bài gảng sinh thái nhân văn chương 2 Ứng dụng Lý thuyết sinh thái nhân văn vào sản xuất nông nghiệp ở Đông nam Châu á và Việt Nam - Pdf 30

SINH THÁI NHÂN VĂN
BÀI 2:
Ứng dụng Lý thuyết sinh thái nhân văn vào sản xuất
nông nghiệp ở Đông nam Châu á và Việt Nam

Đặc điểm của nông nghiệp vùng Châu á


Dân số tăng nhanh chóng.



Phân tán lớn, diện tích đất canh tác/đầu người thấp.
(Diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ ở Việt Nam chỉ khoảng
0,4 ha so với 17,7 ha ở Hà Lan, 39 ha ở Đan Mạch, và 13 ha ở
Áo, hàng chục ha ở Brazil, thậm trí tới 60% diện tích đất nông
nghiệp ở vùng Rondonia và 90% ở vùng Acre ở nước này tập
trung trong tay các chủ đất có hơn 1.000 ha).



Quĩ đất có thể sử dụng để canh tác nông nghiệp đã đạt tới giới
hạn tiềm năng (trừ khi tiếp tục chuyển đổi đất rừng sang đất
sản xuất).

1


Đặc điểm của nông nghiệp vùng Châu á
Những đánh giá vào năm 1975 cho thấy 54 nước đang phát
triển không có đủ đất đủ chất lượng sản xuất với mức đầu tư

Các khu vực khác, đất đang dần trở nên không sử dụng được
vì thiếu nước tưới và bị ô nhiễm bởi chất thải công nghiệp
hoặc do sử dụng quá mức các chất hoá học nông nghiệp.



Ở miền núi, canh tác nương rãy vẫn tiếp tục gây ra phá rừng
và dẫn đến xói mòn đất khi mà vấn đề về lương thực không
thể giải quyết bằng các con đường khác.

Tình trạng về suy giảm đa dạng sinh học trên thế giới
Con số ước lượng về các đã
và chưa biết (bảng)




Mất mát đa dạng sinh
học.
Mất mát đa dạng sinh học
đã đến rất gần chúng ta—
ngay trong sản xuất nông
nghiệp.

Taxa

Các loài đã Các loài chưa
biết (triệu)
biết (triệu)


Algae

0.075

0.40

Vertebrates

0.075

0.08

Mollusks

0.090

0.20

Fungi

0.090

1.50

Arachnids

0.090

0.75





Xuất hiện các hành vi lệch lạc trong một bộ phận người
nông thôn, đặc biệt nhóm người mưu sinh từ các hoạt động
làm thuê ngoài thành phố.

Đặc điểm của nông nghiệp vùng Châu á


Có những xáo trộn trong xã hội nông thôn do tác động
của đô thị hoá và công nghiệp hoá diễn ra nhanh chóng:


Tiếp cận với giáo dục thậm trí giảm sút ở một số khu vực
nông thôn nghèo (Việt Nam).



Sản xuất nông nghiệp thậm trí bị đình trệ (ví dụ vùng
Luzon, Philippines; Thái Bình, Việt Nam; và một số nơi
khác).

4


Ví dụ từ Hải Dương
Từ khi Omic (sản xuất, gia công, kinh doanh các sản
phẩm gia dụng bằng thép không gỉ, nhựa và gỗ) đi vào
hoạt động (năm 2003), hầu hết bà con nông dân thôn



Chính sách phát triển thiếu trọng tâm và sự minh bạch.



Chính sách không hợp lý là một cản trở lớn cho sự phát triển
của vùng nông thôn.
Ví dụ, theo GS. Xuân, chính chính sách về ổn định đất và tự
cung tự cấp lương thực của Việt Nam đã gây ra rất nhiều
thiệt hại cho môi trường mà chúng ta rất khó sửa chữa lại
được.

Phát triển nông nghiệp trước Cách mạng xanh:


Sản lượng lương thực đã tăng lên, tuy nhiên chỉ vừa đủ bắt
kịp với tăng dân số. Lượng protein/đầu người giảm.



Mục tiêu chính trong phát triển nông nghiệp là tăng sản
lượng cây ngũ cốc để đáp ứng với nhu cầu tăng do dân số
tăng.



Tăng sản lượng cây đậu đỗ và chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu
về protein.


phủ trong tiếp nhận và áp dụng các bộ công nghệ trọn
gói này.

7


Nông nghiệp “Cách mạng xanh”


Công nghệ mới đã giúp tăng sản lượng lương thực, tuy nhiên
lợi nhuận thực tế lại không tăng.



Tại Mỹ, hầu hết sự gia tăng sức sản xuất là do sự gia tăng về
năng lượng đầu vào, và có xu thế rõ ràng rằng nông nghiệp Mỹ
đi theo một đường cong với thu nhập giảm.



Tại Châu Phi, sản lượng ngũ cốc/đầu người đạt 70 kg vào
những năm 1980s, thấp hơn con số 180 kg đạt được trong 3
năm vào thập kỷ 1960s.

Nông nghiệp “Cách mạng xanh”







Đặc trưng của nông nghiệp cách mạng xanh, ngày càng
được nhận thấy là không bền vững.



Năng suất lúa giảm là một hiện tượng thông thường ở
nhiều nước.



Sản xuất nông nghiệp trở nên không bền vững về mặt
kinh tế.



Diện tích trồng lúa có thể sẽ giảm ở bất cứ nơi nào mà
thị trường cho các loại hàng hoá khác tồn tại.

9


Những cải thiện sau Cách mạng xanh


Chuyển từ trọng tâm phát triển nông nghiệp sang
phát triển nông thôn toàn diện.




trong phạm vi hệ thống nông nghiệp.
Năng suất năng lượng tinh cao bởi vì năng lượng đầu vào
tương đối thấp.
Việc sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên được tích
trữ theo thời gian.

10


Vai trò của nông nghiệp truyền thống


Sự phân bố công bằng về năng lượng ở các đầu vào và
đầu ra so với dân số.



Duy trì cơ sở tài nguyên thiên nhiên giúp hệ sinh thái
nông nghiệp thực hiện chức năng được bền vững.



Tính đa dạng của hệ thống (đa dạng cấu trúc và thành
phần loài).



Xây dựng trên cơ sở của tiến trình sinh thái tự nhiên
(chứ không phải là chống lại tự nhiên).










Tính đa dạng về loài cây trồng dưới hình thức trồng hỗn hợp
gây khó khăn cho việc cơ khí hoá và chi phí quản lý cao.
Tính đa dạng về loại cây trồng cũng ảnh hưởng đến sự chuyên
hoá đơn cây trồng nhằm mục đích nắm bắt các cơ hội của thị
trường.
Tốn công lao động
Khó khả thi khi các cơ hội việc làm phi nông nghiệp tăng nên.
Có thể không cho lợi nhuận trước mắt.
???
Bởi vậy, nhiều người sản xuất cho rằng những cố gắng nhằm
đạt được một nền nông nghiệp bền vững là trái ngược với
những gì họ đang làm ngoài thực tế (T.K.Hartz 2002)!

12


Lựa chọn cho nông nghiệp tương lai?







13




Tại Mỹ, một số nghiên cứu trong 20 năm qua đã cho thấy
rằng một nông trại hữu cơ được quản lý tốt cũng mang lại
lợi nhuận tương tự như một nông trại thâm canh hoá học
thông thường.



Khi năng lượng trở nên đắt đỏ hơn, các hoạt động nông
nghiệp như thâm canh, IPM, sử dụng nhiều hơn sức người và
động vật, và ít sử dụng máy móc có thể sẽ có nhiều lợi nhuận
hơn.



Một nghiên cứu tại Nhật Bản cũng cho thấy rằng năng
suất lúa canh tác theo kiểu truyền thống bắt chước tự
nhiên cũng cao như khi được canh tác thông qua những
đầu tư hoá học và cơ khí hoá (Kaneko 1994).
Bởi vậy, tiến hành cải thiện các hệ thống nông nghiệp
truyền thống hiện hành có thể là con đường dễ dàng
nhất và ít rủi do nhất để bắt đầu.

14


Tính bền vững

A – Hệ nông nghiệp truyền thống
B – Hệ nông nghiệp cách mạng xanh;
C – Hệ nông nghiệp cách mạng xanh cải tiến;
D – Mục tiêu của nền nông nghiệp tương lai.

Conway 1984

15


Nghiên cứu phát triển nông nghiệp
ở Việt Nam

Thời kỳ hợp tác hoá sản xuất:


Từ 1958 – 1980: hệ thống chính trị mới đã chú trọng
nhiều tới sự tiếp cận từ trên xuống trong phát triển
nông thôn


Người nông dân phải tuân theo các chỉ dẫn của các cán bộ
hợp tác xã.



Trong khi nông dân cần các công nghệ cải tiến và đầu vào
cho nông nghiệp, các quan chức của chính phủ đã không



Chính phủ không đủ khả năng để thu mua tất cả các sản
lượng ký hợp đồng tại thời điểm thu hoạch;



Sự kéo dài việc cung cấp đầu vào cho sản xuất theo
kiểu tập trung  trì trệ và tham nhũng.



Thiếu sự an toàn về quyền sở hữu đất  không đầu tư
để duy trì sức sản xuất của đất trên cơ sở lâu dài.

17


Thời kỳ Khoán 10
Từ 1988 – nay:







Tự do giá cả lúa gạo
Tư nhân hoá sự phân phối đầu vào
Trao quyền sử dụng đất lâu dài cho người dân




Các loài dịch hại đối với cây trồng nông nghiệp tăng lên.



Ô nhiễm đất, nước; a xit hoá đất nông nghiệp; và sự lắng
đọng phù sa ở đất canh tác ở vùng trũng.




Hầu hết công dân Việt nam có nhận thức về môi trường
rất nghèo nàn. Những gì mà một nhà môi trường tránh
không làm thì người dân lại thường làm.

Một số loại sâu/bệnh hại chưa kiếm soát hiệu
quả bằng thuốc hoá học!

19


…chu kỳ suy thoái đất cùng với…

…..sự bần cùng hoá một bộ phân dân cư diễn ra
nhanh hơn bao giờ hết!

Hiện tượng mặn hoá là vấn đề trầm trọng ở các khu vực
có tưới (WDR 1992). Ở Việt Nam, 3/7 triệu ha đất nông


Đất không được sử lý
trước khi gieo trồng vụ
mới bởi vì hệ số sử
dụng đất rất cao đối với
các chân đất có thể
trồng màu. Các mầm
bệnh vì thế không được
loại trừ.



Luân canh với lúa nước thường xuyên với hy vọng làm
“sạch đất.” tuy nhiên sẽ không có kết quả đối với nhiều
nguồn bệnh (bệnh “sưng rễ” có thể tồn tại trong đất 7 – 10
năm)  làm biến đổi mạnh mẽ cấu trúc đất, và sau đó ảnh
hưởng đến cả năng suất lúa và rau)

22




Người dân chưa chú ý thoả đáng đến hạt giống/cây
giống họ sử dụng
[Việc sử dụng hạt giống/cây giống không sạch là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đễn cây trồng bị
nhiễm bệnh ngay từ ngày gieo trồng. Đối với nhiều nông
dân ở Đông Anh, bệnh vi rút hại ớt là một nỗi kinh hoàng.
Tuy nhiên theo các chuyên gia BVTV Trung Quốc và



Người dân dùng thuốc chủ yếu theo kinh nghiệm và dựa
vào hướng dẫn của người bán thuốc (nhiều người thậm trí
chưa qua bất cứ một lớp đào tạo chuyên môn nào).



Người dân thậm trí không đọc hướng dẫn sử dụng thuốc
trước khi sử dụng.



Việc sừ dụng không thuốc không hợp lý không những làm
giảm hiệu quả thuốc – làm tăng chi phí sản xuất, mà còn
làm giảm chất lượng rau, gây ô nhiễm môi trường sống.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status