ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Đình Dũng ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở VIỆT NAM
DỰA TRÊN CHỈ SỐ KHÍ HẬU CỰC ĐOAN CỦA IPCC Chuyên ngành: Khí tƣợng và khí hậu học
Mã số: 60 44 87 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. PHAN VĂN TÂN Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
GS.TS. Phan Văn Tân, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tạo mọi điều
kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô trong Khoa Khí
tượng Thủy văn và Hải dương học đã cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu,
trong quá trình học tập.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Cục Khí tượng Thủy văn và Biến đổi
khí hậu, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và
Môi trường đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bạn bè đồng nghiệp hỗ trợ tôi trong
quá trình tính toán, đóng góp ý kiến thực hiện một số nội dung trong luận văn này.
Cuối cùng, luận văn này không thể thực hiện được nếu thiếu nguồn giúp đỡ
và động viên vô cùng to lớn từ gia đình, bạn bè, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân
thành của mình đến tất cả các quý vị.
Trân trọng cảm ơn! Tác giả
Nguyễn Đình Dũng
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1 Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn cầu 11
Hình 1-2 Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ và diện tích băng 12
Hình 1-3 Diễn biến lượng mưa năm ở các vùng khác nhau trên thế giới 12
Hình 1-4 Dự tính biến đổi nhiệt độ vào cuối thế kỷ 21 so với trung bình thời kỳ 1986-
2005 theo các kịch bản 14
Hình 1-5 Dự tính biến đổi lượng mưa vào cuối thế kỷ 21 so với trung bình thời kỳ
1986-2005 theo các kịch bản 14
Hình 1-6 Minh họa kết quả tính toán các chỉ số cực đoạn khí hậu liên quan đến nhiệt
độ (trái) và lượng mưa (phải) trên quy mô toàn cầu thời kỳ 1951-2003 25
Hình 1-7 Minh họa dự tính biến đổi các chỉ số khí hậu cực đoan liên quan đến nhiệt độ
(trái), Lượng mưa (phải) trong thế kỷ 21 26
Hình 1-8 Minh họa kết quả dự tính biến đổi của các chỉ số cực đoan khí hậu theo các
kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC 26
Hình 2-1 Mô tả quá trình kiểm tra chất lượng số liệu Tx, Tm 32
Hình 2-2 Mô tả quá trình kiểm tra chất lượng số liệu R 32
Hình 2-3 Mô tả hàm phân bố xác suất xác định cực đoan nhiệt độ và lượng mưa 37
Hình 2-4 Minh họa sắp xếp chuối số liệu để xác định các ngưỡng phân vị 38
Hình 2-5 Minh họa phương pháp xác định ngưỡng phân vị trên và dưới 39
Hình 2-6 Minh họa kết quả biểu diễn phân bố theo thời gian 39
Hình 3-1 Xu thế và tốc độ biến đổi chỉ số TNn (
o
C/10năm) 51
Hình 3-2 Xu thế và tốc độ biến đổi chỉ số TXx (
o
C/10năm) 51
Hình 3-3 Xu thế và tốc độ biến đổi số ngày nắng nóng (SU35) 52
Hình 3-4 Xu thế và tốc độ biến đổi số ngày nắng nóng gay gắt (SU37) 52
Hình 3-5 Xu thế và tốc độ biến đổi số đêm có nhiệt độ >25
o
và 2080 – 2099 69
Hình 3-22 Dự tính xu thế biến đổi số ngày mưa rất lớn (%) thời kỳ 2040 - 2059 và
2080 - 2099 70 7
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua ở các
vùng khí hậu của Việt Nam 22
Bảng 2-1 Danh sách trạm 29
Bảng 2-2 Bộ chỉ số cực đoan khí hậu được đề xuất bởi nhóm ETCCDI 35
Bảng 2-3 Bộ chỉ số cực đoan khí hậu liên quan đến nhiệt độ ở Việt Nam 43
Bảng 2-4 Bộ chỉ số cực đoan khí hậu liên quan đến lượng mưa ở Việt Nam 44
Bảng 3-1 Xu thế và tốc độ biến đổi của các chỉ số cực đoan nhiệt độ 45
Bảng 3-2 Xu thế và tốc độ biến đổi của các chỉ số cực đoan mưa 54
Các Báo cáo của Ban liên Chính phủ về Biến đổi khia hậu
KTTVQG
Khí tượng Thủy văn quốc gia
IMHEN
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu
RCP
Kịch bản nồng độ khí nhà kính
WMO
Tổ chức khí tượng thế giới
UNEP
Chương trình môi trường liên hiệp quốc
JCOMM
Ủy ban hỗ trợ kỹ thuật cho hải dương , biển và khí tượng
CLIVAR
Nhóm nghiên cứu dao động khí hậu và khả năng dự báo
WCRP
Chương trình nghiên cứu khí hậu toàn cầu
GCM
Mô hình khí hậu khu vực
CCSP
ETCCDI
Chương trình nghiên cứu biến đổi khí hậu
Xác định, theo dõi và chỉ số hóa
PRECIS
Cung cấp các thông tin khí hậu khu cực cho các nghiên cứu tác
động
đối chiếu phục vụ các mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
10
Kế thừa, áp dụng những thành quả khoa học trong nước và trên thế giới
chúng tôi đề xuất Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu nội dung: “Đánh giá biến đổi
khí hậu ở Việt Nam dựa trên chỉ số khí hậu cực đoan của IPCC” với mục tiêu:
1) Đánh giá được sự biến đổi của các cực đoan khí hậu trên quy mô cả nước
trong quá khứ thông qua các chỉ số liên quan đến nhiệt độ và lượng mưa;
2) Xác định được mức độ biến đổi của các hiện tượng cực đoan khí hậu trong
tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu dự tính bằng mô hình PRECIS.
Để đạt được các mục tiêu nói trên tác giả đã nghiên cứu từ tổng quan để định
hướng rõ hơn chủ đề nghiên cứu, chuẩn bị nguồn số liệu, tính toán và phân tích kết
quả. Với cấu trúc Luận văn trình bày gồm mở đầu, kết luận và các Chương sau:
Chƣơng 1:Tổng quan.
Trong chương này, tác giả trình bày về tình hình biến đổi khí hậu, tổng quan
về vấn đề nghiên cứu khí hậu cực đoan ở trong nước, trên thế giới từ các tài liệu
tham khảo.
Chƣơng 2: Số liệu và phương pháp
Trong chương này đề cập đến (1) các bộ số liệu được sử dụng trong luận văn
(số liệu quan trắc, số liệu dự tính),; (2) phương pháp tính toán các chỉ số khí hậu
cực đoan, phương pháp xử lý số liệu;(3) Đề xuất bộ chỉ số khí hậu cực đoan áp
dụng cho Việt Nam và sử dụng các chỉ số đánh giá biến đổi khí hậu cực đoan trên
cơ sở bộ chỉ số khí hậu cực đoan của IPCC.
Chƣơng 3: Kết quả và Nhận xét
Trên cơ sở tính toán các chỉ số khí hậu cực đoan thời kỳ 1961 - 2010, phân
tích phân bố theo thời gian, không gian và đưa ra một số nhận xét về xu thế biến đổi
các chỉ số khí hậu cực đoan;
Từ kết quả dự tính các yếu tố khí hậu (nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp và
lượng mưa ngày) cho Việt Nam thời kỳ 2040 - 2059 (giữa thế kỷ 21) và thời kỳ
2080 - 2099 (cuối thế kỷ 21) bằng mô hình PRECIS tổ hợp từ 5 phương án ứng với
C, trong đó riêng giai đoạn
1951-2012 đã tăng 0,72
o
C. Ba thập kỷ gần đây thể hiện nhiệt độ thập kỷ sau tăng
mạnh hơn thập kỷ trước. Nhiệt độ không khí trên biê
̉
n, nhiệt độ mặt nước biển tăng
mạnh trong ba thập kỷ gần đây. Cùng với sự tăng nhanh của nhiệt độ, diện tích băng
cũng có xu thế giảm, giảm đáng kể nhất trong những năm gần đây (Hình 1-2) [15].
Hình 1-1 Diễn biến chuẩn sai nhiệt độ trung bình toàn
cầu (Nguồn: IPCC/2007) 12
%
trên thế kỷ
Xu thế giáng thủy năm, từ 1901
đến 2005
13
Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phía Bắc vĩ độ 30
o
thời
kỳ 1901 - 2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệt đới, kể từ giữa những năm 1970 (Hình
1-3). Ở khu vực nhiệt đới, mưa giảm đi ở Nam Á và Tây Phi với trị số xu thế là
7,5% cho cả thời kỳ 1901-2005. Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao , lượng mưa
tăng lên rõ rệt ở miền Trung Bắc Mỹ , Đông Bắc Mỹ , Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á .
Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực , kể cả những nơi lượng mưa có xu thế
giảm đi (IPCC, 2007). Trong 100 năm qua, lươ
̣
ng mưa thể hiện sự thay đổi v ề phân
bố co
́
xu thế tăng /giảm rất ro
̃
rê
̣
t ở nhiều vùng , đặc biệt là 30 năm gần đây (Hình 1-
3). Trong đó, các tháng mùa mưa có lượng mưa tăng; các tháng mùa khô có lượng
mưa giảm đáng kể [14]. Mặc dù trong báo cáo AR4, IPCC đã đưa ra nhận định về
hạn hán có xu thế tăng ở nhiều khu vực trên thế giới cả về tần suất và cường độ.
Tuy nhiên, trong báo cáo AR5, IPCC lại cho rằng chưa thể đưa ra các nhận định
chính xác nhất về hạn trong những năm qua; theo IPCC, hạn hán không có xu thế rõ
ràng do hạn chế về số liệu quan trắc , đa
Hình 1-4 Dự tính biến đổi nhiệt độ vào cuối thế kỷ 21 so với trung bình thời
kỳ 1986-2005 theo các kịch bản
Hình 1-5 Dự tính biến đổi lƣợng mƣa vào cuối thế kỷ 21 so với trung bình thời
kỳ 1986-2005 theo các kịch bản
(Nguồn: AR5, IPCC, 2013)
15
1.2. Nghiên cứu khí hậu cực đoan trên thế giới
Phòng thí nghiệm nghiên cứu Khí hậu khu vực và Môi trường của Vùng Đông Á,
Viện Vật lý Khí quyển thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, Bắc Kinh, Trung
Quốc đã đưa ra một số khái niệm: “số ngày nóng (HDs) khi nhiệt độ tối cao ngày
lớn hơn 35
0
C hoặc ngưỡng phân vị 90% của nhiệt độ tối cao ngày; Đợt nóng (HWs)
là những đợt HDs kéo dài 3 - 5 ngày hoặc dài hơn”. Với chuỗi số liệu nhiệt độ tối
cao ngày của 512 trạm các tác giả xây dựng bản đồ phân bố về số ngày nóng và đợt
nóng ở Trung Quốc và đưa ra một số kết luận: 1). Số ngày nóng và số đợt nóng có
sự gia tăng đáng kể ở hầu hết diện tích khu vực Trung Quốc, đặc biệt là khu vực bờ
biển phía nam và khu vực phía bắc của Trung Quốc (tăng lên khoảng hơn 4 ngày
mỗi thập kỷ đối với HDs và tăng trên 0.4 đợt cho mỗi thập kỷ đối với HWs). 2).
Một số khu vực nhỏ giảm về số lượng ngày nóng và đợt nóng thuộc hạ lưu sông
Hoàng Hà (the Yellow River). 3). Hầu hết khu vực Trung Quốc (trừ một khu vực
nhỏ ở phía Tây bắc), tần số số ngày nóng tăng cao hơn so với trung bình trong thời
kỳ 1960 - 1970, sau đó giảm xuống trong những năm 1980 và tiếp tục tăng trở lại,
đáng chú ý là xu hướng tăng mạnh của HDs trong những năm 1990 - 2007 đối với
tất cả các khu vực. Sự thay đổi của HDs và HWs có mối quan hệ rất chặt chẽ với số
ngày mưa và hoàn lưu khí quyển quy mô nhiều năm và nhiều thập kỉ [21].
Zhai và Pan và cộng sự (2003) nghiên cứu sự biến đổi về tần suất của những
hiện tượng nhiệt độ cực trị ở Trung Quốc dựa trên chuỗi số liệu nhiệt độ không khí
bề mặt hàng ngày của khoảng 200 trạm quan trắc trong thời kỳ 1951-1999. Kết quả
cho thấy số ngày nóng (trên 35
o
C) có xu thế giảm nhẹ, trong khi đó số ngày sương
giá (dưới 0
o
C) lại giảm đáng kể. Tần số của những ngày và đêm ấm tăng lên và tần
số của những ngày và đêm mát giảm đi [26].
Phân tích theo không gian và thời gian Bulygina O. N. và CS (2007) đã sử
2006 và phân tích xu thế, phân bố theo không gian. Với các mức ý nghĩa 90%, 95%,
99% và 99,9%, kết quả nghiên cứu cho thấy: nhiệt độ tối cao có xu thế tăng; Tháng
8 có xu thế tăng nhiệt độ trung bình cao nhất (3,81
0
C/32 năm) với mức ý nghĩa
99,9%; Xu thế giảm nhẹ của nhiệt độ trung bình và nhiệt độ tối thấp trung bình
trong các tháng 11, 12. Kết quả nghiên cứu theo mùa còn cho thấy có xu thế gia
tăng nhiệt độ trong mùa hè (nhiệt độ trung bình tăng 4,01
0
C, nhiệt độ tối thấp và tối
cao tăng 2,59
0
C và 3,58
0
C tương ứng), mùa xuân và mùa thu ở Marmara. Nhiệt độ
trung bình hàng năm tăng 1,86
0
C, trong khi đó nhiệt độ tối cao trung bình tăng
2,21
0
C/32 năm. [24].
1.2.2.Nghiên cứu về lượng mưa
Yếu tố được tập trung nghiên cứu nhiều sau nhiệt độ là lượng mưa.
Manton và CS (2001) đã xem xét xu thế tổng lượng mưa ngày từ năm 1961
đến năm 1998 cho khu vực Đông Nam Á và nam Thái Bình Dương. Kết quả cho
18
thấy số ngày mưa (ngày có lượng mưa từ 2mm trở lên) giảm đáng kể ở khu vực
Đông Nam Á.
Phân tích số liệu tổng lượng mưa ngày ở các nước khu vực Đông Nam Á
đoan khí hậu và xây dựng các kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam.
Từ năm 1998 đến năm 2003, Tổng Cục Khí tượng Thủy văn (nay trực thuộc
Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã hoàn thành thông báo đầu tiên của Việt Nam cho
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu, trong đó tổng kết biến đổi
khí hậu của Việt Nam trong 100 năm gần đây, đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đến các lĩnh vực kinh tế xã hội chủ yếu, xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu ở
Việt Nam, kiến nghị các giải pháp giảm nhẹ biến đổi khí hậu và thích ứng với biến
đổi khí hậu ở Việt Nam,…[3]
Năm 2005, trong công trình “Nghiên cứu các hiện tượng cực đoan phục vụ
phòng chống và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai ở thành phố Hà Nội” tác giả Nguyễn
Văn Thắng đã xác định quy luật phân bố theo không gian và diễn biến theo thời
gian của các hiện tượng khí tượng cực đoan trên khu vực Hà Nội và ứng dụng thông
tin khí tượng cực đoan trong định hướng giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiệt hại
thiên tai đối với một số lĩnh vực kinh tế xã hội chủ yếu [8].
Năm 2006, 2007 trong quá trình thực hiện Thông báo Quốc gia lần 2 cho
UNFCCC, các tác giả trong và ngoài Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thực hiện
kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2000, xây dựng chiến lược thực hiện các dự án
CDM. Đặc biệt, một số tác giả của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Nguyễn Văn
Thắng, Hoàng Đức Cường, Trần Việt Liễn,…) đã xây dựng kịch bản biến đổi khí
hậu mới của Việt Nam, dự kiến mức tăng của nhiệt độ, mức tăng giảm của lượng
mưa, mực nước biển dâng,… ở Việt Nam và trên 7 vùng khí hậu trong từng thập kỷ
của thế kỷ 21[3].
Năm 2009 Bộ tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản biển đổi khí
hậu, nước biển dâng cho Việt Nam. Các kịch bản mô tả sự thay đổi của nhiệt độ,
lượng mưa đến năm 2100 trên 7 vùng khí hậu thuộc phạm vi cả nước. Kịch bản cập
20
nhật năm 2012 chi tiết hơn về biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho từng tỉnh
thành trong cả nước đến năm 2100. Ngoài các yếu tố trung bình, phiên bản cập nhật
năm 2012 đã đề cập đến các yếu tố cực trị: nhiệt độ cao nhất, thấp nhất và lượng
hưởng của biến đổi khí hậu đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và đề
xuất các giải pháp chiến lược phòng tránh, giảm nhẹ và thích nghi, phục vụ phát
triển bền vững kinh tế xã hội ở Việt Nam [9].
Năm 2011, theo kết quả nghiên cứu của Lê Như Quân, Phan Văn Tân, sử
dụng mô hình RegCM3 để mô phỏng và dự tính sự biến đổi của hai chỉ số cực đoan
liên quan đến sự kiện mưa lớn là lượng mưa ngày lớn nhất năm (R1day) và tổng
lượng mưa của những ngày trong năm có lượng mưa vượt quá phân vị 95% của thời
kỳ chuẩn (R95p). Mô hình được chạy với độ phân giải ngang 36km, sử dụng điều
kiện biên là sản phẩm của mô hình toàn cầu CCSM3.0 cho thời kỳ chuẩn (1980-
1999) và nửa đầu thế kỷ 21. Sự biến đổi của các chỉ số Rx1day và R95p được dự
tính cho hai thời kỳ tương lai là 2011 - 2030 và 2031 - 2050. Kết quả nhận được cho
thấy biến đổi Rx1day và R95p trong các thời kỳ tương lai thể hiện sự giảm đi trên
hầu khắp lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2030 và tăng lên ở nhiều nơi
trong giai đoạn 2031 - 2050. Phân bố không gian về sự biến đổi của Rx1day và
R95p trong giai đoạn 2031 - 2050 có sự xen kẽ giữa các vùng tăng và giảm nhưng
xu thế tăng vẫn chiếm ưu thế [6].
Năm 2011, TS. Vũ Thanh Hằng và CS phân tích về xu thế biến đổi của
lượng mưa ngày cực đại ở Việt Nam giai đoạn 1961 - 2007, đã đưa ra một số kết
quả: Mưa cực đại tăng trên hầu hết diện tích Việt Nam (ngoại trừ đồng bằng Bắc
Bộ). Giai đoạn 1961 - 1990 tăng lượng mưa cực đại ở hầu hết các vùng ngoại trừ
Tây Bắc (B1). Tăng mạnh nhất là B4 (Bắc Trung Bộ) và Nam Trung Bộ (N1). Giai
đoạn 1991 - 2000, các vùng khí hậu B1 và B2 (Đông Bắc) lượng mưa ngày cực đại
có xu thế giảm, các vùng khác có xu thế ngược lại. Những năm 2001 - 2007, là thời
kỳ có lượng mưa ngày cực đại tăng mạnh ở tất cả các vùng khí hậu trên cả nước.
[13].
22
Bảng 1-1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lƣợng mƣa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam
0,5
0,6
0
-13
-11
Bắc Trung Bộ
1,3
0,5
0,5
4
-5
-3
Nam Trung Bộ
0,6
0,5
0,3
20
20
20
Tây Nguyên
0,9
0,4
0,6
19
9
11
Nam Bộ
0,8
0,4
0,6
1.4. Chỉ số khí hậu cực đoan của IPCC
IPCC được thành lập năm 1988 bởi Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và
Chương trình Môi trường Liên Hiệp Quốc (UNEP), hai tổ chức thuộc Liên Hiệp
Quốc. Trong 3 hội thảo quốc tế đánh giá về các hiện tượng cực đoan khí tượng của
IPCC đã khẳng định biến đổi khí hậu dẫn đến những thay đổi các cực đoan khí
tượng cả về cường độ, tần suất lẫn không gian và thời gian xảy ra, không loại trừ
các cực đoan mới xuất hiện; và để làm giảm nhẹ các thiệt hại do thiên tai khí tượng
cần có các hiểu biết về các hiện tượng, quy luật hoạt động và dự báo, cảnh báo được
chúng; việc thống kê, nghiên cứu và dự báo là trách nhiệm quốc tế và của mỗi quốc
gia trên toàn thế giới [22].
Biến đổi khí hậu là sự thay đổi khí hậu trên quy mô toàn cầu, việc nghiên
cứu biến đổi khí hậu cần phải có sự thống nhất chung để có thể so sánh đối chiếu,
nhìn nhận rõ hơn sự biến đổi của các yếu tố khí hậu đến mỗi vùng, lãnh thổ. Trên cơ
sở đó các định nghĩa, chỉ tiêu và phương pháp thống kê, nghiên cứu các cực đoan
khí hậu đã được thống nhất trong báo cáo hội thảo lần thứ 3 của IPCC (6/2004).
Trong đó nhấn mạnh: Các hiện tượng cực đoan khí tượng là các hiện tượng khí
tượng có giá trị vượt/hụt một ngưỡng nhất định, ít khi xảy ra và có ảnh hưởng lớn
đến các hoạt động kinh tế - xã hội. Đối với các địa phương, ngành kinh tế, hoạt
động xã hội có các ngưỡng cực đoan khác nhau. Chỉ tiêu xác định các cực đoan khí
tượng dựa trên tập số liệu quan trắc nhiều năm của từng yếu tố khí tượng hay kết
hợp một số yếu tố khí tượng và là chỉ tiêu riêng cho từng địa phương hay khu vực.
24
Theo IPCC (2007), hiện tượng cực đoan được hiểu là những hiện tượng có
tần suất xuất hiện tương đối thấp, cường độ lớn và khắc nghiệt hay có khả năng gây
ra những ảnh hưởng lớn đến con người, môi trường và xã hội. Thông thường,
ngưỡng xác suất dưới 10% được lựa chọn để xác định hiện tượng cực đoan. Như
vậy, theo cách tiếp cận này thì đặc trưng cực đoan ở các khu vực khác nhau là khác
nhau đáng kể. Khi hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra vào một thời gian nào đó
trong năm, chẳng hạn một mùa, khá ổn định, nó có thể được gọi là hiện tượng khí
định các ngưỡng cực đoan và lựa chọn tính toán các chỉ số cực đoan phù hợp với
điều kiện khí hậu [22].
Sử dụng bộ chỉ số IPCC trên thế giới
Trong báo cáo lần thứ 4, AR4, IPCC (2007) đã tính toán một số chỉ số cực
đoan khí hậu liên quan đến nhiệt độ và lượng mưa để đánh giá mức độ biến đổi và
dự tính các hiện tượng cực đoan khí hậu trên quy mô toàn cầu (Hình 1-6, Hình 1-7)
[14].
Hình 1-6 Minh họa kết quả tính toán các chỉ số cực đoạn khí hậu liên quan đến nhiệt độ (trái)
và lƣợng mƣa (phải) trên quy mô toàn cầu thời kỳ 1951-2003
Theo các kịch bản biến đổi khí hậu dự tính (Hình 1-7), các hiện tượng cực
đoan liên quan đến nhiệt độ cao có xu thế tăng và ngược lại giảm đối với các hiện
tượng cực đoan liên quan đến ngưỡng nhiệt độ thấp [14].