QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO VAI TRÒ CỦA BAN ĐÃI NGỘ VÀ BAN QUẢN TRỊ RỦI RO - Pdf 28

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
VAI TRÒ CỦA BAN ĐÃI NGỘ VÀ BAN QUẢN
TRỊ RỦI RO
BÀI TIỂU LUẬN
GVHD: GS.TS. Trần Ngọc Thơ
Nhóm 3- Phòng 311- K23
Hà Thị Như Phương
Nguyễn Thùy Mỹ Hạnh
Bùi Thị Lệ Thủy
Huỳnh Thị Thu Trang
Nguyễn Đức Phú
Bùi Bảo Ngọc Đông
2
MỤC LỤC
Bảng 2. Thống kê mô tả
Bảng 3. (a) Thông tin mẫu. (b) dữ liệu không cân đối – hồi quy Probit
Bảng 4. Phân tích nhân tố đo lường hiệu quả của ban (N=337 doanh nghiệp có CC,
N=236 doanh nghiệp có RC)
Bảng 5. Hồi quy GLS tác động ngẫu nhiên với sai số vững theo nhóm (cluster robust
errors, biến phụ thuộc: rủi ro thị trường (BETA)
Bảng 6. Hồi quy GLS tác động ngẫu nhiên với sai số vững theo nhóm (cluster robust
errors, biến phụ thuộc: hiệu quả hoạt động (LNEPS
t+1
)
Bảng 7. Hồi quy (2SLS) biến công cụ: biến phụ thuộc: hiệu quả hoạt động (EPS
t+1
)
Bảng 8. Kiểm định vấn đề nội sinh của COMFAC(CC/RC), DUAL
3
Tóm tắt

đông trung lập với rủi ro và các nhà quản lý sợ rủi ro đòi hỏi sự giám sát bởi hội đồng
quản trị (Jensen và Meckling, 1976; Subramaniam et al., 2009). Do đó, nếu không có sự
giám sát, các nhà quản lý sợ rủi ro có thể từ chối các dự án có lợi nhuận cao (nhưng nhiều
rủi ro hơn) nhưng các dự án đó lại là hấp dẫn đối với các cổ đông những người thích tăng
tỷ suất sinh lợi từ mức rủi ro cao hơn. Quản lý rủi ro quá mức không được coi là vấn đề
đối với các công ty phi tài chính vì sự thất bại của một doanh nghiệp sẽ không ảnh hưởng
đến danh mục đầu tư đa dạng của một nhà đầu tư trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Pathan
(2009) cho thấy rằng các cổ đông ngân hàng thích rủi ro cao do chỉ chịu trách nhiệm hữu
hạn các vấn đề về rủi ro đạo đức và hối lộ (Jensen và Meckling, 1976). Tuy nhiên,
Gordon (2011) cho rằng điều này có thể không phải là trường hợp riêng trong lĩnh vực tài
chính. Sự sụp đổ của một công ty tài chính trong hệ thống sẽ làm tăng khả năng các công
5
ty tài chính khác sẽ sụp đổ theo do các hiệu ứng lan toả từ sự tác động lẫn nhau trong lĩnh
vực tài chính như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Do đó, cần giám
sát rủi ro chặt chẽ bằng ban quản trị rủi ro là đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực tài chính.
Ban quản trị rủi ro và ban đãi ngộ đều chịu trách nhiệm theo dõi và giám sát các hoạt
động rủi ro của doanh nghiệp. Vì vậy, một ban đãi ngộ hoặc ban giám sát rủi ro làm giảm
rủi ro quá mức và xác suất của sự sụp đổ của một công ty tài chính trong hệ thống sẽ giúp
cổ đông hưởng lợi.
Bài nghiên cứu này điều tra mối liên hệ giữa các ban quản lý rủi ro (RC) và ban
đãi ngộ (CC) với mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi của các công ty tài chính. Chúng tôi đề
nghị một số đặc điểm nhất định của ban (kích thước, cơ cấu và chức năng) phản ánh động
lực và khả năng để làm tăng mức chấp nhận rủi ro phù hợp với sở thích của cổ đông. Do
đó, bài nghiên cứu này dự đoán một tương quan dương giữa rủi ro và cơ cấu của RC và
CC. Hơn nữa, chúng tôi thấy rằng kinh nghiệm quản lý rủi ro của các công ty đòi hỏi cần
có một RC và CC để quản lý và giám sát rủi ro để đảm bảo một tương quan dương giữa
rủi ro và tỷ suất sinh lợi. Các kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng RC và CC có một vai
trò quan trọng trong các mức độ rủi ro của công ty. Sử dụng một thành phần phân tích
nhân tố chúng tôi lấy được một số yếu tố cho các đặc tính của các ban và sử dụng beta
như phương pháp đo lường rủi ro.

chính Úc (Australian Prudential Quy Authority (APRA, 2009) đã đưa ra một khung pháp
lý cho các tổ chức tài chính (xem Phụ lục A). Prudential Standard APS 510 phác thảo
những kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm yêu cầu cho các thành viên HĐQT tham gia
vào quản lý rủi ro.
Trong những năm gần đây, nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính đã bị chỉ trích
mạnh mẽ về việc thanh toán các khoản tiền thưởng quá mức đối với một số thành viên
HĐQT điều hành và quản lý cấp cao vào thời điểm khi thế giới đang phải hứng chịu
những hậu quả của một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, được cho là một kết quả
của sự vô trách nhiệm về rủi ro của các tổ chức tài chính (Pathan, 2009). Nghiên cứu này
góp một phần nhỏ vào nghiên cứu về việc áp dụng quản trị rủi ro và đãi ngộ trong ngành
tài chính có liên quan với mức độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi tương ứng. Cho rằng việc
thành lập các RC và CC bởi công ty của Úc là tự nguyện, không phải ngạc nhiên rằng
ảnh hưởng của các ban này đã không được khai thác đầy đủ.
7
Bài viết được thực hiện như sau: Trong phần 2 chúng tôi xem xét các tài liệu có
liên quan và trình bày một số giả thuyết. Phần 3 mô tả các phương pháp nghiên cứu và
Phần 4 cung cấp các kết quả phân tích. Phần cuối cùng cung cấp một bản tóm tắt và kết
luận.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu:
Xem xét cơ chế quản trị doanh nghiệp ở Úc, sự phối hợp giữa ban quản trị rủi ro
và ban đãi ngộ để kiểm soát mức độ độ chấp nhận rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động
của doanh nghiệp. Những yếu tố tác động đến giá trị doanh nghiệp trong giai đoạn này.
Làm rõ những yếu tố, thành phần, tác động của các ban quản trị rủi ro và đãi ngộ
vào quản trị doanh nghiệp.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu:
• Cơ cấu của ban đãi ngộ có tác động cùng chiều với mức độ chấp nhận rủi ro của
doanh nghiệp?
• Cơ cấu của ban quản trị rủi ro có tác động ngược chiều với mức độ chấp nhận rủi
ro của doanh nghiệp?
• Tồn tại các thành viên kiêm nhiệm trong ban quản trị rủi ro và ban đãi ngộ giúp

Trong khuôn khổ cạnh tranh bị giới hạn, quy chế nghiêm ngặt và bất cân xứng thông tin
cao, hội đồng quản trị (HĐQT) trở thành một cơ chế chính để giám sát hành vi các nhà
quản lý và đưa ra chỉ dẫn đối với việc quản lý rủi ro, xác định chiến lược và thực hiện
(Andres và Vallelado, 2008).
Theo lý thuyết đại diện, HĐQT được đánh giá là một yếu tố quan trọng trong quản
trị doanh nghiệp dựa vào tiền đề là các đặc tính của các thành viên HĐQT xác định khả
năng của HĐQT để giám sát và kiểm soát các nhà quản lý, cung cấp thông tin và tư vấn
các nhà quản lý, giám sát việc tuân thủ luật và các quy định hiện hành, và liên kết công ty
với môi trường bên ngoài (Carter và các đồng nghiệp, 2010). Theo đó đa số các lý thuyết
hiện có tập trung vào việc điều tra các đặc tính của HĐQT như cơ cấu và quy mô của nó.
Tuy nhiên, John và Senbet (1998) lập luận rằng cấu trúc hành chính nội bộ của
HĐQT đóng vai trò quan trọng hơn trong việc đo lường hiệu quả của nó. HĐQT ủy
nhiệm một số quyền hạn của mình cho từng ban, các ban này chịu trách nhiệm cho một
lĩnh vực cụ thể trong đó các thành viên được chuyên môn hóa. Tại Úc, ASX CGC đã
thiết lập các hướng dẫn liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro trong các công ty niêm yết
công khai, đặt trách nhiệm với HĐQT (ASX CGC, 2007). Cụ thể, các quy định này đề
9
nghị rằng các công ty thành lập một ban đãi ngộ (CC) và ban quản trị rủi ro (RC) như
một công cụ cải thiện quản trị doanh nghiệp và đặc biệt là quản trị rủi ro.
Các tiểu ban được HĐQT thành lập để hỗ trợ HĐQT thực hiện vai trò của mình, đặc
biệt gia tăng trách nhiệm và áp lực đặt lên HĐQT. Ban đãi ngộ và ban quản trị rủi ro là
những cơ chế quản trị doanh nghiệp quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của cổ đông
bằng cách cung cấp một cái nhìn độc lập về các hoạt động khác nhau của HĐQT
(Harrison, 1987). Harrison (1987) gợi ý rằng các ban của HĐQT đảm bảo các thành viên
HĐQT tập trung vào mảng trách nhiệm cụ thể của mình, mang đến tính hợp pháp và
trách nhiệm cho tổ chức, nâng cao sự đóng góp của các thành viên HĐQT trong cuộc họp
của ban và của HĐQT. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các ban riêng biệt có ảnh hưởng
nhiều hơn đối với hoạt động doanh nghiệp (Klein, 1998), chiến lược của công ty (Vance,
1983) và làm giảm các vấn đề đại diện hơn so với tập trung toàn bộ quyền hạn vào
HĐQT (Davidson và các đồng nghiệp., 1998). Do đó, các ban đóng vai trò quan trọng

cho các nhà quản trị không thích rủi ro để họ thực hiện các dự án có mức độ rủi ro mà các
cổ đông trung lập với rủi ro có thể chấp nhận. Một thách thức lớn cho việc quản trị rủi ro
là thiết kế các thỏa thuận đãi ngộ sao cho thúc đẩy các nhà quản lý hành động phù hợp
với khẩu vị rủi ro của các cổ đông trong khi vẫn duy trì một mức độ thích hợp rủi ro cho
công ty (Murphy, 2000). Bởi nếu một người vừa kiêm nhiệm làm CEO, HĐQT và ban
CC thì sẽ phát sinh ra các rủi ro đạo đức. Vì vậy cần thành lập một ban để giám sát quá
trình này, tạo ra một lá chắn tin cậy nhằm ngăn chặn các vi phạm các nguyên tắc quản trị
công ty, đó là lý do ban quản trị rủi ro RC ra đời. Ban (RC) theo dõi mức độ rủi ro của
công ty với tiêu chí mong muốn tối đa hóa lợi nhuận. Các RC cố vấn cho HĐQT về việc
quản lý rủi ro hiện tại và chiến lược phòng ngừa rủi ro trong tương lai của công ty
(Walker, 2009).
Theo lý thuyết phát tín hiệu (Certo, 2003) tổ chức đưa ra những cách thức quản trị
doanh nghiệp tốt, như thành lập các ban ngành, để tạo ra một hình ảnh tốt trên thị trường.
Theo đó giảm thiểu nguy cơ công ty bị định giá thấp bởi các nhà đầu tư hoặc tối đa hóa
tiềm năng nâng cao giá trị công ty. Tuy nhiên, Menon và Williams (1994) lập luận rằng
trong nhiều trường hợp các ban có thể được thành lập để quảng bá cho hình ảnh quản trị
11
doanh nghiệp mà không phục vụ bất kỳ mục đích hữu ích nào cho tổ chức. Do đó, năng
lực và sự tồn tại của các ban đều quan trọng đối với sự thành công của công ty (Akhigbe
và Martin, 2006). Kiến thức chuyên môn về lĩnh vực tài chính của thành viên HĐQT ban
có thể giúp họ giám sát và tư vấn về lĩnh vực mình phụ trách.
2.1.2. Các yếu tố quyết định hiệu quả ban đãi ngộ và ban quản trị rủi ro
Các nhân tố quyết định hiệu quả quản trị của ban đãi ngộ, ban quản trị rủi ro và ban
kiểm toán thì tương tự nhau vì chúng là các ban giám sát của HĐQT. Nghiên cứu này
khảo sát hiệu quả quản trị của RC và CC dựa trên bốn đặc trưng đã được xác định bởi
Xie cùng cộng sự (2003) trong nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hiệu quả của ban
kiểm toán
1
.
Trước tiên, để làm tròn vai trò giám sát của họ, các ban cần phải độc lập với ban

với rủi ro, gợi ý rằng giám sát nghiêm ngặt hơn làm giảm mức độ chấp nhận rủi ro của
ngân hàng.
Vì vai trò của RC là giám sát mức độ rủi ro công ty chúng tôi kỳ vọng rằng một RC
hiệu quả, được xác định bởi cơ cấu của RC, sẽ tương quan với việc duy trì mức độ rủi ro
tương xứng với mức rủi ro mong muốn của công ty. Nói cách khác, chúng ta không kỳ
vọng một mối quan hệ cùng chiều giữa cơ cấu RC và rủi ro công ty. Ngược lại, lý thuyết
đại diện suy luận rằng vai trò của CC là thiết kế các thỏa thuận đãi ngộ để có thể khiến
các nhà quản trị không ưa thích rủi ro thực hiện tất các dự án có rủi ro mà đem lại lợi ích
cho cổ đông. Do đó, sẽ có một tương quan cùng chiều giữa các đặc trưng CC và rủi ro
công ty bởi vì nghiên cứu cho thấy rằng các cổ đông thích rủi ro hơn (Jensen và
Meckling, 1976; Pathan, 2009). Tuy nhiên, điều này không nói lên rằng các cổ đông thích
rủi ro quá mức; Các cuộc thảo luận trước đó dẫn đến giả thuyết sau đây:
H1a. Cơ cấu của ban đãi ngộ tương quan cùng chiều với mức độ rủi ro của các công
ty tài chính.
H1b. Cơ cấu của ban rủi ro tương quan ngược chiều với mức độ rủi ro của các công
ty tài chính

2.2. Thành viên kiêm nhiệm của ban thành viên HĐQT trong RC và CC
Trong khi Bradbury (1990: 22) cho rằng ban kiểm toán làm giảm sự bất cân xứng
thông tin giữa người bên trong và bên ngoài công ty, thì Reeb và Upadhyay (2010) cho
thấy rằng việc tách các thành viên HĐQT theo các ban chuyên trách có thể tạo ra sự bất
cân xứng thông tin giữa các thành viên HĐQT. Tương tự như các chi phí của việc phân
cấp tổ chức, việc hình thành các tiểu ban HĐQT có thể đem đến cho HĐQT những quyết
13
định tối ưu vì thành viên của ban sẽ tập trung vào vùng trách nhiệm cụ thể của họ, thay vì
tập trung vào các mục tiêu tổng thể của quyết định HĐQT. Do đó, chi phí của các tiểu
ban HĐQT là vấn đề phối hợp và thông tin liên lạc. Nghiên cứu này cho rằng một giải
pháp tiềm năng để giải quyết vấn đề này là đảm bảo sự tham gia hỗ trợ lẫn nhau của các
thành viên HĐQT ở các ban, sẽ có một số tác động qua lại với nhau. Ví dụ, một trong
những vai trò của ban quản trị rủi ro là xác định mức độ rủi ro thích hợp mà công ty gặp

đầu tư của cổ đông đã đa dạng hóa do sự gia tăng trong phần bù gánh chịu rủi ro hệ
thống. Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy rằng thay vì xem xét quản trị rủi ro ở góc độ ngầm
định, các doanh nghiệp có một một quan điểm toàn diện về quản trị rủi ro sẽ nâng cao
hiệu quả hoạt động công ty (Gordon và cộng sự., 2009)
2
. Do đó, thông tin liên lạc và
phối hợp giữa RC và CC là quan trọng đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính
và điều đó có nghĩa là các thành viên HĐQT là thành viên của nhiều ban có thể sẽ hành
động thận trọng hơn để tránh rủi ro quá mức và các mối đe dọa từ sự thất bại của doanh
nghiệp. Vì vậy, khi thiết lập các chính sách đãi ngộ, ban đãi ngộ phải xem xét xem chính
sách của họ có phù hợp với khả năng chấp nhận rủi ro của công ty hay không. Việc giám
sát thành công đòi hỏi phải có thông tin liên lạc với các thành viên trong nội bộ và giữa
các ban (Raber, 2003). Khi các thành viên HĐQT điều hành có kiến thức cụ thể để phục
vụ ban mà họ làm việc, kỳ vọng rằng các thành viên HĐQT làm việc trong cả hai ban sẽ
cho kết quả giám sát tốt hơn trong điều kiện thiết lập các gói đãi ngộ thích hợp và quản lý
rủi ro quá mức. Giả thuyết thứ hai là:
H2: Các thành viên HĐQT điều hành vừa là thành viên của ban đãi ngộ vừa là thành
viên của ban quản trị rủi ro thì sẽ có tương quan ngược chiều với rủi ro.
2 Quan điểm toàn diện về quản trị rủi ro được gọi là quản trị rủi ro doanh nghiệp
15
2.3. Rủi ro và hiệu suất hoạt động của công ty
Theo mô hình định giá tài sản, một nhà đầu tư thông minh không nên quan tâm đến
các rủi ro có thể đa dạng hóa (rủi ro phi hệ thống hoặc rủi ro công ty), vì chỉ có rủi ro
không đa dạng hóa được (rủi ro hệ thống hay rủi ro thị trường) mới được tưởng thưởng.
Hình 1 minh họa hai điều quan trọng. Đầu tiên, một số rủi ro liên quan đến các tài sản
riêng biệt có thể loại trừ bằng cách tạo ra các danh mục đầu tư. Quá trình phân tán khoản
đầu tư vào các tài sản được gọi là sự đa dạng hóa. Nguyên tắc đa dạng hóa cho chúng ta
biết rằng việc phân tán một khoản đầu tư qua nhiều tài sản sẽ loại trừ một số rủi ro, các
rủi ro đó được gọi là “rủi ro có thể đa dạng hóa”. Có một mức rủi ro tối thiểu không thể
bị loại bỏ đơn thuần bằng việc đa dạng hóa. Rủi ro tối thiểu này được gọi tên là “rủi ro

quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt động của công ty (Tobin Q). Adams và
Mehran(2008) thấy rằng số lượng các ban có mối quan hệ ngược chiều với hệ số Tobin’s
Q, điều này phù hợp với nội dung về chi phí của vấn đề thông tin liên lạc và phối hợp
giữa các tiểu ban của HĐQT.
Gordon và các cộng sự (2009) cho thấy một mối liên hệ cùng chiều giữa rủi ro và
hiệu quả hoạt động thì phụ thuộc vào sự kết hợp giữa quản trị rủi ro và các đặc trưng
doanh nghiệp (gồm 5 yếu tố: (1) environmental uncertainty, (2) industry competition, (3)
firm complexity, (4) firm size, and (5) board of directors’ monitoring). Dựa theo những
suy nghĩ này,chúng tôi không kì vọng dấu giữa đặc trưng của CC hoặc RC và hiệu quả
hoạt động công ty. Thay vào đó, chúng tôi thừa nhận rằng trong những tình huống sự
không chắc chắn cao, chẳng hạn như mức độ rủi ro cao, các công ty cần các ban có năng
lực quản lý và giám sát rủi ro. Rủi ro công ty đề cập đến sự biến động trong thu nhập và
được xác định như là một nguồn gốc của mâu thuẫn công ty (Bathala và Rao,1995). Rủi
ro công ty, như một thước đo của môi trường thông tin công ty và các rủi ro của môi
trường hoạt động kinh doanh, cũng là một nhân tố quan trọng tiềm năng ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động công ty. Trong một nỗ lực để giảm thiểu những rủi ro này, công ty sử
dụng RC và CC nhằm thay đổi rủi ro và nỗ lực định hướng của công ty. Các doanh
nghiệp tìm cách giải quyết vấn đề này bằng cách tổ chức cấu trúc HĐQT (và các ban) để
đảm bảo giám sát đầy đủ hành vi quản lý và hạn chế việc chấp nhận rủi ro quá mức.
Hiệu quả của RC và CC trong việc giám sát và xác định mức độ chấp nhận rủi ro
quá mức phụ thuộc vào cơ cấu và quy mô của các RC và CC đó, theo đó, dẫn đến hiệu
suất hoạt động công ty tốt hơn. Ban đãi ngộ và ban quản trị rủi ro có các đặc trưng quản
trị được đề xuất, sẽ thiết kế các thỏa thuận đãi ngộ tốt hơn và giám sát rủi ro tốt hơn để có
thể thúc đẩy các nhà quản lý đưa ra quyết định tốt hơn, đem lại hiệu quả công ty tốt hơn.
Thành viên các ban cũng được thúc đẩy làm việc tốt hơn vì giá trị của họ trong thị trường
nguồn nhân lực phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả hoạt động của công ty họ(Harrison và
Harrell, 1993). Do đó, việc phát hiện công ty đang chấp nhận rủi ro quá mức sẽ thúc đẩy
các hành động làm giảm mức độ rủi ro và đảm bảo duy trì mối quan hệ cùng chiều giữa
rủi ro và hiệu quả hoạt động. Đơn giản, chúng tôi kỳ vọng rằng một mối quan hệ cùng
18

thường niên của công ty ở mục 4. Các biến tài chính được cung cấp bởi Aspect
19
FinAnalysis. Thước đo rủi ro được lấy từ dịch vụ đo lường rủi ro của Trung tâm nghiên
cứu tài chính (Centre for Research in Finance -CRIF) của trường kinh doanh Úc, Đại học
New South Wales.
Liên kết với nghiên cứu trước đây, chúng ta xác định đặc trưng của các doanh
nghiệp mà thành lập một RC hoặc CC (Subramaniam cùng cộng sự, 2009; Yatim, 2010).
Sau đó mẫu được phân chia thành mẫu phụ là mẫu có ban quản trị rủi ro và mẫu có có
ban đãi ngộ. Có 236 quan sát (126 doanh nghiệp) có một ban quản trị rủi ro, 337 (156
doanh nghiệp) có một ban đãi ngộ, và có 185 quan sát (96 doanh nghiệp) có cả hai ban để
kiểm định các giả thuyết.
3.2. Mô hình nghiên cứu
Có hai biến phụ thuộc trong nghiên cứu này: rủi ro (BETA) và kết quả hoạt động
của doanh nghiệp (LNEPS). Phương pháp đo lường rủi ro chính của chúng tôi là beta.
Beta là hệ số gốc được lấy từ một phương trình hồi quy tuyến tính đơn giản của tỷ suất
sinh lợi cổ phiếu của công ty theo tỷ số thị trường, cả hai được đo lường bằng độ lệch so
với tỷ lệ lãi suất phi rủi ro. Beta đo lường rủi ro thị trường và có giá trị trung bình là 1.
Một chứng khoán của beta cao (beta cao hơn 1) là chứng khoán mà tương đối nhạy vảm
với biến động thị trường, và một chứng khoán có beta thấp (beta nhỏ hơn 1) được xem
như tương đối ít nhạy cảm. Thước đo này được điều chỉnh đối với giao dịch thưa thớt.
Một thước đo rủi ro khác, chúng tôi sử dụng rủi ro tổng thể được tính toán như độ lệch
chuẩn của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu hằng ngày cho mỗi năm tài khóa (STD.DVE). Nó
được đo lường bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu công ty và được thể hiện
như một tỷ suất sinh lợi hằng tháng được tính toán từ tỷ suất sinh lợi cổ phiếu (kết hợp
liên tục) đối với cổ phiếu của công ty.
3
Mối quan hệ giữa rủi ro và hiệu hoạt động của doanh nghiệp được nghiên cứu
rộng rải bởi những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, kinh tế học, kế
toán và tài chính. Mô hình định giá tài sản tổng quát chỉ ra rằng các cổ đông được đền bù
3 Được đo lương qua một giai đoạn 4 năm kết thúc tại ngày cân đối kế toán hàng năm của công ty. Tất cả tỷ suất

và đãi ngộ như sau:
21
Bảng 1. Định nghĩa các biến
Biến Đo lường
Biến phụ thuộc
BETA Rủi ro thị trường là hệ số gốc của tỷ suất sinh lợi cổ phiếu của công ty
được điều chỉnh đối với giao dịch thưa thớt
LNEPS
t+1
Hàm log tự nhiên của lợi nhuận ròng sau thuế trước các khoản mục bất
thường và trừ đi lợi tức cổ phiếu bên ngoài và cổ tức cổ phần ưu đãi bị
pha loãng bởi số lượng cổ phần bên ngoài trong năm t+1
Biến độc lập
Đặc trưng ban được rút ra từ số điểm COMFAC đối với tính hiệu quả của CC và RC
COMFAC Phân tích nhân tố chính của năm thành phần.
CC/RC IND Phần trăm các thành viên HĐQT độc lập trong tổng các thành viên
HĐQT trong ban
CC/RC PRO Phần trăm các thành viên HĐQT có trình độ chuyên môn trong tổng
thành viên HĐQT trong ban
CC/RC SENIORIND Phần trăm các thành viên HĐQT có hơn 10 năm kinh nghiệm trong
ngành trong tổng số thành viên HĐQT trong ban
CC/RC SENIORBoD Bằng 1 nếu một ban có thành viên HĐQT có trên 10 năm kinh nghiệm
trong HĐQT, và bằng 0 nếu ngược lại
CC/RC MEET Số lượng cuộc họp được ban tổ chức trong 1 năm
Chúng tôi sử dụng để đại diện cho RC hoặc CC trong phương trình và các biến theo RC và
CC riêng lẻ
COMSIZE Số lượng giám đôc trong RC và CC
DUAL Bằng 1 nếu một thành viên kiêm nhiệm cả hai ban RC và CC, bằng 0
nếu ngược lại
Các điểm tương tác

phát triển một số nhân tố (COMFAC) đo lường đặc trưng RC và CC bằng cách sử dụng
phương pháp nhân tích nhân tố chính (PCA) cho năm trong sáu thước đo đặc trưng riêng
của các ban. Chúng tôi loại trừ quy mô ban (COMSIZE) trong các phân tích nhân tố do
sự mập mờ giữa lý thuyết và thực nghiệm để xem liệu ban lớn hay nhỏ là giám sát tốt
hơn. Ngoài ra, những giá trị nhỏ trong (việc phát hiện ra cấu trúc phân tích nhân tố chỉ ra
rằng quy mô ban nào không phù hợp với các yếu tố giải pháp) phân tích cấu trúc nhân tố
phát hiện ra rằng quy mô ban không phù hợp với factor solution và cần được loại khỏi
phân tích. Sử dụng một nhân tố đại diện vì nó rút trích một phần chung trong năm đặc
trưng của ban. Nhân tố căn bản thể hiện đặc trưng của các ban mô tả hoạt động quản trị
được thiết kế trong tài liệu và chúng tôi kỳ vọng nhân tố này sẽ có mối quan hệ cùng
chiều với rủi ro và hiệu quả hoạt động.
23
Sự độc lập của các ban (CC / RCIND) được đánh giá theo đúng định nghĩa của
ASX CGC (2007: 16) về một thành viên HĐQT độc lập. Thông tin này được tiết lộ, hoặc
trong báo cáo quản trị doanh nghiệp hoặc báo cáo của thành viên HĐQT trong Báo cáo
thường niên của công ty. Thước đo này được xây dựng dựa trên tỷ lệ các thành viên
HĐQT độc lập trong ban (Anderson và Bizjak, 2003; Vafeas, 2003a). Phù hợp với các
nghiên cứu trước (Klein, 2002;. Xie et al, 2003), chúng tôi đo lường hoạt động các ban sử
dụng tần suất các cuộc họp (CC / RCMEET) như là một đại diện proxy.
Ban lãnh đạo đã gọi cho nhiều chuyên gia tài chính trong Ban thành viên HĐQT
hơn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây và sự gia tăng các vụ bê bối kế toán
(Güner et al., 2008). Các giả định cơ bản chỉ ra rằng các thành viên HĐQT với một sự
hiểu biết tốt hơn về nguyên tắc và chuẩn mực tài chính sẽ được trang bị tốt hơn để thực
hiện vai trò giám sát của họ để tránh các nguy cơ rủi ro.Những nghiệp vụ chuyên môn
của các thành viên riêng biệt của ban (CC / RCPRO) được đo bằng cách xác định trình độ
chuyên môn kế toán hoặc tài chính (ví dụ, chứng chỉ hành nghề kế toán (CPA), Kế toán
viên giám định (CA) hoặc Nhà phân tích tài chính độc quyền (CFA)). Đây là biện pháp
phù hợp với những đưa ra của Petra và Dorata (2008) và Sapp (2008), người kiểm tra mối
quan hệ giữa tính chuyên môn của ban và việc chấp hành bồi thường.
Những thành viên HĐQT làm việc lâu năm có khả năng quản lý được rủi ro

Quy mô HĐQT (BSIZE) được đưa vào mô hình như là một biến kiểm soát vì một
HĐQT lớn hơn có nhiều khả năng thành lập các ban (Subramaniam cùng cộng sự, 2009;.
Yatim, 2010) và nghiên cứu trong các lĩnh vực tài chính phát hiện một mối quan hệ
ngược chiều giữa quy mô HĐQT và rủi ro công ty (Pathan, 2009). Thành viên CEO đề
cập đến khi thành viên HĐQT điều hành là một thành viên của CC hay RC (COMCEO).
Trong trường hợp các CEO được tham gia vào CC, họ có thể xác định mức khen hưởng
cho chính họ và có thể họ sẽ thiết kế mức đãi ngộ có lợi cho bản thân, bất kể tác động của
nó đến rủi ro hoặc hiệu quả hoạt động công ty. Tương tự như vậy, sự tham gia của các
CEO trong RC có nghĩa là các CEO đang tích cực tham gia giám sát mức độ rủi ro. Với
những thông tin bên trong nhiều hơn, CEO có thể mang lại cho ban một mức độ chuyên
môn nhất định, làm giảm mức độ rủi ro của công ty. Mặt khác, các thành viên HĐQT
điều hành có nguy cơ hành động một cách cơ hội, thực hiện các hoạt động như xây dựng
25
quyền thế và đa dạng hóa thay đổi quá mức hoặc không liên quan (Baysinger và
Hoskisson, 1990), dẫn đến tăng mức độ rủi ro. Chúng tôi cũng kiểm soát theo năm
(YEAR) và ngành kinh tế (SEGMENT). Phân khúc khác nhau có thể có các quy định
khác nhau và do đó có thể không phải là một nhóm đồng nhất để thử nghiệm các giả
thuyết.
4. Kết quả
4.1. Thống kê mô tả biến:
Bảng 2 trình bày thống kê mô tả cho các biến liên quan đến rủi ro, đặc trưng công
ty, hiệu quả hoạt động của công ty, ban rủi ro và đãi ngộ. Trong 711 quan sát, có 47% thể
hiện sự tồn tại của CC trong báo cáo thường niên của công ty. Có 33% các công ty chỉ có
RC và 26% có cả hai ban. Mặc dù sự tồn tại của ban quản trị rủi ro và đãi ngộ được kỳ
vọng sẽ cải thiện hiệu quả của hệ thống quản trị (ASX, CGC, 2007), nhưng các công ty
tài chính lại thường khộng chọn thành lập những ban như vậy.
Hệ số beta có giá trị trung bình là 1.27, cho thấy một mức độ rủi ro thị trường cao
đối với các doanh nghiệp tài chính trong giai đoạn 2006-2007. Giá trị trung bình của độ
lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi hằng tháng (STD.DEV) cho toàn bộ mẫu gồm 711 quan
sát là 10.60, ngụ ý một biến động lớn trong tỷ suất sinh lợi của các công ty tài chính. Đặc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status