800 2480 1095
% 92,3 94 93,2
Collembola
MĐTB (Cá
thể/m
2
)
400 160 80
% 7,7 6 6,8
Tổng
MĐTB (Cá
thể/m
2
)
5200 2640 1175
% 100 100 100
* Chú thích:
MĐTB: Mật độ trung bình.