BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Môn : QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG
Đề tài:
Mô hình chứng khoán hóa các khoản cho vay
Thực trạng và khả năng ứng dụng tại Việt Nam
Lớp : A201_K23_CH
Nhóm 4 : Nguyễn Thị Ngọc Cẩm
Vũ Quỳnh Hoa
Đoàn Thị Thanh Thủy
Tạ Quang Vũ
Nguyễn Thị Hoài Linh
Trịnh Thị Liên
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ CHỨNG KHOÁN HOÁ CÁC
KHOẢN NỢ
1. Khái niệm chứng khoán hóa (CKH)
[DATE]
[COMPANY NAME]
[Company address]
Theo OECD (1995)- Tổ chức Hợp tác Phát triển kinh tế thì chứng khoán hóa là việc phát
hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải từ khả năng thanh toán
của chủ thể phát hành mà bằng nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt. Khái
niệm này cho thấy: Khả năng sinh lời của tài sản dùng làm đảm bảo sẽ quyết định thu
nhập và mức độ rủi ro của chứng khoán phát hành. Như vậy, chứng khoán hóa được bảo
đảm không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành.
Theo Ủy ban Chứng khoán của Mỹ (SEC), chứng khoán hóa là việc tạo ra các chứng
khoán dựa trên dòng tiền cố định hoặc mang tính tuần hoàn của một tập hợp cố định tách
biệt các khoản phải thu hoặc các tài sản tài chính. Các chứng khoán này tùy theo cấu trúc
thời hạn của chúng sẽ được chuyển đổi thành tiền trong khoảng thời gian nhất định kèm
theo những quyền hưởng lợi khác và quyền đối với tài sản được sử dụng nhằm đảm bảo
sở hữu và không có bất cứ sự tranh chấp nào xảy ra khi nhượng bán. Và đặc biệt là
tài sản không phải nằm trong danh mục hàng cấm của Nhà nước.
- Tính nhượng bán
Những tài sản đem thế chấp phải là những tài sản có tính nhượng bán tương đối
cao trên thị trường. Những tài sản đảm bảo thường là nhà cửa, ô tô…Đặc tính này
nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư trong trường hợp người đi vay bị phá sản thì
vẫn có những thứ tài sản đảm bảo thanh toán.
- Tính phân tán rủi ro
Tài sản đồng thời cũng phải có tính phân tán rủi ro hoặc rủi ro được đảm bảo bởi
một tỷ lệ hỗ trợ tín dụng cần thiết. Ví dụ, với một khoản vay tiêu dung có giá trị
tương đối nhỏ, nếu phát hành chứng khoán trên khoản vay đó thì rủi ro quá lớn, do
vậy nếu ngân hàng tập hợp rất nhiều khoản vay lại để chứng khoán hóa thì hoạt
động thanh toán của một khoản vay sẽ không làm ảnh hưởng hay bóp méo toàn bộ
kết quả thanh toán của toàn bộ danh mục. Kết quả là toàn bộ danh mục tài sản có
thể coi là 1 tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toán của nó. Trong trường
hợp một số tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toán của nó. Trong trường
hợp một số tài sản trong danh mục hoạt động tốt, triển vọng thanh toán cao có ảnh
hưởng tích cực tới danh mục tài sản cho vay thì sẽ được phân tích theo hướng làm
hấp dẫn toàn bộ danh mục đem chứng khoán hóa.
- Tính độc lập với người khởi tạo
Đây là một đặc tính quan trọng có tác dụng làm tăng tính hấp dẫn của các chứng
khoán phát hành trên tài sản đó. Sự tồn tại hay khả năng sinh lời của tài sản hoàn
toàn độc lập với sự tồn tại của người khởi tạo, thậm chí ngay cả khi người khởi tạo
phá sản. Để đảm bảo điều này quá trình lập hợp đồng phải rõ rang, người khởi tạo
phải chuyển nhượng hoàn toàn các giấy tờ pháp lý cho trung gian đặc biệt và
không được dung tài sản thế chấp nhiều lần vào các mục đích khác. Một yếu tố
hấp dẫn cho các chứng khoán là trong lần đi vay ngân hàng đã có sự thẩm định tư
cách tín dụng của người đi vay, đồng thời mặc dù đã chuyển nhượng các chứng từ
liên quan cho SPV nhưng tổ chức khởi tạo vẫn giám sát hoạt động thanh toán của
người đi vay để hưởng phí dịch vụ.
loại chứng khoán này.
- Trung gian đặc biệt ( SPV)
Là một tổ chức độc lập hợp pháp ( thường là các công ty tài chính, AMC, các quỹ
tín thác …) với các biện pháp đặc biệt nhằm tăng tính hấp dẫn của các loại chứng
khoán phát hành ( SPV). SPV mua lại quyền nhận các khoản phải thu từ tổ chức
khởi tạo. Trên cơ sở những nhận định về con nợ của người khởi tạo, đồng thời với
những phân tích về tư cachs tín dụng riêng đối với các tổ chức khởi tạo lẫn khách
hàng vay vốn SPV định ra một mức giá thích hợp cho khoản phải thu mà nó sẽ
mua lại. Ở đây, SPV sẽ phải quan tâm tới lãi suất khoản vay, các khoản phí liên
quan, phần bù rủi ro đối với khoản vay, tài sản thế chấp…Sau đó, trên cơ sở tính
toán về thu nhập dự tính và đánh giá rủi ro nó sẽ phát hành chứng khoán có thứ
hạng khác nhau ra công chúng đầu tư. SPV cũng phải đáp ứng những yêu cầu pháp
lý như vốn pháp định, điều lệ hoạt động.
Khi có một sự kiện rủi ro xảy ra dẫn tới sự phá sản của SPV thì những hợp đồng
đang thực hiện vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi kết thúc nhưng do 1 SPV khác hoặc tổ
chức khởi tạo đảm nhận. Đây cũng là một lá chắn bảo vệ các nhà đầu tư tạo ra tính
hấp dẫn của chứng khoán.
- Nhà đầu tư
Trên thực tế thị trường chứng khoán hóa được phát hành hầu hết là các định chế
tài chính hoặc phi tài chính, chỉ một số lượng không lớn các nhà đầu tư cá nhân.
Các đối tượng này bao gồm: các quỹ hưu trí, quỹ tương trợ, công ty bảo hiểm,…
ABS cung cấp cho giới đầu tư một công cụ tài chính có tính an toàn tương đối cao
với lợi tực hợp lý mà khó có thể tìm được ở các loại chứng khoán do các tổ chức
có hạng thứ hạng tín dụng thấp phát hành. Ngoài ra, số lượng lớn các nhà đầu tư
đã tạo ra một vòng tuần hoàn ảo làm tăng tính lỏng cho thị trường ABS.
Khách hàng
Nhà khởi tạo
(1) K, lãi suất
r1
(2) K, lãi suất r2
5. Lợi ích và rủi ro của chứng khoán hóa các khoản nợ
5.1. Lợi ích của chứng khoán hóa
Chứng khoán hóa đem lại rất nhiều lợi ích đối với tổ chức khởi tạo.
Trong trường hợp ngân hàng cần tiền mặt thì giải pháp huy động thêm vốn trên thị
trường bằng trái phiếu sẽ có chi phí rất cao. Để giảm chi phí ngân hàng sẽ dung tài
sản mình nắm giữ đem thế chấp để vay từ các định chế tài chính khác.
Khi huy động vốn bằng trái phiếu thì sẽ hạch toán nội bảng và bị giới hạn bởi xếp
hạng tín dụng của ngân hàng. Khi đó việc huy động vốn sẽ có chi phí cao hơn
đồng thời tỷ số nợ/ vốn sẽ tăng, rủi ro cao hơn và ảnh hưởng tới xếp hạng của ngân
hàng. Chứng khoán hóa sẽ giúp hạn chế điều này.
- Nguồn tài trợ ngoại bảng tăng lên
Theo quy định thì tiền mặt thu từ bán tài sản được cộng vào tổng tài sản, đồng
thời tài sản đã được chuyển nhượng hoặc bán sẽ được hạch toán vào khoản
mục ngoại bảng. Như vậy, ta thấy khoản cho vay thế chấp chuyển sang tiền
mặt, đồng thời trên bảng cân đối vẫn xem khoản mục đầu tư chứng khoán từ
chính tài sản đã được chứng khoán hóa của mình.
- Tránh được sự suy giảm của thị trường
Trong điều kiện ban đầu ngân hàng có thể đem bán tài sản thế chấp trên thị
trường thứ cấp. Nhưng để tìm được khách hàng mua với mức giá đúng bằng
giá trị thực của tài sản không phải là dễ và ngân hàng sẽ mất một khoản chi phí
không phải nhỏ. Đặc biệt trong trường hợp thị trường của loại tài sản đó giảm
sút thì nguy cơ bán giá thấp là chắc chắn. Lúc đó, chứng khoán hóa là một giải
pháp hay để bảo toàn giá trị tài sản đợi khi thị trường cho tài sản đó đạt được
độ ổn định.
- Cải thiện được tỷ số tài chính
Một ưu điểm của chứng khoán hóa là giúp cho ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn
với chi phí không cao mà vẫn duy trì được những chỉ số tài chính. Như đã
thấy, tỷ số nợ trên vốn cổ phần sẽ không thay đổi, đồng thời một loạt các chỉ số
liên quan khác sẽ không bị ảnh hưởng, thậm chí còn được cải thiện như chỉ số
phản ánh tính thanh khoản của bảng cân đối.
nhau. Chứng khoán hóa có thể tạo ra hàng loạt các công cụ tài chính năng động từ
chứng khoán ngắn hạn, dài hạn cho tới chứng khoán coupon thấp, chứng khoán
coupon cao, từ kì hạn hoàn vốn âm hay dương cho tới rủi ro thanh toán trước thõa
mãn nhu cầu của giới đầu tư.
5.2. Một số rủi ro thường gặp trong chứng khoán hóa
Quá trình chứng khoán hóa nếu không tiến hành thận trọng không những không có
lợi cho tổ chức khởi tạo mà còn có thể để lại rủi ro cho tổ chức đó. Nếu tài sản
dùng để chứng khoán hóa chịu sự bóp méo của thị trường dẫn tới chất lượng
chứng khoán không như ý muốn thì sẽ có sự xung đột tiềm ẩn giữa tổ chức khởi
tạo, nhà cung cấp và người bảo lãnh.
- Rủi ro phải mua lại các chứng khoán đã phát hành
Một ngân hàng người khởi tạo quá trình chứng khoán hóa có thể sẽ chịu sức ép
mua lại các chứng khoán đã phát hành nếu tài sản ngừng hoạt động hoặc biểu
hiện không tốt. Chính quá trình phức tạp của chứng khoán hóa đã tạo ra sức ép
đối với tổ chức khởi tạo. Việc có khá nhiều thành viên tham gia cùng sự quan
tâm rất lớn của công chúng đầu tư đã gây ra sức ép tiềm ẩn. Nhưng vấn đề mà
tổ chức khởi tạo lo lắng nhất ở đây là rủi ro trong quá trình chứng khoán hóa
đối với các thành viên khác có thể làm ảnh hưởng tới danh tiếng của nó trên thị
trường, tạo ra những tiền lệ xấu về sau này.
- Rủi ro chất lượng danh mục giảm
Trên thị trường, tổ chức khởi tạo có xu hướng tìm kiếm những nguồn huy động
mới. Do vậy, đôi khi nó muốn bán đi những tài sản có chất lượng tốt và vị vậy
có xu hướng làm tăng rủi ro trung bình đối với những tài sản còn lại trong danh
mục. Các nhà đầu tư cùng cơ quan xếp hạng luôn yêu cầu tài sản có chất lượng
cao và khuyến khích các tổ chức bán đi những tài sản tốt của mình. Thêm vào
đó, trong quá trình chứng khoán hóa với thời gian tương đối dài, ngân hàng
phải chịu áp lực từ phía cổ đôn nên thường có xu hướng giảm nhẹ các tiêu
chuẩn cho vay để giữ mức độ tăng trưởng. Và khi đó, nhiều khoản tín dụng
mới đã được chấp nhận không những không làm cho chất lượng danh mục cao
hơn mà lại có xu hướng làm giảm chất lượng danh mục, từ đó ảnh hưởng tới
tín dụng trên tổng huy động không được vượt quá 80% đối với ngân hàng và 85% đối với
các tổ chức tín dụng khác, song các tổ chức tín dụng đã không thực hiện được và cũng
không có chế tài nào xử lý nghiêm minh các tổ chức này.
Năm 2009, Việt Nam là nước có tỉ lệ cho vay/huy động tiền gửi trong khu vực cao thứ
hai, xấp xỉ Hàn Quốc, và cho đến năm 2010 thì con số này tăng cao đột biến lên trên
131%, cách khá xa so với mức quy định trong thông tư 13. Như vậy có thể nhận thấy hệ
thống ngân hàng thương mại Việt Nam tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn so với các quốc gia
khác và dễ bị tổn thương hơn nếu như cùng chịu tác động các cú sốc kinh tế từ bên ngoài.
Xuất hiện “sai lệch kép”. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Yến (2012, trang 2), sai
lệch kép được hiểu là trạng thái xảy ra đồng thời sai lệch về cơ cấu kỳ hạn và sai lệch về
cơ cấu tiền tệ giữa tài sản và nguồn vốn trên bảng cân đối tài sản của một tổ chức. Bất
kể sai lệch kép nằm ở đâu, NHTM vẫn là chủ thể sau cùng gánh chịu rủi ro gắn với sai
lệch kép.
Khi nền kinh tế có những biến động bất lợi nếu sai lêch kỳ hạn ở mức độ lớn sẽ gây ra
rủi ro đi kèm cho các ngân hàng như rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản và dễ dàng đẩy
hệ thống ngân hàng đến rủi ro mất khả năng thanh toán. Sai lệch kỳ hạn ở các quốc gia
mới nổi và các cuốc gia đang phát triển thường lớn hơn sai lệch kỳ hạn ở các quốc gia
đã phát triển.
Sự mất cân đối về cơ cấu tiền tệ một mặt gây ra rủi ro cho bảng cân đối do những biến
động của tỷ giá, mặt khác đem lại rủi ro quốc gia, rủi ro mất khả năng thanh toán, Sai
lệch tiền tệ cho dù ở bảng cân đối của ngân hàng hay khách hàng vay vốn thì chủ thể sau
cùng gánh chịu rủi ro vẫn là ngân hàng. Cũng như sai lệch kỳ hạn, sai lệch tiền tệ ở các
quốc gia mới nổi thường lớn hơn sai lệch tiền tệ ở các quốc gia đã phát triển.”
Tỷ trọng nguồn vốn huy động không kỳ hạn và ngắn hạn vẫn chiếm khoảng 75%, nguy
cơ sai lệch về cơ cấu thời hạn trong bảng cân đối tương đối lớn. Sai lệch về cơ cấu đồng
tiền tuy có giảm trong vài năm gần đây nhưng mức độ vẫn còn khá lớn và rất nhạy cảm
với biến động tỷ giá, lãi suất. Tài sản nước ngoài ròng trong NHTM cũng phản ánh rủi ro
của khu vực này khi sử dụng nguồn đi vay từ nước ngoài để tài trợ cho các khoản tín
dụng trong nước dẫn đến sai lệch tiền tệ.
Lợi nhuận năm 2013 của các NHTM nhìn chung giảm so với năm trước. ROA và ROE
nhiều năm qua đối với hệ thống ngân hàng. Một số điểm nghẽn của nền kinh tế vẫn
chưa thông. Thị trường tiền tệ và thị trường chứng khoán vẫn còn nhiều bất ổn nội
tại. Song, với những nỗ lực thường xuyên, liên tục, cả hệ thống đã bước đầu vượt qua
những khó khăn. Nhờ đó, không những rủi ro của hệ thống giảm bớt với những
chuyển biến tích cực như thanh khoản khả quan hơn, lãi suất huy động đã giảm 2-3%
và lãi suất cho vay giảm 3-5% - ngang bằng mức 2006, mà quá trình tái cơ cấu và kết
quả hoạt động của hệ thống ngân hàng cũng đã có những cải thiện đáng kể.
6.1.1. Những mảng màu sáng
Thứ nhất, quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu
đáng khích lệ
Được đánh giá là ngành nỗ lực nhất trong "bộ ba" tái cơ cấu nền kinh tế (ngân
hàng – doanh nghiệp Nhà nước - đầu tư công)
1
, ngành ngân hàng đã khá chủ
động triển khai tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo đúng mục tiêu đã được Chính
phủ cũng như Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xác định. Không chỉ về vốn mà nhân
sự trong ngành ngân hàng cũng có sự xáo trộn lớn. Song nếu nhìn từ góc độ tích
cực thì đây là động thái cần thiết để sàng lọc lại đội ngũ nhân sự ngành ngân
hàng vốn được tuyển dụng quá nhiều tại thời điểm “ra ngõ gặp ngân hàng” cách
đây 6-7 năm. Hơn nữa, môi trường kinh doanh càng khó khăn thì những yêu cầu,
1
Phát biểu của ông Lê Đức Thúy - nguyên Thống đốc NHNN tại Hội thảo về cải cách thị trường tài chính do Ban
Kinh tế Trung ương và Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia tổ chức ngày 14/10/2013
đòi hỏi đối với đội ngũ nhân sự sẽ càng cao hơn, không chỉ về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ mà cả về kỹ năng và đạo đức nghề nghiệp, và chỉ qua sàng lọc,
ngành ngân hàng sẽ có được đội ngũ lao động tinh hơn để có thể phát triển một
cách bền vững.
Một tín hiệu đáng mừng là dấu hiệu cho thấy những “mảng sáng” trong hoạt
động ngân hàng ngày càng rộng hơn là tốc độ mở rộng mạng lưới đã và sẽ tiếp
tục tăng lên trong thời gian tới sau khi kế hoạch mở rộng mạng lưới của các ngân
tăng tín dụng các tháng năm 2013 thì có thể thấy rằng, tín dụng mới chỉ bắt đầu
tăng trưởng dương từ quý II. Cơ cấu tín dụng đã từng bước hợp lý, hiệu quả và an
toàn hơn, đã tập trung được vốn vào lĩnh vực SXKD, nhất là tín dụng đối với các
lĩnh vực ưu tiên. Nhờ đó, tăng trưởng kinh tế vẫn ở mức hợp lý và các ngân hàng
đã bắt đầu có lãi trở lại, ngay cả những ngân hàng nhỏ.
INCLUDEPICTURE
"http://www.vietinbank.vn/web/export/sites/default/vn/research/1
4/images/Buc-tranh-Ngan-hang-2013-Td.jpg" \*
MERGEFORMATINET
Không chỉ có vậy, hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng đã có những biểu hiện
an toàn và hiệu quả hơn. Tính đến cuối tháng 31/10/2013, tỷ lệ an toàn vốn (CAR)
có giảm nhẹ, nhưng vẫn ở mức khá cao với 13,64%, cao hơn nhiều so với quy
định tối thiểu 9% mà NHNN đang áp dụng; thanh khoản đang được cải thiện và
khá dồi dào so với giai đoạn trước; vốn điều lệ tăng 6,02%; vốn chủ sở hữu tăng
3
http://cafef.vn/tai-chinh-ngan-hang/nam-2012-loi-nhuan-toan-nganh-ngan-hang-dat-28600-ty-dong-
20130118104615893ca34.chn
6,33% và ngày càng tiệm cận tới quy mô vốn điều lệ; tổng tài sản Có tăng 6,66%
so với cuối năm 2012.
Thứ ba, xử lý nợ xấu đã đạt được những thành công bước đầu
Tăng nợ xấu không chỉ ăn mòn lợi nhuận của các ngân hàng mà còn là nguyên
nhân căn bản gây nghẽn tín dụng trong suốt thời gian qua. Tuy chưa thực sự khả
quan nhưng theo báo cáo, tỷ lệ nợ xấu tính đến tháng 11/2013 là 4,55% - tiếp tục
giảm so với tháng 10 là 4,73%.
INCLUDEPICTURE
"http://www.vietinbank.vn/web/export/sites/default/vn/res
earch/14/images/Buc-tranh-Ngan-hang-2013-Nx.jpg" \*
MERGEFORMATINET
Việc xử lý nợ qua VAMC cũng đã có những tiến triển nhất định. Tính đến ngày
24/12, VAMC đã mua được gần 32.000 tỷ đồng dư nợ gốc của gần 30 TCTD. Dự
BĐS chậm phục hồi, TTTC trì trệ càng gây khó khăn cho việc bán, xử lý TSBĐ
tiền vay để thu hồi nợ. Trong khi đó các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô, tháo
gỡ khó khăn cho SXKD, hỗ trợ thị trường BĐS luôn có độ trễ và cần phải có thời
gian phát huy tác dụng. Đã vậy, các giải pháp xử lý nợ xấu lại chưa được triển
khai đồng bộ mà chủ yếu vẫn là TCTD tự xử lý nợ xấu nên đã làm giảm mức độ
lành mạnh tài chính, hiệu quả kinh doanh của TCTD trong ngắn hạn. Cơ chế,
chính sách xử lý TSBĐ còn nhiều rất vướng mắc, phức tạp, chậm được khắc phục,
hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho xử lý nợ xấu. VAMC đã được thành lập,
đã mua nợ, song việc giải quyết số nợ này ra sao là cả một vấn đề.
Ba là, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) thực hiện tái cơ cấu chậm.
Hơn 1 năm qua, tiến trình cổ phần hóa vẫn hết sức chậm chạp, năm 2012 cả nước
chỉ cổ phần hóa có 13 DN, bằng 14% kế hoạch. 7 tháng đầu năm nay, cũng chỉ có
thêm 16 DN được cổ phần hóa. Việc thoái vốn thì ì ạch vì thị trường BĐS, TTCK
đều đi xuống. Thoái vốn còn theo tư duy bán để cắt lỗ, chứ không phải là để phân
bổ lại nguồn lực. Vì thế, không những không thực hiện được chức năng là “lực
4
Thời báo Kinh tế Sài gòn số 46-2013 ra ngày 14/11/2013, trang 53
đẩy” cho phát triển kinh tế mà còn ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh ngân
hàng, bởi đây là đối tượng khách hàng rất lớn của các NHTM, là nơi hấp thụ vốn
của nền kinh tế và cũng là nơi tạo ra của cải vật chất cho xã hội nên tháo gỡ nút
thắt từ phía DNNN được coi mà giải pháp quan trọng để cải thiện hoạt động tín
dụng. Tái cơ cấu nền kinh tế thông qua cổ phần hóa DNNN là một nhiệm vụ cấp
bách trước bối cảnh suy thoái kinh tế gần đây. Không những thế, cần nâng cao
năng lực cạnh tranh cho những DN này để làm đầu tàu cho nền kinh tế những
năm tới. Muốn vậy, các DN này phải được định giá tài sản chính xác dựa trên tính
công khai, hiệu quả, có chế độ tài chính phù hợp với chuẩn mực quốc tế.
7. Hoạt động cho vay tại các NHTM
Danh mục cho vay có dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro tập trung khá lớn. Những rủi ro này sẽ trở
thành tổn thất tài chính nghiêm trọng cho các ngân hàng khi nền kinh tế chuyển biến bất
lợi.
Ngoài ra còn có 1 số hỗ trợ khác nhưng chưa thấy hiệu quả rõ rệt.
8. Ứng dụng CKH các khoản cho vay của NHTM Việt Nam
8.1. Khó khăn
Cho đến nay, kỹ thuật CKH chưa được phổ biến ở nước ta, mặc dù đã có nhiều
nghiên cứu về loại hình chứng khoán này. Nguyên nhân là do những khó khăn
sau:
- Chưa có hệ thống pháp luật phù hợp. Hiện hay nước ta chưa có văn bản pháp
luật cụ thể nào đưa ra các quy định cụ thể về hoạt động cũng như cách thức áp
dụng kỹ thuật CKH. Chính phủ cũng chưa có một chính sách hay chương trình
nào thúc đẩy thực hiện cam kết trong khuôn khổ ASEAN về phát triển thị
trường CKH.
- TTCK VN còn sơ khai, công cụ phái sinh chưa phát triển. Các tổ chức hỗ trợ
cũng như thị trường phi tập trung còn kém phát triển và hiện vẫn chưa có ngân
hàng đầu tư nào trong khi đây chính là những yếu tố quan trọng đối với CKH,
để các chứng khoán được phát hành và mua bán.
- Tiến trình cải cách của các NHTM còn chậm chạp mặc dùn các ngân hàng này
được xem là đóng vai trò đi tiên phong. Vấn đề về phát triển bền vững tài
chính luôn nhận được sự ưu tiên quan tâm của Nhà nước, NHNN và các
NHTM trong quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Thế nhưng năng lực tài
chính của nhiều NHTM còn yếu, nợ quá hạn cao và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các
tỷ lệ về chi phí nghiệp vụ và khả năng sinh lời của các NHTM đều thua kém
các ngân hàng trong khu vực, khả năng thiết lập các quỹ dự phòng bị hạn chế
và khả năng thanh khoản thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu về năng lực quản
lý. Bản thân các NHTM cũng chưa thực sự nhận ra sự cần thiết của mô hình
CKH trong việc huy động và làm linh hoạt tài sản mà nó nắm giữ để hoạt động
hiệu quả hơn.
- Các sản phẩm phái sinh nói chung và CKH nói riêng vẫn còn rất mới mẻ đối
với các nhà đầu tư trong nước dẫn đến cầu không nhiều.
- Tấm gương khủng hoảng ở Mỹ bùng phát do hoạt động quá mức của CKH bất
động sản đã khiến cho các quốc gia khác thận trọng hơn đối với các sản phẩm
cần thiết
này xuất phát t
ừ
chính đòi hỏi phát t
r
iển của thị t
rư
ờng tài chính, của nền
kinh tế và gắn liền với các lợi ích cơ
b
ản
m
à kỹ thuật ch
ứ
ng khoán hoá
m
ang lại.
Đ
iều này thể hiện t
r
ên 04 ph
ư
ơng diện
s
au
:
-
Một là, t
h
ự
m
đáp
ứ
ng vốn cho
hoạt động
s
ản xuất kinh doanh và vố
n
l
ư
u động của doanh nghiệp.
H
iện
nay các
N
gân hàng thương mại được
s
ử dụng nguồn vốn cho vay t
r
ung
dài hạn bao gồm: nguồn vốn huy động t
r
ung dài hạn; tỷ lệ vốn ngắn hạn
được
s
ử dụng cho vay t
r
ung dài hạn và vốn chủ
s
ở hữu. Tuy nhiên nguồn
iêng, tạo
r
a khó khăn thực
s
ự về nguồn vốn
để đáp ứng nhu cầu tín dụng bất động
s
ản.
D
o vậy việc áp dụng, thực
hiện các giải pháp huy động về vốn có tính chiến lược và ý nghĩa căn
bản, với việc áp dụng kỹ thuật chứng khoán hoá các tài
s
ản tài chính nói
chung và các khoản tín dụng bất động
s
ản nói
r
iêng của các
N
gân hàng
thương mại t
r
ong điều kiện hiện nay là cần thiết và có ý nghĩa thực
hiện, thực thi cao. T
r
ong t
r
ường hợp đó các khoản nợ c
h
-
30 năm.
Đ
ồng
thời tạo điều kiện cho các
N
gân hàng thương mại đẩy nhanh quá t
r
ình
tuần hoàn và chu chuyển vốn, khai thác và
s
ử dụng vốn hiệu quả.
-
Hai là, t
húc đẩy thị t
rư
ờng tài chính phát t
r
iển
:
T
h
ự
c tế hiện nay, thị
trường tài chính, thị trường chứng khoán phát triển n
ư
ớc ta
m
ới chỉ
r
ường chứ
n
g khoán nước
ta mới ở t
r
ình độ thấp và giai đoạn đầu phát t
r
iển.
M
ột t
r
ong nguyên
nhân cơ bản đó là lượng hàng hoá
(
các loại chứng khoán: cổ phiếu; t
r
ái
phiếu; giấy tờ có giá
)
còn ít và chưa đa dạng.
S
ự phát t
r
iển của thị
t
r
ường vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề
đ
ặt
ự lựa chọn cho các nhà đầu tư.
-
Ba là, c
h
ứ
ng khoán hoá tạo điều kiện phát t
r
iển hoàn thiện các loại thị
t
rư
ờng có liên quan
:
tín dụng; chứng khoán và thị t
r
ường bất động
s
ản.
V
iệc chứng khoán hoá các khoản tín dụng bất động
s
ản
s
ẽ cho phép đáp
ứng tốt nhất nhu cầu về các
s
ản phẩm bất động
s
ản của người dân, của
nền kinh tế. T
r
sử
dụng hiệu quả các nguồn l
ự
c của nền kinh tế
-
xã hội
:
Chứng khoán hoá các khoản tín dụng bất động sản của các
Ngân hàng thương mại tạo điều kiện khai thác và
s
ử dụng hiệu quả mọi
nguồn lực t
r
ong xã hội, t
r
ong nền kinh tế. Theo đó các khoản vốn nhàn
r
ỗi t
r
ong dân cư được thu hút thông qua việc người dân đầu tư, mua
các chứng khoán hoá dựa t
r
ên các khoản cho vay bất động
s
ản. T
r
ên cơ
s
ở đó cùng với các hình thức đầu tư k
h
ử dụng đầu tư vào lĩnh vực
s
ản
xuất kinh doanh, tạo khả năng
s
inh lợi cao, góp phần thúc đẩy nền kinh
tế tiếp tục tăng t
r
ưởng và phát t
r
iển.
Tuy nhiên để phát t
r
iển và ứng dụng kỹ thuật chứng khoán hoá tại
V
iệt
N
am,
không chỉ cần một quá t
r
ình
(
về chuẩn bị cơ
s
ở hạ tầng kỹ thuật: luật pháp; các
tổ chức tài chính liên quan; cơ chế chính
s
ách
)
mà cần có đánh giá nhìn nhận