Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT:
1. Đầu tư xây dựng cơ bản:
1.1. Khái niệm:
Đầu tư phát triển là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động
nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ta những tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…) và tài
sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì
mục tiêu phát triển.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một nội dung cơ bản của đầu tư phát triển, là hoạt
động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố định của doanh nghiệp. Đầu tư XDCB bao gồm các
hoạt động chính như: xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp, đặc
biệt doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, để các hoạt động diễn ra bình thường đều cần
xây dựng nhà xưởng, kho tàng, các công trình kiến trúc, mua và lắp đặt trên nền bệ các
máy móc thiết bị… Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn và chiếm tỷ trọng cao trong
hoạt động đầu tư phát triển của đơn vị.
Đầu tư phát triển đòi hỏi rất lớn nhiều loại nguồn lực. Theo nghĩa hẹp, nguồn
lực sử dụng cho đầu tư XDCB là tiền vốn. Theo nghĩa rộng, nguồn lực đầu tư bào gồm
cả tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc, thiết bị, tài nguyên. Như vậy, khi xem xét dự
án đầu tư hay đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư XDCB cần tính đúng, tính đủ các
nguồn lực tham gia.
Đối tượng của đầu tư XDCB là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực
hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định, mà cụ thể ở đây là nhằm tái tạo TSCĐ của
doanh nghiệp.
Kết quả của đầu tư XDCB là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết
bị…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…). Các kết quả đạt
được của đầu tư góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu
quả của đầu tư XDCB phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế thu được với chi
phí chi ra để đạt kết quả đó.
Mục đích của đầu tư XDCB là nhằm tối thiểu chi phí, tối đa lợi nhuận, nâng cao
khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực.
1.2. Đặc điểm của đầu tư XDCB:
nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế. Trong mỗi thời kỳ khác nhau,
quy mô và tỷ trọng của từng nguồn vốn có thể thay đổi nhưng để chủ động phát triển
kinh tế xã hội của quốc gia theo các định hướng chiến lược và kế hoạch đặt ra, cần
nhất quán quan điểm: xem vốn trong nước giữ vai trò quyết định, vốn nước ngoài là
quan trọng.
II. CÁC THẤT THOÁT TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN Ở VIỆT NAM
1. Thực trạng thất thoát đầu tư trong XDCB của Việt Nam:
Những năm gần đây, cùng với môi trường chính trị ổn định, nền kinh tế nước ta
phát triển khá mạnh (GDP) hàng năm tăng từ 7,5 - 8%. Để đạt được những thành tựu
đó là do quá trình cơ cấu lại nền kinh tế quốc dân, thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế... Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trên mọi lĩnh
vực thì tình trạng thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản đang là vấn đề bức
xúc.
2
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chúng ta ai cũng biết, trong cả chu trình tái sản xuất xã hội, bất kỳ ở khâu nào
cũng đòi hỏi phải rút ngắn thời gian, giảm tiêu hao vật lực, tài lực, tăng năng suất lao
động, tiết kiệm tối đa chi phí, tăng vòng quay đồng vốn bỏ ra để đạt mục tiêu cuối
cùng là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Trong lĩnh vực sản xuất các nhà sản
xuất phải luôn cải tiến quy trình công nghệ rút ngắn chu trình sản xuất, nghiên cứu mẫu
mã, thị hiếu tiêu dùng của khách hàng, hạ giá thành sản phẩm; trong lĩnh vực lưu
thông, các nhà kinh doanh cũng tính toán định mức dự trữ hàng hoá tối ưu nhất, giảm
chi phí cho hàng tồn kho; trong xây dựng cơ bản, các nhà thầu thi công cũng luôn
nghiên cứu các giải pháp công nghệ để rút ngắn thời gian thi công, giảm cho phí mà
vẫn đảm bảo chất lượng công trình; trong hoạt động tiền tệ, ngân hàng, Nhà nước cũng
phải tính toán một lượng tiền mặt đưa vào lưu thông hợp lý nếu thừa sẽ xảy ra tình
trạng lạm phát, nếu thiếu sẽ xảy ra tình trạng thiểu phát, tất cả đều dẫn đến khủng
hoảng nền kinh tế; hoặc trong hoạt động của các cơ quan hành chính, sự nghiệp đều
luôn tìm ra các biện pháp cải tiến công tác, giảm thiểu các khâu, bước công việc, nâng
cao chất lượng hiệu quả công tác của mình... Nói tóm lại, trên mọi lĩnh vực hoạt động
tư bỏ ra để tạo ra một đơn vị % gia tăng GDP) của Việt Nam cao hơn nhiều so với các
nước trong khu vực. Giai đoạn 2001 - 2005, chỉ số này ở Việt Nam là 5, trong khi các
nước khác chỉ là 2,4.
Còn nhớ Giáo sư David Dapice (đại học Harvard) đã từng tính toán, với tốc độ
đầu tư cao như Chính phủ đã báo cáo thì tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam phải đạt mức
9 - 10%. Cũng theo vị giáo sư này, nguyên nhân làm cho hiệu quả đầu tư tài chính
công của Việt Nam thấp như vậy là do việc quản lý chi tiêu ngân sách có vấn đề. "Tỷ
lệ thất thoát, lãng phí vốn đầu tư hàng năm của Việt Nam phải lên tới hàng tỷ USD",
Giáo sư Dapice ước tính.
Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Ngân sách của Quốc hội Đặng Văn Thanh cũng
khẳng định, tình trạng thất thoát, lãng phí vốn diễn ra hầu như trong tất cả các giai
đoạn của quá trình đầu tư.
Nếu chỉ lấy con số thất thoát, lãng phí là 15% với dao động 3% như đề tài đánh
giá tỷ lệ lãng phí, thất thoát do Tổng hội xây dựng Việt Nam báo cáo, thì con số tuyệt
đối đã lên tới hàng chục ngàn tỷ đồng. Song, nhiều ý kiến khác vẫn cho rằng con số
thực tế còn cao hơn nữa.
Chính phủ thừa nhận, hiện tại vì chưa thể kiểm toán, thanh tra đánh giá toàn bộ
các dự án đầu tư xây dựng nên chưa thể khẳng định chính xác con số thất thoát mà dư
luận lâu nay đề cập.
Sau đây là một số kết quả kiểm toán, thanh tra các dự án đầu tư XDCB ở Việt
Nam trong thời kỳ 2001-2005:
- Kết quả kiểm tra năm 2002 của 995 dự án với tổng vốn đầu tư 20.736 tỷ đồng,
đã phát hiện sai phạm về tài chính và sử dụng vốn đầu tư là 1.151 tỷ đồng, bằng
khoảng 5,5% tổng vốn đầu tư các công trình được kiểm tra. Riêng 17 công trình do
Thanh tra Nhà nước thực hiện kiểm tra phát hiện sai phạm tài chính lên tới 13%. Đó là
chưa kể đến các lãng phí lớn do chậm triển khai công trình và nhất là do sai sót trong
chủ trương đầu tư mà hiện chưa có cách đánh giá thống nhất.
Năm 2003, Thanh tra nhà nước đã thanh tra 14 dự án lớn với tổng mức đầu tư
8.193 tỷ đồng, trong đó giá trị vốn thanh tra là 6.450 tỷ đồng. Tổng sai phạm về kinh tế
và lãng phí vốn đầu tư được phát hiện là 1.235 tỷ đồng, chiếm khoảng 19% số vốn
Vấn đề được đặt ra là hiện khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư từ Ngân sách
Nhà nước rất hạn hẹp, chỉ đáp ứng được 40 - 50% nhu cầu. Nguyên nhân có nhiều,
nhưng điều đáng nói là các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố còn buông lỏng quản lý đầu tư
và xây dựng, cơ chế quản lý thiếu chế tài ''kiểm soát và hạn chế việc phê duyệt dự án
đầu tư tràn lan'' .
Theo ước tính hiện có khoảng 18% dự án chậm tiến độ, mà chủ yếu là ở các địa
phương. Có tỉnh như Lạng Sơn có trên 31% dự án phải điều chỉnh, thậm chí như Cà
Mau có trên 69% dự án vi phạm thủ tục đầu tư. Nhiều Bộ, ngành, địa phương còn tư
tưởng ''nể nang'', dễ dàng với các chủ đầu tư trong việc vay mượn vốn.
- Giải ngân ODA giảm dần
5