GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TẠI HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 29

LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ đề tài “Giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn tại
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam trong giai đoạn hiện nay” được tác giải nghiên cứu lần
đầu tiên . Kết quả, số liệu trích dẫn và giới thiệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu hoàn toàn độc lập, những kết quả này chưa
từng được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào.

Học viên
Đinh Thị Thu Hà
I
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
GQVL : Giải quyết việc làm
GTVL : Giới thiệu việc làm
LLLĐ : Lực lương lao động
LĐ – TB&XH: Lao động – Thương binh và Xã hội
II
MỤC LỤC
* Số lượng lao động nông thôn được đào tạo trên địa bàn huyện trong thời gian qua 58
* Ngành nghề đào tạo cho lao động nông thôn huyện Kim Bảng 61
III
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Dân số huyện Kim Bảng giai đoạn 2011 – 2013 36
Bảng 2.2: Cơ cấu dân số huyện Kim Bảng theo giới tính 36
Bảng 2.3 : Cơ cấu dân số huyện Kim Bảng theo khu vực 37
Bảng 2.4: Tình hình phân bố và sử dụng đất đai 38
của huyện Kim Bảng giai đoạn 2011 – 2013 38
Bảng 2.5: Cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện Kim Bảng năm 2013 39
Bảng 2.6: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Kim Bảng 42
giai đoạn 2010 – 2013 42
Bảng 2.7: Số lượng ước tính lực lượng lao động 44

giai đoạn 2010– 2013 77
Bảng 2.24: Số việc làm mới được tạo ra qua các năm giai đoạn 2010 – 2013 81
V
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan
trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực
lượng lao động lớn như ở Việt Nam. Giải quyết việc làm hiệu quả là tiền đề
quan trọng để sử dụng tối ưu nguồn nhân lực, góp phần phát triển kinh tế
vững chắc và ổn định xã hội.
Là địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng, Hà Nam nói chung và
huyện Kim Bảng nói riêng có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế. Giải quyết
việc làm nhằm cải thiện đời sống cho người lao động và gia đình họ, là một
trong những mục tiêu được lãnh đạo huyện ưu tiên trong định hướng phát
triển bền vững. Lao động nông thôn huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam hiện đang
chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số và lao động của địa phương. Phần lớn lực
lượng lao động này đang tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh các
ngành nghề ở nông thôn với các công cụ, phương pháp sản xuất còn lạc hậu,
năng suất lao động thấp. Yêu cầu đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn gắn với sản xuất hàng hóa lớn theo hướng công nghiệp
hiện đại ở huyện Kim Bảng đang tỏ ra mâu thuẫn với hiện trạng trong lĩnh
vực lao động - việc làm của huyện: trình độ của lực lượng lao động nông thôn
thấp, số lao động chưa được đào tạo chiếm tỷ lệ cao: năm 2013 có 70.653
người chiếm tỷ lệ 56,06%; lao động làm việc công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ
trọng nhỏ; ý thức kỷ luật của người lao động còn chưa cao. Công nghiệp hóa,
đô thị hóa, bên cạnh những tác động tích cực chung của nó, cũng đang tạo ra
những khó khăn to lớn cho những người nông dân mất đất nông nghiệp, khi đa số
họ lâu đời nay chỉ quen với nghề nông, và cuộc sống ở nông thôn, chưa có sự
chuẩn bị cần thiết cho một cuộc sống "phi nông nghiệp, phi đất đai". Hiện trạng
này đang và sẽ còn là vấn đề nhức nhối liên quan chặt chẽ đến vấn đề giải quyết

(2009) do PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài. Các cộng tác viên của
đề tài đã phân tích làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lượng lao động với
giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Các tác giả cho rằng: việc nâng cao chất lượng nguồn lao động không chỉ
nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển, mà còn góp phần giải quyết việc làm,
giảm thất nghiệp. Từ đó, các nhà nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng đội ngũ lao động và giải quyết việc làm ở nước ta.
Cũng đã có rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu viết về thực trạng lao
động, vấn đề giải quyết việc làm ở nước ta như:
+ Nguyễn Sinh Cúc (2008), "Giải quyết việc làm ở nông thôn và những
vấn đề đặt ra;Tạp chí Con số và Sự kiện, số 8. Tác gỉa đưa ra những vấn đề
đã được những thành quả của việc sử dụng chính sách phát triển các làng
nghề truyền thống trong hệ thống các chính sách giải quyết việc làm của lao
động nông thôn năm 2008, và những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới.
+ Nguyễn Hữu Dũng (2011), “Giải quyết vấn đề lao động và việc làm
trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn”, Tạp chí
Lao động và Xã hội, số 247. Tác giả đã đưa ra được những phương hướng
giải quyết thực trạng di cư tăng nhanh của người dân do chuyển đổi đất nông
nghiệp dẫn đến mất việc làm, thất nghiệp tăng.
+ Bùi Văn Quán (2007), “Thực trạng lao động, việc làm ở nông thôn và một
số giải pháp cho đến năm 2010 ”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số chuyên đề 3.
Ngoài ra, cũng có một số đề tài luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ viết về
vấn đề việc làm ở một số tỉnh: Hưng Yên, Thái Bình, Thanh Hoá, Kiên
Giang với những cách tiếp cận khác nhau, nhưng chưa có đề tài, công trình
khoa học nào phân tích, đánh giá vấn đề giải quyết việc làm ở nông thôn
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam dưới dạng một luận văn khoa học kinh tế. Để
thực hiện đề tài khoa học này, tác giả có lựa chọn và kế thừa một số kết quả
3
nghiên cứu đã công bố, kết hợp khảo sát thực tiễn ở nông thôn huyện Kim
Bảng, tỉnh Hà Nam để phân tích, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với tình

Lao động nông thôn là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo
ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn. Do đó, lao động nông thôn
bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch
vụ nông thôn.
* Đặc điểm cơ bản của lao động khu vực nông thôn
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp có khác so với đặc điểm của các
ngành khác, vì vậy lao động nông thôn cũng có những đặc điểm khác với lao
động của các ngành kinh tế khác, biểu hiện ở các mặt sau
+ Lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động
Theo niên giám thống kế năm 2012, tính đến thời điểm 1/10/2012, cả
nước có 53,1 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động, bao gồm
52,1 triệu người có việc làm. Gần 70% lực lượng lao động thuộc khu vực
nông thôn. Đặc điểm này cho thấy tiềm năng lao động ở nông thôn nước ta rất
to lớn và dồi dào. Hàng năm chúng ta có một lực lượng trên 1 triệu lao động
trẻ bước vào độ tuổi lao động đòi hỏi phải sắp xếp việc làm, trong đó đại đa
số ở nông thôn. Đây là lực lượng lao động trẻ, khỏe có khả năng tiếp thu và
nắm bắt kỹ thuật mới nhanh, sử dụng công nghệ mới, tiếp thu kiến thức kinh
doanh tốt nếu được bồi dưỡng và đào tạo một cách chu đáo. Đồng thời điều
5
này cũng hứa hẹn một thị trường tiêu thụ rộng lớn ở nông thôn. Tuy nhiên số
lao động ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn và tăng nhanh lại gây sức ép rất lớn
đối với việc giải quyết việc làm, làm cho mâu thuẫn giữa khả năng tạo việc
làm còn hạn chế với nhu cầu giải quyết việc làm quá lớn vốn đã căng thẳng
lại càng căng thẳng hơn.
+ Lao động nông thôn mang tính thời vụ
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi chúng là
những cơ thể sống. Trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất
kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng vật nuôi ở những vùng khác
nhau có điều kiện tự nhiên khác nhau chúng cũng có quá trình sinh trưởng và
phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể

tỷ trọng lao động đang làm việc trong khu vực I (nông, lâm, thuỷ sản) giảm từ
57,10% năm 2005 xuống còn 51,5% năm 2010, bình quân giảm gần
0,9%/năm. Tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực II (công nghiệp) tăng từ
16,6% năm 2005 lên 19,2% năm 2010, bình quân tăng 0,43%/năm. Tỷ trọng
lao động làm việc trong khu vực III (dịch vụ) tăng từ 26,3% năm 2005 lên
29,3% năm 2010, bình quân tăng 0,5%/năm.
Trong quá trình CNH, HĐH mạnh mẽ như hiện nay thì sự chuyển dịch
lao động trên càng diễn ra nhanh chóng. Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào
sản xuất đã tạo ra nhiều ngành nghề sản xuất ở các địa phương kéo theo sự
xuất hiện của nhiều loại hình dịch vụ có khả năng thu hút đông đảo lực lượng
lao động. Mặt khác, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất sẽ làm
cho năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên. Như vậy, nông nghiệp
không những thực hiện tốt vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên
vật liệu cho thành thị và công nghiệp mà còn cho phép giải phóng một bộ
phận lao động chuyển dịch sang các nghề khác. Do đó, quá trình giảm tỷ
7
trọng lao động trong nông nghiệp và tăng tỷ trọng lao động ở các ngành công
nghiệp và dịch vụ diễn ra đồng thời. Đây là xu hướng vận động phù hợp với
xu thế chung của thế giới nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải thích ứng
nhanh của lao động nông thôn.
Ngoài ra, lực lượng lao động nông thôn phân bố không đồng đều giữa
các ngành và các vùng. Chủ yếu lực lượng lao động vẫn tập trung nhiều ở khu
vực sản xuất nông nghiệp. Do ảnh hưởng của nền nông nghiệp lúa nước,
trồng trọt là chủ yếu nên phần lớn lực lượng lao động tập trung ở những nơi
có điều kiện tự nhiên thuận lợi. Vùng đồng bằng nơi đất chật người đông
thường thiếu việc làm. Trong khi đó, những vùng có điều kiện tự nhiên kém
thuận lợi hơn như trung du, miền núi đất đai rộng lớn thì dân cư lại thưa thớt,
thiếu lao động.
Khối lượng việc làm của lao động nông thôn còn rất hạn chế. Do bình
quân đất nông nghiệptrên đầu người thấp, vì vậy thu nhập của lao động thấp.

lý luận để đưa ra những giải pháp tích cực giải quyết việc làm, phát huy
nguồn lực lao động của xã hội.
Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, người
lao động Việt Nam được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân
trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp Ngày
nay, quan điểm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học
hơn. Theo Điều 3 Luật Việc làm năm 2013: "Việc làm là hoạt động lao động
tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm".
Từ các căn cứ trên,học viên đưa ra khái niệm “Việc làm là những hoạt
động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội mang lại
thu nhập cho người lao động mà không bị luật pháp ngăn cấm”. Theo đó,
việc làm là các hoạt động 1) Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương
9
hoặc hiện vật cho công việc đó. 2) Làm những công việc tự làm mang lại lợi
ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả những
công việc không được trả công bằng hiện vật.
Một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện i) hoạt
động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên
trong gia đình. ii) người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không
bị pháp luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện trên
có quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được
thừa nhận là việc làm, góp phần mở rộng quan niệm về việc làm, khi đa số lao
động đương thời chỉ muốn chen chân vào trong các doanh nghiệp, cơ quan
nhà nước.
Quan niệm về việc làm như vậy phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội ở
Việt Nam. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, người
lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu, miễn là không vi phạm luật
pháp để mang lại thu nhập và thu nhập cao hơn. Quan niệm trên đã mở ra

mùa vụ nên ở nông thôn sẽ thiếu việc làm trong lúc nông nhàn. Trong khi đó,
quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ dẫn đến một diện tích không nhỏ đất
nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng làm cho người nông dân bị mất
tư liệu sản xuất cùng với trình độ học vấn, tay nghề và khả năng thích ứng
thấp họ sẽ khó khăn khi tìm kiếm việc làm. Như vậy, trong quá trình CNH,
HĐH thì người lao động làm việc thuần nông đứng trước nguy cơ thất nghiệp
cao nhất.
11
Việc làm phi nông nghiệp là lĩnh vực rộng lớn và đang phát triển mạnh
mẽ ở nông thôn. Quá trình hình thành và phát triển của cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước cùng với những tác động từ bên ngoài làm cho các
loại ngành nghề ở nông thôn phát triển phong phú, đa dạng. Ở nông thôn đã
xuất hiện rất nhiều loại công việc ngoài nông nghiệp: Các làng nghề truyền
thống sản xuất đồ gỗ, gốm sứ, thêu ren, thủ công mỹ nghệ; Các ngành chế
biến và dịch vụ sau thu hoạch nông, lâm, thuỷ sản: Chế biến gạo, cà phê, hạt
điều, hoa quả tươi, gỗ, thuỷ sản…; Hoạt động gia công cơ khí, sửa chữa đồ
gia dụng, nông cụ, máy móc nông nghiệp… Nhiều loại hình dịch vụ đời sống
trước đây chỉ có ở thành thị nay đã xuất hiện khá phổ biến ở nông thôn: Dịch
vụ làm đẹp, vui chơi giải trí, vệ sinh nông thôn, cung cấp nước sạch… Nhiều
việc làm trước đây bị xã hội coi rẻ nay đã được thừa nhận: giúp việc gia đình,
chạy chợ… Tất cả đã tạo ra một bức tranh muôn màu, muôn vẻ về thị trường
việc làm cho người lao động ở nông thôn. Tuy nhiên, việc phát triển của việc
làm phi nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn do hạn chế về tay nghề, trình độ
quản lý của người lao động, nguồn vốn hạn hẹp, trang thiết bị kỹ thuật nghèo
nàn, lạc hậu lại khó tiếp cận với công nghệ mới. Người dân có việc làm phi
nông nghiệp vẫn chưa mạnh dạn bứt hẳn khỏi đồng ruộng để tập trung vào
phát triển nghề.
Tuy còn nhiều khó khăn trong phát triển ngành nghề ở nông thôn
nhưng so với việc làm thuần nông thì việc làm phi nông nghiệp đang chiếm
ưu thế và trong xu hướng phát triển mạnh. Nguyên nhân là do việc làm phi

lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập
thấp hơn mức lương tối thiểu.
13
Nguyên nhân thiếu việc làm 1) Do nền kinh tế chậm phát triển, diện
tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và giảm dần do đô thị hoá. 2)
Do lực lượng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chỗ làm việc mới tạo
ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề của người lao động còn
thấp kém. 3) Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa
hợp lý, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được v.v.
Thất nghiệp. Thất nghiệp luôn là mối quan tâm chung của toàn xã hội.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều cố gắng xây dựng chính sách kinh tế vĩ
mô để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, cải thiện việc làm và giảm
tỷ lệ thất nghiệp. Thất nghiệp cũng là mối lo của người lao động vì nó ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của họ.
Thất nghiệp là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tách rời sức lao động
với tư liệu sản xuất. Trong đó, con người có khả năng lao động nhưng chưa
có việc làm nên không có thu nhập. Điều này đặt người lao động và gia đình
họ trước nguy cơ mất nguồn nuôi dưỡng chủ yếu. ILO coi thất nghiệp là tình
trạng một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể
tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành. Cũng có quan điểm cho rằng:
Thất nghiệp là hiện tượng có những người mất thu nhập do không có khả
năng tìm được việc làm khi vẫn còn trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động, muốn làm việc và đã đăng ký ở cơ quan môi giới nhưng chưa được giải
quyết. Có thể coi thất nghiệp là người: Có khả năng lao động, mong muốn tìm
việc làm nhưng chưa có việc làm.
Các đặc trưng của người thất nghiệp 1) Có khả năng lao động. 2) Hiện
đang không có việc làm (tuỳ theo quy định của từng quốc gia về độ dài thời
gian nghỉ việc của lao động đó). 3) Đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Các loại thất nghiệp 1) Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia
thành:i) Thất nghiệp tự nhiên: Là loại thất nghiệp khi có một tỷ lệ nhất định

1.1.2.3. Một số học thuyết kinh tế về việc làm
Quan niệm của Đảng cộng sản Việt Nam về lao động, việc làm, việc
làm ở nông thôn. Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) xác định “Nhà
nước cố gắng tạo thêm việc làm và có chính sách để người lao động tự tìm
việc làm”. Đây là khâu đột phá có tính cách mạng trong lĩnh vực việc làm ở
nước ta: Nhà nước không bao cấp toàn bộ về việc làm mà bước đầu có sự kết
hợp với người lao động, gia đình và xã hội. Đến Đại hội lần thứ VII, lần đầu
tiên Đảng ta đã đưa ra phương hướng cơ bản và toàn diện về giải quyết việc
làm phù hợp với giai đoạn đầu chuyển sang nền kinh tế thị trường “Coi trọng
cả phát triển sản xuất và dịch vụ. Kết hợp giải quyết việc làm tại chỗ với phân
bố lại lao động theo vùng, lãnh thổ, xây dựng các khu kinh tế mới, hình thành
các cụm kinh tế - kỹ thuật, dịch vụ nhỏ ở nông thôn, ở các thị trấn, thị tứ,
đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động, đa dạng hoá việc làm có thu nhập để
thu hút người lao động. Đại hội lần thứ VIII của Đảng (năm 1996) khẳng định
“Nhà nước đầu tư tạo thêm chỗ làm việc và tạo điều kiện cho người lao động
tự mình hoặc giúp đỡ người khác tạo việc làm”. Đại hội lần thứ IX của Đảng
khẳng định:“Giải quyết việc làm là chính sách xã hội cơ bản của mỗi quốc
gia. Bằng nhiều biện pháp hằng năm tạo ra nhiều việc làm mới, tận dụng số
ngày công lao động chưa được sử dụng đến nhất là trên địa bàn nông nghiệp,
nông thôn”. Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh “Ưu tiên dành vốn đầu tư
của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm
tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển
nhanh các loại hình doanh nghiệp để thu hút lao động. Chú trọng đào tạo
nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển
đổi do quá trình CNH, HĐH. Phát triển các loại hình dịch vụ phục vụ đời
sống của người lao động ở những khu công nghiệp. Tiếp tục thực hiện
chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào
16
tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động”.
Đại hội lần thứ XI của Đảng coi “Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và thu

những người có thu nhập thấp, thu nhập bao nhiêu, tiêu dùng bấy nhiêu. Khi
chuyển sang mức thu nhập cao, con người sẽ dành ra một phần cho tiết kiệm.
Số nhân là hệ số phản ánh mỗi một sự gia tăng của đầu tư sẽ khuếch đại thu
nhập lên bao nhiêu lần. Tăng đầu tư sẽ dẫn tới cầu bổ sung công nhân, quỹ
lương, tiêu dùng, giá cả, việc làm, thu nhập, đầu tư đều tăng. Theo Keynes,
nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp là do sự giảm sút của cầu có hiệu quả, thu
hẹp quy mô sản xuất, giảm việc làm và dẫn đến thất nghiệp. Giải pháp đưa ra
là tập trung vào kích cầu: đầu tư và tiêu dùng. Kích cầu sẽ mở rộng quy mô
sản xuất, tăng việc làm, chống thất nghiệp. Ông đề cao vai trò can thiệp của
Nhà nước để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế không thể dựa vào cơ chế
thị trường tự phát. Nhà nước phải có những biện pháp để duy trì cầu đầu tư,
thông qua những hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, các đơn đặt
hàng, hệ thống thu mua của nhà nước. Mục đích để tạo ra sự ổn định về môi
trường kinh doanh, thị trường, lợi nhuận cho các công ty. Hạn chế lớn nhất
của Keynes là xem nhẹ, bỏ qua vai trò của cơ chế thị trường và tự do kinh tế.
Ông quá say sưa với vai trò điều chỉnh can thiệp thậm chí thổi phồng vai trò
của Nhà nước.
P.A.Samuelson lại rất đề cao vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Theo
ông, kinh tế thị trường không có sự điều tiết của Nhà nước thì chẳng khác nào
muốn vỗ tay bằng một bàn tay. Lạm phát và suy thoái là căn bệnh khó tránh
khỏi của một nền kinh tế thiếu vắng sự điều tiết của Nhà nước. Để khắc phục
những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh Nhà nước phải thực hiện chính sách
điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ tài chính, tiền tệ, tín dụng ngân
18
hàng, lãi suất để can thiệp vào nền kinh tế nhằm tạo thêm việc làm và ổn định
nền kinh tế. Ông còn đưa ra lý thuyết về thất nghiệp. Đây là một trong những
vấn đề trung tâm của xã hội hiện đại. Thất nghiệp ở mức cao gây ra lãng phí
tài nguyên, thu nhập của người lao động bị giảm sút. Ông đưa ra khái niệm,
phân loại tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Đặc biệt, ông đưa ra những biện pháp
giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Nhà nước sử dụng đồng bộ các chính sách

chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan
doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động. Hiện nay, các chính sách của
Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao
động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách
hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc. Chính vì vậy, chính
sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm
của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất
như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở
hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất
Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc
làm. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ
thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người
lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù
hợp năng lực và yêu cầu
Trong khái niệm trên, giải quyết việc làm còn có một ý nghĩa là tạo
thêm được công ăn việc làm mới cho người lao động. Ở đây là tạo thêm công
ăn việc làm mới cho người lao động mang tính chất là người lao động đang
không có việc làm nay có việc làm chứ không phải là người lao động đang đi
làm có thêm được việc làm khác nữa. Với khái niệm như vậy, theo cách hiểu
20

Trích đoạn Bảng 2.19: Số lao động làm việc tại các làng nghề huyệnKim Bảng năm 2010-2013 2013 Bảng 2.23: Số lao động đi xuất khẩu lao động ở các thị trường giai đoạn 2010– 2013
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status