1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG LOAN
NGHIÊN CỨU TIẾP CẬN SINH THÁI NHÂN VĂN
VÀO ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NUÔI TÔM
TẠI VÙNG NUÔI TẬP TRUNG VEN BIỂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS.TS. LÊ TRỌNG CÚC
2. PGS.TS. NGUYỄN CHU HỒI
Hà Nội - Năm 2012
5
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
i
Lời cam đoan
ii
Mục lục
iii
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt
vi
Danh mục các bảng
vii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
ix
2.1. Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung nghiên cứu
34
6 Trang
2.2. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
39
2.2.1. Phương pháp luận nghiên cứu đánh giá phát triển bền vững theo
tiếp cận sinh thái nhân văn
39
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
46
2.2.2.1. Phương pháp nghiên cứu đánh giá nhanh nông thôn
46
2.2.2.2. Phân tích hóa lý
47
2.2.2.3. Phân tích chi phí lợi ích mở rộng
48
2.2.2.4. Phương pháp quản lý bền vững dựa vào hệ sinh thái và
cộng đồng
50
2.2.2.5. Phương pháp chỉ số thịnh vượng WI của Robert Prescott-
Allen
52
2.2.2.6. Phương pháp đánh giá bền vững địa phương theo mô hình
ASI của Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu, 2002.
57
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG
CỦA PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI TÔM TẬP TRUNG TẠI VÙNG
theo các thuộc tính của hệ sinh thái nông nghiệp
96
3.1.2.1. Đánh giá sức sản xuất
96
3.1.2.2. Đánh giá tính ổn định của năng suất và hoạt động nuôi
97
3.1.2.3. Đánh giá tính bền vững của năng suất và hoạt động nuôi
103
3.1.2.4. Đánh giá tính tự trị của hệ thống
104
3.1.2.5. Đánh giá tính công bằng của hệ thống
106
3.1.2.6. Đánh giá tính hợp tác của hệ thống
108
3.1.2.7. Đánh giá tính thích nghi của hệ thống
109
3.1.4. Đánh giá chi phí lợi ích mở rộng của mô hình nuôi quảng canh
cải tiến tại Nghĩa Hưng
116
3.1.4.1. Xác định giá trị của rừng ngập mặn
116
3.1.4.2. Tính chi phí lợi ích mở rộng của ao nuôi tôm
124
3.2. Đánh giá mức độ phát triển bền vững bằng chỉ số thịnh vượng
130
3.2.1. Đánh giá mức độ phát triển bền vững bằng chỉ số thịnh vượng
WI
130
3.2.2. Đánh giá mức độ phát triển bền vững bằng chỉ số ASI
136
ASI
E
Chỉ số bền vững sinh thái
ASI
H
Chỉ số bền vững nhân văn
COC
Quy tắc ứng xử trong nuôi trồng thuỷ sản có trách nhiệm
BS
Thước đo bền vững
9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Miền hiệu quả của chỉ số thịnh vượng/thiếu hụt của Prescott Allen
54
Bảng 3.12. Hiệu suất nuôi tôm sú trong cả nước, tại tỉnh Nam Định và huyện
Nghĩa Hưng năm 2006 theo các mô hình nuôi khác nhau
97
Bảng 3.13. Chỉ tiêu chất lượng trầm tích đáy đầm nuôi tôm trong vùng ven
biển huyện Nghĩa Hưng tháng 7 năm 2008
100
Bảng 3.14. Tích luỹ của hộ nông thôn huyện Nghĩa Hưng tại thời điểm
01/7/2006
105
Bảng 3.15. Kết quả thực hiện chính sách xã hội ở huyện Nghĩa Hưng năm
2006
106
Bảng 3.16. Kết quả điều tra về nhu cầu của người dân để ứng phó với biến
đổi khí hậu tại vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng năm 2008.
110
Bảng 3.17. Kết quả đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội thách thức của
nghề nuôi tôm sú tại vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng
111
10 Trang
Bảng 3.18. Lao động và diện tích đất đang sử dụng bình quân 1 đơn vị theo
loại hình sản xuất và ngành huyện Nghĩa Hưng năm 2006
114
Bảng 3.19. Kết quả tính giá trị kinh tế của rừng ngập mặn huyện Nghĩa Hưng
năm 2006
124
Bảng 3.20. Cơ cấu chi phí lợi ích mở rộng của mô hình nuôi tôm sú xen cua
quảng canh cải tiến ở ven biển huyện Nghĩa Hưng năm 2006
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nhân văn theo Gerald G. Marten, 2001
8
Hình 2.1. Sơ đồ vị trí của vùng nuôi tôm tập trung ven biển huyện Nghĩa
Hưng, tỉnh Nam Định
35
Hình 2.2. Sơ đồ thành phần của các cấp hệ sinh thái nhân văn đồng ruộng
trong hệ sinh thái nhân văn do tác giả xây dựng theo lý thuyết của
Gerald G. Marten, 2001
40
Hình 2.3. Sơ đồ cấu trúc hệ sinh thái nhân văn theo lý thuyết của Gerald G.
Marten, 2001 và những hiệu chỉnh của tác giả (phần gạch chéo,
gạch chân và vùng bao màu xanh bên ngoài)
41
Hình 2.4 Sơ đồ khảm hệ sinh thái các cấp trong vùng nuôi thủy sản vùng ven
bờ biển do tác giả xây dựng.
42
Hình 2.5. Sơ đồ mô tả các đặc trưng của hệ xã hội do tác giả đề xuất trên cơ
sở cụ thể hóa lý thuyết của Gerald G. Marten, 2001
44
Hình 2.6. Mô hình quả trứng hệ thống con người – hệ sinh thái (trái) và các
cấp độ hệ xã hội (phải) theo Robert Prescott-Allen, 2001.
44
Hình 2.7. Sơ đồ cấu trúc cán cân chi phí lợi ích mở rộng của mô hình nuôi
tôm sú do do tác giả xây dựng.
49
Hình 2.8. Sơ đồ cấu tạo chỉ số thịnh vượng của Robert Prescott-Allen (2001).
trồng thủy sản. Nuôi tôm sú đã xuất hiện tự phát tại Nghĩa Hưng từ năm 1982 và
bùng phát mạnh từ đầu những năm 2000. Hàng loạt cơ chế chính sách về đất đai,
nguồn vốn đã được ban hành, hàng loạt chủ trương định hướng, quy hoạch phát
triển và mục tiêu phát triển được thiết lập, hàng loạt quy trình, mô hình nuôi tôm sú
và tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, môi trường đã được ban hành để dẫn đường chỉ
lối hỗ trợ cho nghề nuôi [30, 47, 53,75]. Đất trồng lúa năng suất thấp và vùng bãi
ngập nước ven bờ được cho phép khai thác sử dụng làm đầm nuôi thủy sản. Nhiều
dự án xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng vùng nuôi được thực hiện, với
nguồn vốn đầu tư của cả nhà nước và tư nhân. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm sú mới chỉ
đạt được một số thành tựu khiêm tốn. Nảy sinh câu hỏi làm nhiều nhà khoa học, nhà
quản lý và những người tâm huyết với con tôm sú trăn trở là “Tại sao nghề nuôi tôm
sú chưa đạt được mức phát triển bứt phá xứng đáng với những nỗ lực đã đầu tư?”.
Khác với nhiều vùng trong cả nước, nghề nuôi tôm sú ở Nghĩa Hưng chưa
phải đối mặt với những vấn đề vĩ mô như tranh chấp thương mại, rào cản chất
lượng Nhưng nơi đây lại nảy sinh các vấn đề mang tính địa phương, như tác động
kinh tế, xã hội, môi trường của hoạt động nuôi tôm, “sốc” do mở rộng vùng nuôi
quá nhanh, làm nảy sinh bất cập liên quan đến cung ứng vốn, giống, kỹ thuật công
nghệ, quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh, quy hoạch và phát triển cơ sở hạ
tầng. Chuỗi thị trường từ sản xuất, đến chế biến, tiêu thụ còn lỏng lẻo, yếu kém,
không đủ khả năng định hướng sản xuất, không kiểm soát được tính manh mún,
thiếu ổn định về chất lượng của nghề nuôi, dẫn đến giảm khả năng cạnh tranh. Nuôi
tôm vẫn mang tính tự phát, quy mô nhỏ, chạy theo lợi ích trước mắt và ngắn hạn.
Con người và hệ thống con người - môi trường đang là đối tượng nghiên cứu
của nhiều ngành khoa học khác nhau, trong đó có khoa học môi trường, khoa học
trái đất, sinh học và đặc biệt là sinh thái nhân văn. Không có nhiều tranh luận
13
chính thức về sự khác biệt và ranh giới giữa các ngành khoa học cùng nghiên cứu
đối tượng là con người và môi trường, vì dường như việc tranh luận tìm ra chân lý
của các vấn đề này đang bị đặt xuống hàng thứ yếu. Theo Jean-Clauder Paseson,
đường lựa chọn ưu tiên phát triển, cả theo tiềm lực vốn tài nguyên thiên nhiên, vốn
vật chất nhân tạo và vốn con người. Hiện thế giới chưa chọn được một bộ tiêu chí
chuẩn thống nhất cho đánh giá phát triển bền vững.
Để góp phần làm rõ các khía cạnh lý luận của sinh thái nhân văn và ứng
dụng tiếp cận nghiên cứu này vào phục vụ mục tiêu phát triển bền vững địa phương,
tác giả chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu tiếp cận sinh thái nhân văn vào đánh giá
tính bền vững của việc phát triển nuôi tôm tại vùng nuôi tôm tập trung ven biển
huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định”. Nghiên cứu tập trung vào nội dung chính là
tìm hiểu và phát triển một số nội hàm cụ thể của sinh thái nhân văn và ứng dụng nó
vào nghiên cứu đặc điểm quá trình phát triển nuôi tôm sú tại vùng ven biển Nghĩa
Hưng, đánh giá tính bền vững của việc phát triển nghề nuôi tôm tại vùng này và
nhận diện các rào cản phát triển, đề xuất các giải pháp cho phát triển bền vững.
Lý do lựa chọn địa bàn nghiên cứu tại huyện Nghĩa Hưng xuất phát từ thực
trạng đầu những năm 2000, địa phương đã tập trung toàn lực cho phát triển mạnh
kinh tế biển và nuôi tôm sú. Do vậy, theo tác giả, tại Nghĩa Hưng những vấn đề sinh
thái nhân văn sẽ được bộc lộ rõ ràng hơn, giúp tạo cơ sở cho việc thực hiện nghiên
cứu. Mặt khác, vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng, từ khi chuyển mình sang phát
triển mạnh nuôi nước lợ, vẫn chưa hấp dẫn các nhà khoa học so với các khu vực lân
cận, như vườn quốc gia Xuân Thủy. Do vậy tác giả đã lựa chọn vùng nghiên cứu
này, với hy vọng góp phần nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế biển nói chung
và phát triển bền vững địa phương nói riêng.
Luận án được cấu trúc thành ba chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Địa điểm, thời gian, vật liệu, nội dung, phương pháp luận và phương
pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu đánh giá tính bền vững của phát triển nghề nuôi tôm
tập trung tại vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
15
CHƯƠNG 1
đoạn nó mở rộng và tiếp nhận lượng dân nhập cư đa dạng. Sinh thái nhân văn được
phát triển nhằm phục vụ việc nghiên cứu bản chất mối quan hệ giữa con người với
nhau trong quá trình tự tổ chức và cấu trúc hệ xã hội theo lý thuyết đồng hóa, nghĩa
là mang tính xã hội học. Trong sự phát triển sau đó của sinh thái nhân văn, Robert
E. Park, bận rộn với vai trò là một nhà xã hội học xuất chúng, đã không thể dành
cho ngành khoa học này một sự quan tâm xứng tầm. Trong xã hội học, sinh thái
nhân văn chưa được nhận sự quan tâm đặc biệt của các học giả khác, nhất là khi nó
hiện diện bên cạnh, hoặc thậm chí bị đồng nhất với những ngành khoa học đã có
lịch sử và cơ sở lý thuyết đáng nể, như nhân chủng học, dân tộc học… Theo thời
gian, sinh thái nhân văn ngày càng tách xa khỏi xã hội học, phạm vi nghiên cứu của
nó được mở rộng ra nhiều lĩnh vực khác có liên quan đến con người, như nhân
chủng học, dân tộc học, sinh thái học người, kinh tế hộ và phát triển bền vững [19,
38, 78]. Theo Jean -Clauder Paseson, 1992, “Để xác định được vị trí của mỗi ngành
khoa học về con người so với với các ngành khác, ít nhất việc phân loại ngành phải
đi kèm với thỏa thuận về phân chia nhiệm vụ. Nhưng đây cũng là một mục tiêu khó
đạt, do cơ cấu nghiên cứu không ngừng thay đổi”. Sự phát triển lý thuyết hệ thống
và năng lượng đã thổi luồng gió mới vào khoa học sinh thái nhân văn, giúp nó định
hình rõ nét hơn và thu hút được sự quan tâm hơn của nhiều nhà khoa học.
Từ thập niên 1970, khoa học sinh thái nhân văn bước sang thời kỳ phát triển
mới. Nó đã tập hợp được lực lượng trong nhiều trung tâm nghiên cứu độc lập, như
Viện Sinh thái nhân văn ở California, Trung tâm Sinh thái nhân văn thuộc Đại học
Edinburgh, các trường đại học, các tổ chức xã hội chuyên nghiệp ở châu Âu như
Liên minh quốc tế của Ủy ban Khoa học nhân chủng học và dân tộc học về Sinh
thái nhân văn… Nhiều hội sinh thái nhân văn được thành lập, như Ủy ban Sinh thái
nhân văn khối cộng đồng chung Vương Quốc Anh có trụ sở tại Luân đôn, tổ chức
Sinh thái nhân văn Quốc tế có trụ sở tại Viên. Năm 1979, Hội sinh thái nhân văn
(tên viết tắt là SHE) được thành lập và nhanh chóng đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển của ngành. Gerald L. Young, sáng lập viên đồng thời là chủ tịch thứ tư
của hội, trở thành nhân vật có ảnh hưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào việc phát
17
18
môi trường như là mối tương tác giữa hệ thống con người - xã hội nhân văn với
phần sinh quyển còn lại của riêng sinh vật. Các thành phần của hệ sinh thái gồm có
các yếu tố sinh thái vô sinh, hữu sinh tự nhiên (không có con người) và yếu tố sinh
thái nhân sinh (xem hình 1.1). Hệ xã hội nhận từ hệ sinh thái các dịch vụ sinh thái,
các dòng sản phẩm năng lượng, vật chất, thông tin giúp nuôi dưỡng sự sống, phục
vụ sản xuất, tiêu dùng và tự điều chỉnh thích nghi để phát triển bền vững. Hệ sinh
thái nhận từ hệ xã hội dòng năng lượng, vật chất, thông tin dưới dạng chất thải và
các tác động đặc biệt, từ đó thực hiện quá trình sản xuất, đồng thời là quá trình tái
tạo tài nguyên, làm sạch môi trường. Dịch vụ mà hệ sinh thái cung cấp được hệ xã
hội tiếp nhận một cách có chọn lọc. Khi hệ sinh thái không suy giảm năng suất sinh
học chung, nhưng chuyển sang cung cấp những sản phẩm có giá trị thương mại và
giá trị sử dụng thấp hơn hay vô giá trị cho hệ xã hội, thì có thể xem như chức năng
cung cấp các dịch vụ từ hệ sinh thái cho con người bị suy thoái hay đình trệ. Ví dụ
thay vì cung cấp thóc lại chỉ cung lá lúa, do đó mặc dù năng suất sinh học không
thay đổi, thậm chí còn có thể tăng, nhưng giá trị thương phẩm lại suy giảm, thậm
chí mất hoàn toàn…
Mỗi hệ thống sinh thái, hoặc nhân văn đều được cấu tạo từ các hạ hệ của
mình và đồng thời là một hệ thành phần của thượng hệ liền kề. Theo Alan Beeby,
Anne-Maria Brennan, 2008, lý thuyết sinh thái học hiện đại coi mỗi hệ sinh thái
được cấu tạo từ nhiều hạ hệ sinh thái khác nhau, chia làm ba kiểu cơ bản là: 1- Kiểu
hệ nền, chiếm ưu thế, phân bố hầu khắp không gian hệ thống, 2- Kiểu thể khảm là
các ổ, mảnh sinh cư rời rạc, 3- Kiểu hành lang, là các tuyến chia cắt hệ thống nền,
nối thông các thể khảm cùng loại với nhau. Sự tương đồng về đa dạng sinh học
trong các mảnh sinh cư rời rạc tăng theo sự tăng mức độ liên thông qua các hành
lang. Khi các mảnh này không lưu thông với nhau, sẽ có thể dẫn đến hình thành
những quần thể đặc hữu, như rùa hồ Gươm. Trong một vùng sinh thái nhân tác như
đồng lúa, hình thành nhiều thể khảm hệ sinh thái, như ruộng lúa, ao nuôi cá, đầm
sen, ruộng màu (đậu tương, rau…) … Các hộ nông dân canh tác trên cánh đồng lúa
phải khác nhau.
Các hệ thống nối khớp được với nhau là nhờ quá trình tự tổ chức theo bốn giai
đoạn là: 1- “Khởi phát”, hay “Tái tổ chức hồi phục” sau khi bị sụp đổ từng phần; 2-
“Tăng trưởng”, tức mở rộng, gia tăng tính phức tạp, với ưu thế là các phản hồi
dương và quá trình tự lắp ráp; 3- “Cân bằng”, là trạng thái ổn định phức tạp, với
phản hồi âm chiếm ưu thế, làm tăng độ cứng nhắc và tính dễ tổn thương trước tác
động từ bên ngoài; 4- “Tan rã”, hay “Thay đổi”, sụp đổ từng phần, đẩy hệ ra khỏi
vùng ổn định do nhiễu động bên ngoài gây phản hồi dương. Đây cũng là tiền đề cho
một vòng diễn biến mới, trong đó cách thức “Thay đổi, tan rã” có thể có ảnh hưởng
quan trọng tới quá trình tái tổ chức, lựa chọn kiểu khởi phát ổn định mới [83, 91].
Hệ sinh thái nối khớp với hệ xã hội của mình theo hai cách: tự tổ chức thích nghi
thông qua phản hồi, hoặc bị con người trực tiếp làm thay đổi.
Hệ thống tự tổ chức thông qua các tương tác và phản hồi. Phản hồi là chuỗi
phản ứng liên hoàn từ các bộ phận trong hệ thống, tạo nên sự đáp trả của toàn hệ,
tác động trở lại vào chính yếu tố đã khởi phát chuỗi đó, khiến hệ bắt đầu phát sinh
một chuỗi tác động mới. Phản hồi dương khiến tác động phát sinh được tăng cường,
khuyếch đại, cung cấp khả năng tạo ra những thay đổi lớn trong hệ, như việc xuất
hiện đột ngột các vấn đề môi trường. Ví dụ trong một ao nuôi tôm, khi chất lượng
môi trường nước giảm, nếu tôm yếu thì sẽ có thể bị chết, gây phản hồi dương làm
chất lượng nước xấu hơn, tôm chết nhiều hơn. Phản hồi là âm khi tác động khởi
phát bị tiêu giảm, có thể dẫn đến làm đảo ngược một xu thế diễn biến xấu, giữ cho
21
các thành phần thiết yếu của hệ ổn định tương đối, đủ để vận hành ăn khớp với nhau
và thực hiện được chức năng ban đầu, do đó nó giúp duy trì tính ổn định có thể là
ưu thế trong một số thời đoạn. Ví dụ, nếu hệ sinh thái ao nuôi cân bằng và tôm
khỏe, thì khi chất lượng môi trường giảm, tôm sẽ chống chịu vượt qua được, đồng
thời các yếu tố sinh thái khác sẽ điều chỉnh để môi trường giảm ô nhiễm.
Quá trình tự tổ chức của hệ thống chia thành hai pha. Pha ổn định tương đối,
biến đổi chậm (còn gọi là pha cải cách, điều bình), thường khởi phát bởi tác động
sinh thái, theo những cấp độ, cách tổ chức hệ thống nhất định, đặc biệt là tương tác
phản hồi, cơ sở cho sự tồn tại, phát triển, suy vong của toàn hệ thống.
Lý thuyết hệ thống nhấn mạnh dấu hiệu nhận biết sự phân dị cấp độ hệ, là
các đặc tính nổi trội, tức là những đặc điểm riêng chỉ tồn tại ở một cấp nhất định,
khi cấp hệ đó có đủ các thành phần, giúp nó lắp ráp ăn khớp với nhau và cho phép
nó vận hành như một tổng thể [25, 44, 59]. Hệ càng đa dạng càng có khả năng tự
điều chỉnh cao và ổn định hơn, bởi chúng tạo cơ hội cho sự thay thế theo những
cách khác nhau, mở ra nhiều khả năng hơn cho sự tồn tại trong môi trường nhiều
biến động. Đặc tính trội của hệ thống sẽ không thể “nổi” được khi hệ bị khuyết
thiếu, không ăn khớp với nhau. Đây chính là cơ sở cho việc tiếp cận hệ thống
khuyến cáo nhận biết và nghiên cứu hệ thống chỉ tập trung vào các đặc tính nổi trội,
bỏ qua những đặc tính khác, nghĩa là chấp nhận lý thuyết về sự ngu dốt tối ưu.
Cũng theo Gerald G. Marten, 2001, các cấp hệ xã hội có ba đặc tính nổi trội
chung, gây khó khăn cho việc kiểm soát và điều khiển hệ, đó là: 1- Bóp méo thông
tin trong quá trình truyền tin hay còn gọi là “Tam sao thất bản”; 2- Mù quáng phủ
nhận những chân lý xung đột với niềm tin đang có, hay còn được diễn giải là
“không tin được dù đó là sự thật”, dẫn đến không dám liều “đơn thương độc mã”,
mà hành động theo hiệu ứng đám đông, bầy đàn; 3- Hành xử theo cách tạo ra những
kết quả ngược với kỳ vọng, do ngộ nhận và đơn giản hóa các vấn đề phức tạp, kiểu
“ếch ngồi đáy giếng”, “coi trời bằng vung”. Thiếu hụt thông tin thường là nguyên
nhân quan trọng đẩy nhiều người vào sự ngộ nhận, tin tưởng các loại thông tin tam
sao thất bản hoặc đã bị cố tình bóp méo nhằm động cơ vụ lợi.
23
Ranh giới của hệ được thiết lập theo những cách đặc biệt. Các hệ thống hành
chính được xác lập bằng công cụ luật pháp, có con dấu và duy trì được khuôn khổ,
trạng thái của mình nhờ các văn bản quy phạm pháp quy, các điều khoản quy định
những việc được làm và không được làm. Hệ thống xã hội nhân văn cấp độ khác
biệt với đơn vị hành chính có thể được xác lập dựa trên những khác biệt rõ rệt về
cảnh quan địa hình, là biên giới tự nhiên giới hạn, ngăn cách sự kết nối giữa các yếu
gọi là tri thức bản địa và có xuất phát điểm liên quan đến các lợi ích chung đặc biệt,
được thực hiện nhờ những cơ chế phức tạp: 1- Dựa vào sự hiểu biết sâu sắc hệ sinh
thái, kinh nghiệm lâu đời của cả cộng đồng, hoặc của những người có uy tín nhất
trong cộng đồng và niềm tin vào sự đúng đắn của các tri thức đó, để xác lập cách
khai thác, tác động tới tự nhiên sao cho không gây ảnh hưởng xấu đến chúng, cách
phòng tránh, hạn chế tác động xấu của tai biến thiên nhiên, nhân sinh. 2- Dựa trên
nguyên tắc và niềm tin vào khả năng của cộng đồng trong kiểm soát nghiêm minh,
trừng phạt khắc nghiệt và không bỏ sót. Mức độ khốc liệt của sự trừng phạt có thể
được gia tăng bằng cách thần bí hóa các tai biến thiên nhiên, siêu nhiên hóa các
năng lực tự nhiên, hay uy lực của người có vị trí đặc biệt trong hệ thống. 3- Dựa
trên sự chia sẻ công bằng nguồn lợi thu được, thực hiện trên cơ sở nguyên tắc phổ
thông đầu phiếu có sự tham gia của tất cả mọi người. 4- Dựa trên chủ quyền thực
của hệ xã hội với hệ tự nhiên, bao gồm quyền được hưởng toàn bộ lợi ích thu được,
năng lực xác lập, bảo vệ được các quyền đó và sự tôn trọng, không can thiệp hay
xâm phạm từ bên ngoài bởi các hệ thống xã hội khác [79, 88, 91].
Tri thức bản địa là những kinh nghiệm thực tiễn, mang bản sắc văn hóa
truyền thống của các hệ sinh thái nhân văn đặc biệt, được hình thành và bảo tồn nhờ
quá trình tương tác giữa hai hệ xã hội và sinh thái trong điều kiện bị cách ly cao bởi
các yếu tố không gian hoặc văn hóa đặc biệt. Nó được khởi sinh, cải tiến, sàng lọc
tại chỗ thông qua phép thử sai liên tục trong quá trình lâu dài cùng tương tác, thích
nghi và cùng biến đổi tiến hóa giữa hai hệ thống. Nói theo thuyết tiến hóa của
Darwin, thì tri thức bản địa đã được thử thách qua áp lực chọn lọc của tự nhiên và
có giá trị lớn trong việc ứng xử thân thiện với môi trường. Nó bao gồm những thông
tin quý giá về cấu trúc, động thái của hệ sinh thái nhân văn, có vai trò quan trọng
25
trong sản xuất, phát triển kinh tế, quan hệ xã hội; Ví dụ như hướng dẫn, điều hòa
quan hệ giữa con người với nhau và với thiên nhiên, điều chỉnh hoạt động sản xuất,
sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, bảo vệ khai thác tài nguyên thiên
nhiên, tổ chức quản lý cộng đồng, dự báo dịch bệnh, thời tiết… Theo sự gia tăng
tòng tâm, thì việc người ta phải dựa một phần vào các yếu tố tâm linh để hiện thực
hóa những mục tiêu tốt đẹp cũng không phải là điều đáng bị lên án, miễn là điều đó
không gây hại cho xã hội và môi trường [83, 87, 94, 110]. Yếu tố tâm linh trong đời
sống tính thần của đồng bào các dân tộc ít người không phải lúc nào cũng nhuốm
màu thần bí. Ví dụ như việc bảo tồn nguyên vẹn khu rừng Mường Phăng, nơi có Sở
chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cho đến những
năm cuối thế kỷ XX, giữa một vùng rừng bị khai thác đáng kể, được xem như là
một điều kỳ diệu. Bên cạnh nguyên nhân khách quan là thời đó vùng này chưa bị
tác động mạnh của kinh tế thị trường, thì nguyên nhân sâu sa là do người dân địa
phương đã tự nguyện tự giác thực hiện bảo tồn vì lòng kính trọng Đại tướng và tự
nguyện coi đó là vùng đất linh thiêng bất khả xâm phạm.
Trong thời hiện đại, tri thức bản địa đã thực sự tỏa sáng khi được khám phá
bởi các nhà khoa học đến từ những quốc gia phát triển, nơi con người đang phải
gồng mình gánh chịu tác động của phát triển không bền vững. Điều làm các nhà
khoa học từ thế giới hiện đại phải kinh ngạc là sự hài hòa và hiệu quả của việc quản
lý khai thác tài nguyên bằng tri thức bản địa, ở nơi mà hệ thống xã hội gắn bó lâu
dài với môi trường sống và có được sự hiểu biết sâu sắc về nó. Từ khi phát triển bền
vững được lựa chọn, giá trị của tri thức bản địa ngày càng được đề cao và thể chế tự
quản cộng đồng cũng được xác nhận, vinh danh. Nó là minh chứng cụ thể làm cơ sở
cho lý thuyết phát triển bền vững dựa trên cơ sở tôn trọng tự nhiên, tôn trọng các
nguyên lý sinh thái, phát triển trong phạm vi sức tải của hệ thống tự nhiên. Đó cũng
là lý do phương pháp quản lý dựa vào cộng đồng, trao cho cộng đồng quyền tự
quyết định những vấn đề phát triển của mình, đang ngày càng được thực thi rộng rãi
hơn [14, 39, 43, 66, 78, 83, 88, 102].
Ngày nay, thể chế quản lý cộng đồng đang được khai thác theo những quy
mô và mức độ cải biến khác nhau, tạo ra những thành quả cũng như thất bại ở nhiều
27
mức độ khác nhau. Ngoài nguyên nhân khách quan vì điều kiện hoàn cảnh, nguyên
nhân chủ quan của việc thể chế này kém hữu hiệu là do không hiểu và đảm bảo