SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HÀ NỘI
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẬN LONG BIÊN
TRƯỜNG THCS VIỆT HƯNG
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
Tìm hiểu Lịch sử địa phương
Môn học chính: Lịch sử
Môn học tích hợp: Địa lý, Văn học và Tin học
Thông tin về học sinh:
1. Nguyễn Hằng Nga
Ngày sinh: 6/5/2001 Lớp: 8A1
2. Âu Thùy Linh
Ngày sinh: 21/6/2001 Lớp: 8A1
Địa chỉ: Tổ 4, Kim Quan, Việt Hưng, Long Biên, Hà Nội
Điện Thoại: 043 8272193
Email:
BÀI DỰ THI
Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống
1. Tên tình huống: Tìm hiểu lịch sử địa phương
* Tình huống
Linh và Nga đang ngồi tìm tài liệu chuẩn bị bài Lịch sử bỗng nhiên Nga nghĩ ra
ý tưởng:
- Tại sao bọn mình không học theo phương pháp liên môn nhỉ?
Linh tán thành:
- Đúng là ý kiến hay, học như thế chúng ta có thể học nhiều môn cùng một
lúc mà không thấy nhàm chán và có thể tiếp thu nhiều kiến thức dễ dàng.
- Vậy thì bọn mình học thử bằng môn Lịch sử trước nhé !
- Được, tớ đồng ý. Hãy cùng tìm hiểu về chính nơi mình ở nào !
2. Mục tiêu giải quyết tình huống
- Vận dụng kiến thức liên môn để tìm hiểu về nơi mình sinh sống để qua đó
thêm yêu mến và hiểu biết về địa phương.
Hà Nội nằm ở phía hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, vị trí và địa thế
thuận lợi cho một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá, khoa học và đầu mối
giao thông quan trọng của Việt Nam.
Khí hậu: Khí hậu Hà Nội khá tiêu biểu cho kiểu khí hậu Bắc bộ với đặc
điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông
lạnh, mưa ít.
Địa hình: Hà Nội có hai dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi. Địa
hình đồng bằng chủ yếu thuộc địa phận Hà Nội cũ và một số huyện phía đông
của Hà Tây (cũ), chiếm khoảng 3/4 diện tích tự nhiên, nằm bên hữu ngạn sông
Đà, hai bên sông Hồng và chi lưu các sông. Phần lớn địa hình đồi núi thuộc địa
phận các huyện Sóc Sơn, Ba Vì, Quốc Oai, Mỹ Đức.
Sông ngòi và hồ đầm: Hà Nội nằm cạnh hai con sông lớn ở miền Bắc:
sông Đà và sông Hồng. Ngoài hai con sông lớn, trên địa phận Hà Nội còn có
các sông: sông Đuống, sông Cầu, sông Cà Lồ, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích,
sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Bùi. Hồ đầm ở địa bàn Hà Nội có nhiều.
Những hồ nổi tiếng ở Hà Nội như hồ Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm,
hồ Thiền Quang, hồ Bảy Mẫu, hồ Kim Liên,…
• Với điều kiện vị trí địa lý như vậy ngay từ thời xa xưa khi Lý Công Uẩn
chọn định đô ở Thăng Long - Hà Nội có điều kiện phát triển về kinh tế, văn hóa,
giáo dục và an ninh quốc phòng.
Hồ Tây – Hà Nội
2. Lịch sử hình thành và phát triển Hà Nội
2.1 Quá trình hình thành.
Thời gian Sự kiện ở Hà Nội
Khoảng 2 vạn năm trước Người nguyên thủy sinh sống.
Thời kì băng tan
(Khoảng hơn vạn năm trước)
Cư dân nguyên thủy rời Hà Nội di chuyển
lên vùng núi phía Bắc.
Thời kì biển lùi
Vào giai đoạn thịnh đạt của nhà Lý, kinh đô Thăng Long đã thực sự trở thành
một trung tâm chính trị - kinh tế, văn hoá lớn nhất và tiêu biểu cho cả nước. Dấu
ấn Thăng Long thời Lý còn được lưu lại ở nhiều công trình kiến trúc đặc sắc
như: Chùa Diên Hựu ( chùa Một Cột), tháp Báo Thiên, đền Hai Bà Trưng, đền
Bạch Mã, đền Linh Lang… Thăng Long đã cùng cả nước sáng tạo nên nền văn
minh Đại Việt, lập chiến công phá Tống, bình Chiêm với hai nhân vật tiêu biểu
là Lý Thường Kiệt và Ỷ Lan.
Chùa Một Cột
Rồng thời Lý
Thăng Long thời Trần về quy mô, cấu trúc không khác kinh đô thời Lý là
mấy. Nhà Trần chỉ tận dụng những cơ sở có từ trước rồi tu bổ, sửa sang thêm.
Tuy nhiên khu vực dân cư được mở mang quy hoạch lại chặt chẽ. Thăng Long
đã có 61 phường với sự phát triển nhanh của các làng nghề thủ công và chợ búa
dân gian, thu hút được nhiều lái buôn nước ngoài. Trong vòng 30 năm (1258-
1288) Thăng Long đã bị đế chế Mông Nguyên ba lần xâm chiếm, cả ba lần kinh
thành đã thực hiện thành công kế hoạch “vườn không nhà trống”, góp phần vào
những chiến thắng vang dội của quân dân nhà Trần.
b) Đông Đô - Đông Quan - Đông Kinh thời nhà Hồ - thuộc Minh - Lê sơ
Thời gian Sự kiện ở Hà Nội
Năm 1400 Nhà Hồ lên ngôi, lập kinh đô mới ở Thanh Hóa
(gọi là Tây Đô), Thăng Long được đổi tên thành
Đông Đô.
Năm 1406 Nhà Minh sang xâm lược Đại Việt, thành Đông
Đô thất thủ, bị đổi tên là thành Đông Quan, nơi
đặt bộ máy chính quyền đô hộ quận Giao Chỉ.
Ngày 29/4/1428 Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, nhà Lê khôi phục quốc
hiệu Đại Việt, định đô ở Đông Đô.
Năm 1430 Nhà Lê đổi tên Đông Đô thành Đông Kinh. Bên
trong Cấm thành, nhà Lê đã cho xây dựng và bố
Đức do đó Thăng Long cũng được gọi là Hà Nội. Hà
Nội lúc này không còn là trung tâm chính trị, nhưng
vẫn là trung tâm kinh tế - văn hoá lớn nhất cả nước, có
quan hệ rộng với thị trường trong nước và nước ngoài.
Cuối thế kỉ XIX Nhân dân Hà Nội anh dũng chống trả tấn công các
cuộc tấn công của quân Pháp dưới sự lãnh đạo của
tổng đốc Nguyễn Tri Phương và người kế nhiệm là
Hoàng Diệu.
Năm 1883 Triều đình Huế kí “ Hiệp ước hoà bình” công nhận
quyền thống trị của Pháp trên cả nước. Hà Nội trở
thành đất “bảo hộ” thuộc Bắc Kì, đặt dưới quyền cai
trị của thống sứ người Pháp.
Tháng 7/1888 Tổng thống Pháp ra sắc lệnh lập thành phố Hà Nội,
đứng đầu là một viên đốc lí.
Đầu thế kỉ XX Bộ mặt Hà Nội có nhiều thay đổi. Các cơ sở hạ tầng
được hoàn thành, trước hết là mạng lưới giao thông
đường bộ, đường sắt, cầu cống. Bộ mặt kinh tế của Hà
nội cũng có nhiều thay đổi. Hầu hết các xí nghiệp công
ty lớn của tư sản Pháp đều đặt trụ sở tại Hà Nội. Tầng
lớp tư sản người Việt được hình thành ở Hà Nội, tầng
lớp tiểu tư sản ngày một thêm đông.
e) Hà Nội từ 1919 - 1975
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Pháp bắt đầu khai thác trên quy mô lớn
ở Đông Dương, bộ mặt Hà Nội cũng có nhiều thay đổi, phố xá ngày càng thêm
sầm uất. Về tình hình chính trị, ý thức chính trị của các giai cấp ngày càng
trưởng thành. Tư tưởng Mác - Lê - nin ngày càng được truyền bá sâu rộng,
Hà Nội trở thành đầu mối của các hoạt động yêu nước. Cuối tháng 3 năm 1929,
tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ cộng sản đầu tiên của Việt Nam ra đời.
Ngày 19-8, nhân dân Hà Nội xuống đường biểu tình, cả Hà Nội rực rỡ trong
cờ đỏ sao vàng. Cuộc mít tinh tại Quảng trường Nhà hát thành phố đã nhanh
đậm trong lòng bạn bè quốc tế.
Trong giai đoạn toàn cầu hoá hiện nay, Hà Nội đang nỗ lực hết mình để xây
dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, xứng tầm quốc tế.
Hà Nội – Xưa và nay
II.Dân cư và hoạt động kinh tế của Hà Nội trong quá khứ và hiện tại
1. Dân cư
* Nguồn gốc dân cư sinh sống
Vào thập niên 1940, khi Hà Nội là thủ phủ của Liên bang Đông Dương,
dân số thành phố được thống kê là 132.145 người. Nhưng đến năm 1954, dân số
Hà Nội giảm xuống chỉ còn 53 nghìn dân trên một diện tích 152 km². Có thể
nhận thấy một phần rất lớn trong số những cư dân đang sống ở Hà Nội hiện nay
không sinh ra tại thành phố này. Lịch sử của Hà Nội cũng đã ghi nhận dân cư
của thành phố có những thay đổi, xáo trộn liên tục qua thời gian. Ở những làng
ngoại thành, ven đô cũ, nơi người dân sống chủ yếu nhờ nông nghiệp,
thường không có sự thay đổi lớn. Nhiều gia đình nơi đây vẫn giữ được gia phả
từ những thế kỷ XV, XVI. Nhưng trong nội đô, khu vực của các phường thương
nghiệp và thủ công, dân cư xáo trộn rất nhiều. Do tính chất của công việc, nhiều
thương nhân và thợ thủ công ít khi trụ nhiều đời tại một điểm. Gặp khó khăn
trong kinh doanh, những thời điểm sa sút, họ tìm tới vùng đất khác. Cũng có
những trường hợp, một gia đình có người đỗ đạt được bổ nhiệm làm quan tỉnh
khác và đem theo gia quyến, đôi khi cả họ hàng.
Từ rất lâu, Thăng Long đã trở thành điểm đến của những người dân tứ xứ.
Vào thế kỷ XV, dân các trấn về Thăng Long quá đông khiến vua Lê Thánh Tông
có ý định buộc tất cả phải về nguyên quán. Nhưng khi nhận thấy họ chính là lực
lượng lao động và nguồn thuế quan trọng, triều đình đã cho phép họ ở lại.
Tìm đến kinh đô Thăng Long còn có cả những cư dân ngoại quốc, phần lớn là
người Hoa. Trong hơn một ngàn năm Bắc thuộc, rất nhiều những người Hoa đã
ở lại sinh sống thành phố này. Trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, vẫn có những
người Hoa tới xin phép cư ngụ lại Thăng Long. Theo Dư địa chí của
Nguyễn Trãi, trong số 36 phường họp thành kinh đô Thăng Long có hẳn một
trong nền kinh tế Việt Nam. Năm 2010, Hà Nội được xếp thành phố toàn cầu
loại gamma+.
Sau một thời gian dài của thời kỳ bao cấp, từ đầu thập niên 1990, kinh tế Hà
Nội bắt đầu ghi nhận những bước tiến mạnh mẽ. Tốc độ tăng trưởng GDP bình
quân của thành phố thời kỳ 1991–1995 đạt 12,52%, thời kỳ 1996–2000 là
10,38%. Từ năm 1991 tới 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ
470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 so với trung bình của Việt Nam. Theo số liệu
năm 2010, GDP của Hà Nội chiếm 12,73% của cả quốc gia và khoảng 41% so
với toàn vùng Đồng bằng sông Hồng. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, Hà Nội xếp ở vị trí thứ 36/63 tỉnh
thành. Năm 2012, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Hà Nội xếp thứ 51/63
tỉnh thành.
Giai đoạn phát triển của thập niên 1990 cũng cho thấy Hà Nội đã có những
thay đổi về cơ cấu kinh tế. Từ 1990 tới 2000, trong khi tỷ trọng ngành công
nghiệp tăng mạnh từ 29,1% lên 38% thì nông – lâm nghiệp và thủy sản từ 9%
giảm xuống còn 3,8%. Tỷ trọng ngành dịch vụ cũng giảm trong khoảng thời
gian này từ 61,9% xuống còn 58,2%. Ngành công nghiệp của Hà Nội vẫn tập
trung vào 5 lĩnh vực chính, chiếm tới 75,7% tổng giá trị sản xuất công nghiệp, là
cơ – kim khí, điện – điện tử, dệt – may – giày, chế biến thực phẩm và công
nghiệp vật liệu. Bên cạnh đó, nhiều làng nghề truyền thống như gốm Bát Tràng,
may ở Cổ Nhuế, đồ mỹ nghệ Vân Hà cũng dần phục hồi và phát triển.
Năm 2007, GDP bình quân đầu người của Hà Nội lên tới 31,8 triệu đồng,
trong khi con số của cả Việt Nam là 13,4 triệu. Hà Nội là một trong những địa
phương nhận được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài nhiều nhất, với 1.681,2 triệu
USD và 290 dự án. Thành phố cũng là địa điểm của 1.600 văn phòng đại diện
nước ngoài, 14 khu công nghiệp cùng 1,6 vạn cơ sở sản xuất công nghiệp.
Nhưng đi đôi với sự phát triển kinh tế, những khu công nghiệp này đang khiến
Hà Nội phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trường. Bên cạnh những công ty
nhà nước, các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế Hà Nội. Năm 2003, với gần 300.000 lao động,
một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm.
Đền Ngọc Sơn
Quần thể kiến trúc của đền Ngọc Sơn có vẻ đẹp rất cổ kính, hài hòa với cảnh
sắc thiên nhiên, khu đền được tách riêng nằm trọn một góc của hồ Hoàn Kiếm
mang đậm dấu ấn lịch sử. Tương truyền đền được xây dựng từ thế kỷ XIX,
trong đền thờ thần Văn Xương là ngôi sao chủ việc văn chương khoa cử và
thờ Đức đại Vương Trần Hưng Đạo - vị anh hùng dân tộc.
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long
Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, một trong những điểm đến thú vị,
khu di tích thuộc địa bàn Phường Điện Biên và Phường Quán Thánh của thành
phố Hà Nội. Đây chính là kinh đô của Việt Nam qua ba đời là thời Lý, Trần
và Lê. Bên trong khu hoàng thành có chứa đựng nhiều chứng tích lịch sử
văn hóa vô giá, được thể hiện rất rõ qua những kiến trúc từ thời xa xưa.
Khu di tích hoàng thành Thăng Long
Trải qua bao thăng trầm của thời gian, đến nay công trình Hoàng thành
Thăng Long đồ sộ vẫn sừng sững phơi mình dưới trời thủ đô, thể hiện được
sự giao thoa văn hóa, truyền thống của người Việt Nam qua các thời kì lịch sử
và gắn bó với nhiều sự kiện trọng đại của đất nước, đó là lí do vì sao khu di tích
được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới vào năm 2010.
Chùa Một Cột.
Là di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật quốc gia, được vinh danh là ngôi chùa
có kiến trúc độc đáo nhất theo tổ chức Kỷ lục Châu Á vào năm 2012, chùa Một
Cột cũng là điểm đến không thể bỏ qua khi du khách đã bước chân đến Hà Nội.
Theo ghi chép của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, chùa được xây dựng vào năm
1049 dưới đời vua Lý Thái Tông, trải qua nhiều năm chùa được tu sửa nhiều lần
cùng chứng kiến những thăng trầm của lịch sử của dân tộc.
Chùa có đài liên hoa kết cấu hình vuông, mái lợp ngói thời xưa, bốn mái đắp
hình rồng cong vút uốn lên và điều độc đáo nhất là toàn bộ ngôi chùa được đặt
trên một cột trụ bằng đá, nhìn như một đóa sen đang nở đã tạo nên vẻ đẹp cuốn
Danh lam thắng cảnh
Khu phố cổ Hà Nội
Phố cổ Hà Nội xưa và Phố cổ Hà Nội nay
Thăng Long tứ trấn
Trấn Đông: Đền Bạch Mã Trấn Tây: Đền Voi PhụcTrấn Nam: Đền Kim Liên Trấn Bắc: Đền Quán Thánh
Ô Quan Chưởng
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, một quần thể di tích đệ nhất Hà thành. Và
cũng là một trong những trường đại học đầu tiên trên thế giới.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử,
các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An,
người thầy tiêu biểu về đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam và Quốc
Tử Giám, trường quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm
hoạt động (1076 - 1802) đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước.
Sử sách có chép Văn Miếu được xây dựng vào tháng 10 - 1070, (đời vua Lý
Thánh Tông). Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám, kề sau
Văn Miếu, ban đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các
học trò giỏi trong thiên hạ.
Toàn bộ khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày nay có diện tích 54.331 m2,
bao gồm: Hồ Văn, vườn Giám và nội tự được bao quanh bằng tường gạch vồ.
Bên trong (nội tự) có những lớp tường ngăn ra làm năm khu.
Khu thứ nhất bắt đầu với cổng chính đến cổng Đại Trung. Trên cổng chính
có chữ Văn Miếu Môn. Đây là một kiến trúc cổng tam quan hai tầng, phía ngoài
cổng có đôi rồng đá cách điệu thời Lê, bên trong có đôi rồng đá thời Nguyễn.
Cổng Đại Trung ba gian lợp ngói, hai bên là hai cổng nhỏ Thành Đức và Đạt
Khu thứ năm: Sau khu Đại bái chính là Trường Quốc Tử Giám cũ (nay là
nhà Thái học). Tại đây, những triều đại coi "hiền tài là nguyên khí của quốc gia"
đã tuyển chọn nhiều người tài giỏi, đỗ đạt cao, bổ sung vào các chức thị độc, thị
giảng, hữu tư giảng, tả tư giảng, thiếu phó, thiếu bảo để chǎm lo việc giảng dạy,
giải đáp, vừa giúp vua nâng cao tri thức mọi mặt. Nhiều "người thầy một đời,
muôn đời" như Bùi Quốc Khải, Nguyễn Trù, Chu Vǎn An đã từng vang tiếng
giảng ở Quốc Tử Giám.
Tượng thờ Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, một nhà giáo tài đức,
có nhiều học trò thành đạt
Khu Thái Học
Đầu thế kỷ XIX, khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển
làm đền Khải Thánh. Nǎm 1946-1947 giặc Pháp đã đốt trụi khu này. Năm 2000,
công trình nhà Thái học được hoàn thành để chào mừng kỷ niệm 990 năm
Thăng Long - Hà Nội. Đây là nơi tôn vinh truyền thống văn hóa giáo dục của
dân tộc, đặt tượng tưởng niệm ba vua Lý Thành Tông, Lý Nhân Tông, Lê Thánh
Tông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An là những danh nhân có công lập
Văn Miếu - Quốc Tử Giám, phát triển nền giáo dục Nho học Việt Nam.
Phải nói rằng ấn tượng lớn nhất về Văn Miếu - Quốc Tử Giám chính là loại
vật liệu xây dựng rất “Việt Nam”, đó là gỗ lim, gạch đất nung, ngói mũi hài
mang đậm nét nghệ thuật của các triều Lê, Nguyễn. Kiểu kiến trúc ấy được ẩn
dưới những tán cây cổ thụ hàng trăm năm đã làm cho Văn Miếu - Quốc Tử
Giám trở thành điểm đến hấp dẫn với khách du lịch trong nước và quốc tế.