Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn ThS. Luật - Pdf 29


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THANH HÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014

HÀ NỘI - 2014 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính
xác và trung thực. Những kết luận khoa học của
luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.

Tác giả luận văn Nguyễn Thanh Hà
MỤC LỤC

1.2.1.
Khái niệm thực hiện pháp luật công chứng
22
1.2.2.
Hình thức thực hiện pháp luật công chứng
25
1.2.3.
Nội dung thực hiện pháp luật công chứng
28
1.2.4.
Vai trò thực hiện pháp luật công chứng
29
1.2.5.
Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật công chứng
31

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CÔNG CHỨNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
36
2.1.
Thực trạng việc thực hiện quy định về công chứng viên
37
2.1.1.
Về tiêu chuẩn công chứng viên
39
2.1.2.
Miễn đào tạo nghề và miễn tập sự hành nghề công chứng
46
2.2.
Thực trạng việc thực hiện quy định về tổ chức hành nghề

3.1.1.
Bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật
82
3.1.2.
Bảo đảm khả thi của văn bản quy phạm pháp luật
82
3.1.3.
Bảo đảm an toàn pháp lý
83
3.1.4.
Thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp
84
3.2.
Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật công chứng trên địa
bàn thành phố Hà Nội
84
3.2.1.
Hoàn thiện pháp luật liên quan đến công chứng viên, tổ chức
hành nghề công chứng, thủ tục công chứng
84
3.2.2.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật công chứng,
nâng cao ý thức pháp luật công chứng
109
3.2.3.
Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước
112
3.2.4.
Tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và
khen thưởng

nguy cơ dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện. Chúng ta không thể phủ nhận công
chứng là -lá chắn- phòng ngừa hữu hiệu, đảm bảo an toàn pháp lý cho các hợp
đồng, giao dịch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho xã hội, giảm thiểu -gánh
nặng- pháp lý cho Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự.
Tuy nhiên qua 07 năm thi hành, Luật Công chứng cũng bộc lộ những
bất cập, hạn chế. Tiêu chuẩn công chứng viên quy định còn đơn giản; thời
gian đào tạo nghề ngắn, cơ sở đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; chưa
quy định về quyền, nghĩa vụ của công chứng viên cũng như người tập sự hành
nghề công chứng, đối tượng miễn đào tạo nghề, miễn tập sự hành nghề công

3
chứng rộng nên chất lượng công chứng viên được bổ nhiệm thấp, có nhiều sai
sót khi công chứng hợp đồng, giao dịch. Tiêu chuẩn thành lập Văn phòng
công chứng chưa chặt chẽ; quy hoạch ban hành chậm và thiếu cơ sở pháp lý;
thiếu sự kiểm tra, thanh tra sau khi cho phép thành lập tổ chức hành nghề
công chứng; chưa có quy định về việc chuyển đổi mô hình Văn phòng công
chứng do một công chứng viên thành lập sang mô hình văn phòng công
chứng do 2 công chứng viên trở lên thành lập và ngược lại; nghĩa vụ của các
tổ chức hành nghề công chứng chưa chặt chẽ, đặc biệt về việc thực hiện lưu
trữ hồ sơ công chứng và mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công
chứng viên, chưa quy định việc chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu công chứng
giữa tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan liên quan. Thủ tục công
chứng chưa cụ thể, chi tiết, chưa thuận tiện, chưa có sự phối hợp, liên thông
với các thủ tục hành chính khác liên quan, khiến người yêu cầu công chứng
phải mất nhiều thời gian, công sức; một số thủ tục công chứng chưa hợp lý,
chưa rõ ràng, thậm chí còn chồng chéo, mâu thuẫn với các quy định của pháp
luật liên quan, gây khó khăn, lúng túng cho công chứng viên khi hành nghề
Tôi chọn đề tài "Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành
phố Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm kiến nghị những giải pháp
bảo đảm thực hiện pháp luật về công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói

luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Quang Minh năm
2009; Xã hội hóa công chứng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp,
Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Mai Trang năm 2011; Bồi thường thiệt
hại do công chứng viên gây ra, Bài viết của tác giả Đỗ Văn Đại đăng trên Tạp
chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14(199), tháng 7 năm 2011; Kiến nghị hoàn thiện
Luật Công chứng, Bài viết của tác giả Lê Quốc Hùng đăng trên Tạp chí Nghiên
cứu Lập pháp, số 1+2 (210+211), tháng 1 năm 2012; Hoàn thiện pháp luật về
quản lý nhà nước đối với văn phòng công chứng, Bài viết của tác giả Phan Hải
Hồ đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 14 (222), tháng 7 năm 2012…

5
Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu những vấn đề
mang tính tổng thể hoặc những khía cạnh, phạm vi cụ thể khác nhau của hoạt
động công chứng. Nhưng đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu
về việc thực hiện pháp luật về công chứng trên các phương diện công chứng
viên, tổ chức hành nghề công chứng và thủ tục công chứng, đặc biệt trong
phạm vi một địa phương cụ thể: Thành phố Hà Nội. Có thể khẳng định, đề tài
Thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội là đề tài đầu
tiên nghiên cứu về khía cạnh này.
3. Mục đích của đề tài
Luận văn tổng hợp những kiến thức lý luận về thực hiện pháp luật về
công chứng; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thi hành Luật Công chứng
trên địa bàn thành phố Hà Nội để đánh giá những mặt được, chưa được của
hoạt động công chứng trên một số phương diện như: công chứng viên, tổ chức
hành nghề công chứng, thủ tục công chứng dưới góc độ lý luận nhà nước và
pháp luật. Từ đó đưa ra một số luận cứ khoa học làm cơ sở cho việc nâng cao
hiệu quả thực hiện pháp luật công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội nói
riêng và trên cả nước nói chung.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu

luật công chứng.

7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG

1.1. PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨNG
1.1.1. Khái quát sự hình thành, phát triển của pháp luật về công
chứng ở nước ta
Hệ thống công chứng ở nước ta được thành lập kể từ khi Hội đồng Bộ
trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2
năm 1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Việc ban hành Nghị
định đã đặt ra cơ sở pháp lý cần thiết cho các hoạt động công chứng là một chức
năng nhà nước rất cần thiết trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Tiếp đó, Chính phủ đã có thêm hai lần ban hành các nghị định về công
chứng đó là: Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số
75/2000/NĐ-CP ngày 8 tháng 12 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Nghị định số
75/2000/NĐ-CP). Các văn bản nêu trên là cơ sở pháp lý quan trọng góp phần
cho việc xây dựng và hoàn thiện tổ chức và hoạt động công chứng, nghề công
chứng ở Việt Nam.
Trên cơ sở tổng kết 15 năm thi hành pháp luật về công chứng, kể từ
khi ban hành Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991 về tổ chức và
hoạt động công chứng Nhà nước, ngày 29/11/2006 Quốc hội khóa XI, kỳ họp
thứ 10 đã thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11, có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/7/2007, đây là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực
pháp lý cao, điều chỉnh một cách toàn diện và đồng bộ lĩnh vực công chứng
nhằm khắc phục những điểm hạn chế bất cập về mặt tổ chức, hoạt động và
quản lý công chứng ở nước ta, cụ thể hóa nội dung về hoàn thiện thể chế về
công chứng ở nước ta trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ

- Thông tư liên tịch số 08/2012/TTLT-BTC-BTP ngày 19/01/2012 của
Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp hướng dẫn về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý

9
và sử dụng phí công chứng (thay thế Thông tư liên tịch số 91/2008/TTLT-
BTC-BTP ngày 17/10/2008).
- Thông tư số 11/2012/TT-BTP ngày 30/10/2012 của Bộ Tư pháp ban
hành Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.
- Quyết định số 01/2008/QĐ-BTP ngày 20/02/2008 của Bộ trưởng Bộ
Tư pháp ban hành một số mẫu giấy tờ dùng trong hoạt động công chứng.
Sau 7 năm triển khai thi hành Luật Công chứng số 82/2006/QH11,
ngày 20/6/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật Công
chứng số 53/2014/QH13, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2015 thay thế cho Luật
Công chứng số 82/2006/QH11 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thể
chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo
chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động
công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với
thông lệ quốc tế.
Ngoài ra, bên cạnh hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
Công chứng, các công chứng viên còn phải áp dụng nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác có liên quan đến công chứng: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng
Dân sự, Luật đất đai, Luật nhà ở, Luật hôn nhân và gia đình, Luật cư trú, Luật
doanh nghiệp, Luật kinh doanh bất động sản
1.1.2. Một số nội dung chính của Luật Công chứng số 82/2006/QH11
1.1.2.1. Khái niệm công chứng
Việc xác định khái niệm công chứng là vấn đề mấu chốt của hoạt động
công chứng. Khái niệm công chứng đã được nêu trong 3 nghị định của Chính
phủ về công chứng: Nghị định số 45/HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1991, Nghị
định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
ngày 8 tháng 12 năm 2000. Việc thể hiện cụ thể khái niệm này có sự khác

toàn pháp lý cho các bên khi tham gia giao kết. Việc đảm bảo tính an toàn
pháp lý được thể hiện ở chỗ: công chứng viên xác nhận tính xác thực, tính

11
hợp pháp của những tình tiết trong nội dung hợp đồng, giao dịch, bảo đảm
cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên ngay từ khi giao kết, kiểm tra
năng lực hành vi, tính tự nguyện, chữ ký của các chủ thể tham gia hợp đồng,
giao dịch, kiểm tra nội dung và mục đích của hợp đồng, giao dịch có vi phạm
điều cấm của pháp luật, có trái đạo đức hay không, đối tượng hợp đồng, giao
dịch là có thật hay giả mạo, hình thức của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với
quy định của pháp luật không. Trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy ra thì
văn bản công chứng là chứng cứ tin cậy nhất để các chủ thể tham gia hợp
đồng, giao dịch tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; đồng thời đây
cũng là chứng cứ để Tòa án, các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
một cách nhanh chóng.
Quy định này được cụ thể hóa tại Điều 6 của Luật Công chứng số
82/2006/QH11, quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng:
1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên
liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo
quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng,
giao dịch có thỏa thuận khác.
2. Văn bản công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết,
sự kiện trong văn bản công chứng không phải chứng minh, trừ
trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu [39].
Đây là vấn đề quan trọng, là lý do tồn tại của công chứng. Giá trị
chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng đã được quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 80 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004: "c) Những
tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực
hợp pháp" [35].

giao dịch về mặt hình thức phù hợp pháp luật mà còn phải giải thích về pháp
luật và tư vấn cho các bên về quyền và nghĩa vụ của họ; bảo đảm các quy

13
định bắt buộc của pháp luật phải được tuân thủ; tư vấn cho các bên về những
sự lựa chọn mà họ có thể trong trường hợp các bên còn chưa thống nhất, hay
nói cách khác làm cho nội dung của hợp đồng, giao dịch phù hợp theo quy
định của pháp luật và đạo đức xã hội. Một vấn đề rất quan trọng là công
chứng viên làm cho các hợp đồng, giao dịch thực tế đúng theo các quy định
của pháp luật. Nó cũng đòi hỏi công chứng viên phải xác định chính xác và
khách quan là những người tham gia giao kết hợp đồng, giao dịch hoàn toàn
tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối.
Đảm bảo các yếu tố trên trong văn bản công chứng chính là việc công
chứng viên đảm bảo an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh
chấp, đạt hiệu quả tích cực về mặt kinh tế - xã hội vì những tình tiết, sự kiện,
sự thỏa thuận của các bên tham gia giao kết là xác thực và hợp pháp, hay có
thể nói công chứng viên đã hoàn thành nhiệm vụ chính trị của một -thẩm phán
phòng ngừa- là phòng ngừa những giao dịch, thỏa thuận không phù hợp với
quy định của Pháp luật, tạo môi trường lành mạnh, trong sạch cho đời sống
kinh tế, thương mại, dân sự của xã hội.
Với mục tiêu xây dựng đội ngũ công chứng viên chuyên nghiệp, đủ về
số lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị, trong sáng về
đạo đức nghề nghiệp, Điều 13 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành
với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo
đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm
làm công chứng viên:
a) Có bằng cử nhân luật;
b) Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại
các cơ quan, tổ chức;

xin bổ nhiệm công chứng viên theo quy định tại khoản 1 và khoản 2, Điều 18
Luật Công chứng số 82/2006/QH11.

15
1.1.2.3. Tổ chức hành nghề công chứng (từ Điều 22 đến Điều 31)
Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định hai hình thức tổ chức
hành nghề công chứng là Phòng công chứng và Văn phòng công chứng:
* Phòng công chứng
Phòng công chứng là hình thức tổ chức hành nghề công chứng do Nhà
nước thành lập. Việc thành lập Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định. Phòng công chứng là tổ chức dịch vụ công, có trụ sở, con dấu
và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính của đơn vị
sự nghiệp có thu. Điều 24 Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy định:
1. Phòng công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định thành lập.
2. Phòng công chứng là đơn vị sự nghiệp thuộc Sở Tư pháp,
có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng.
Người đại diện theo pháp luật của Phòng công chứng là
Trưởng phòng. Trưởng Phòng công chứng phải là công chứng viên
và do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức.
Chính phủ quy định chế độ tài chính, con dấu của Phòng
công chứng.
3. Tên gọi của Phòng công chứng bao gồm số thứ tự thành
lập và tên của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Phòng
công chứng được thành lập [39].
* Văn phòng công chứng
Văn phòng công chứng: là hình thức tổ chức hành nghề công chứng
do một công chứng viên hoặc một số công chứng viên thành lập. Việc thành
lập Văn phòng công chứng phải theo một thủ tục chặt chẽ, cụ thể là phải được

TW ngày 2 tháng 1 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm
của công tác tư pháp trong thời gian tới và được khẳng định lại một cách

17
mạnh mẽ, rõ ràng hơn trong Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp.
* Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng
Điều 32. Nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng
1. Niêm yết lịch làm việc, thủ tục công chứng, phí công
chứng, thù lao công chứng, nội quy tiếp người yêu cầu công chứng
tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
2. Thực hiện chế độ làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơ
quan hành chính nhà nước.
3. Chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế,
tài chính, thống kê.
4. Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền về việc báo cáo, kiểm tra, thanh tra.
5. Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên của tổ
chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng.
6. Lưu trữ hồ sơ công chứng.
7. Văn phòng công chứng có nghĩa vụ mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên của tổ chức mình.
8. Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và các quy
định khác của pháp luật có liên quan [39].
Theo quy định, các tổ chức hành nghề công chứng có một số nghĩa vụ
đáng lưu ý sau:
Về thời gian làm việc (Khoản 2): không chỉ các Phòng công chứng là
các đơn vị do nhà nước thành lập mà các văn phòng công chứng do các công
chứng viên đủ điều kiện thành lập cũng phải áp dụng chế độ làm việc giống
các cơ quan hành chính nhà nước.

chứng (người yêu cầu công chứng và công chứng viên), nội dung yêu cầu
công chứng, chữ ký của công chứng viên và dấu của tổ chức hành nghề công
chứng trong văn bản công chứng.

19
Trình tự, thủ tục công chứng theo Luật Công chứng số 82/2006/QH11
có ý nghĩa bảo đảm sự công bằng, tránh sự áp đặt ý chí chủ quan của công
chứng viên (vì nó đã được pháp luật quy định), và căn cứ vào đó để công
chứng viên xác định được những việc cần phải làm và trình tự thực hiện.
Ngoài việc bảo đảm giá trị pháp lý thì trình tự, thủ tục còn giúp người dân có
điều kiện, có căn cứ để giám sát, kiểm tra hoạt động của công chứng viên có
tuân thủ quy định của pháp luật hay không và người dân cũng được biết và
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.
Thủ tục công chứng được chia thành 2 loại, đối với những hợp đồng,
giao dịch đã được soạn thảo sẵn, Điều 35 Luật Công chứng số 82/2006/QH11
quy định:
Điều 35. Công chứng hợp đồng, giao dịch đã được soạn
thảo sẵn
1. Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ yêu cầu
công chứng, gồm các giấy tờ sau đây:
a) Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
b) Dự thảo hợp đồng, giao dịch;
c) Bản sao giấy tờ tùy thân;
d) Bản sao giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng
hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy định đối với tài sản
mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng,
trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó;
đ) Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao
dịch mà pháp luật quy định phải có.
2. Bản sao quy định tại khoản 1 Điều này là bản chụp, bản

trang của hợp đồng, giao dịch [39].
Đối với những hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo
đề nghị của người yêu cầu công chứng, Điều 36 Luật Công chứng số
82/2006/QH11 quy định:

21
Điều 36. Công chứng hợp đồng, giao dịch do công chứng
viên soạn thảo theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
1. Người yêu cầu công chứng nộp một bộ hồ sơ theo quy
định tại các điểm a, c, d và đ khoản 1 Điều 35 của Luật này và nêu
nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch.
2. Công chứng viên thực hiện các việc quy định tại các
khoản 2, 3 và 4 Điều 35 của Luật này.
Trường hợp nội dung, ý định giao kết hợp đồng, giao dịch là
xác thực, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội thì
công chứng viên soạn thảo hợp đồng, giao dịch.
3. Người yêu cầu công chứng tự đọc dự thảo hợp đồng, giao
dịch hoặc công chứng viên đọc cho người yêu cầu công chứng
nghe. Trường hợp người yêu cầu công chứng đồng ý toàn bộ nội
dung trong dự thảo hợp đồng, giao dịch thì ký vào từng trang của
hợp đồng, giao dịch. Công chứng viên ghi lời chứng; ký vào từng
trang của hợp đồng, giao dịch [39].
Trong hoạt động hành nghề công chứng, việc thực hiện công chứng
các hợp đồng, giao dịch là nhiệm vụ trọng tâm của công chứng viên. Để bảo
đảm văn bản công chứng có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 6 của Luật
Công chứng số 82/2006/QH11, đồng thời quán triệt tinh thần cải cách thủ tục
hành chính trong lĩnh vực tư pháp, Luật Công chứng số 82/2006/QH11 quy
định về quy trình chung đối với việc công chứng hợp đồng, giao dịch theo
hướng cụ thể hóa những việc công chứng viên phải thực hiện khi thực hiện
công chứng, bao gồm các việc sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status