I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT PHM TH TN
THI HàNH PHáP LUậT
Về THU CHI NGÂN SáCH ĐịA PHƯƠNG
TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI
THI HàNH PHáP LUậT
Về THU CHI NGÂN SáCH ĐịA PHƯƠNG
TRÊN ĐịA BàN THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Kinh T
Mó s: 60 38 01 07
LUN VN THC S LUT HC Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. INH DNG S
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT THU
CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG 5
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của ngân sách nhà nƣớc 5
1.1.2. Khái quát về ngân sách địa phƣơng 13
1.2. CẤU TRÚC PHÁP LUẬT VỀ THU CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƢƠNG 20
1.2.1. Phân cấp quản lý ngân sách 23
1.2.2. Phân cấp thu ngân sách địa phƣơng 26
1.2.3. Phân cấp chi ngân sách địa phƣơng 28
Tiểu kết chƣơng 1 31
Chƣơng 2: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ THU CHI
NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 32
2.1. THU CHI NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI,
NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ TÍNH ĐẶC THÙ 32
2.1.1. Khái quát về thủ đô Hà Nội 32
2.1.2. Thực trạng pháp luật về thu chi ngân sách địa phƣơng trên địa
bàn thành phố Hà Nội 40
2.1.3. Thực trạng quy định pháp luật về phân cấp ngân sách 46
2.2. THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT THU NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƢƠNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 52
2.2.1. Thực trạng về lập dự toán thu ngân sách 52
2.2.2. Chấp hành dự toán thu ngân sách địa phƣơng 56
2.2.3. Quyết toán thu ngân sách địa phƣơng 56
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND: Hội đồng nhân dân
NN: Nhà nƣớc
NS: Ngân sách
NSĐP: Ngân sách địa phƣơng
NSNN: Ngân sách nhà nƣớc
NSTW: Ngân sách trung ƣơng
TW: Trung ƣơng
UBND: Ủy ban nhân dân DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
Sơ đồ 1.1:
Cấu trúc của quản lý
16
Sơ đồ 2.1:
Tổ chức bộ máy nhà nƣớc của thành phố Hà Nội
40
2
trên địa bàn Hà Nội đã bộc lộ một số bất cập nhất định, làm ảnh hƣởng tới sự
phát triển của thủ đô.
Trƣớc tình hình đó tác giả chọn đề tài “Thi hành pháp luật về thu chi
ngân sách địa phương trên địa bàn thành phố Hà Nội” nhằm phân tích thực
trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thu chi ngân sách địa phƣơng
trên địa bàn thành phố Hà Nội, chỉ ra một số kết quả, hạn chế và nguyên nhân
từ đó nêu ra các giải pháp khắc phục.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là qua nghiên cứu pháp luật về thu chi ngân sách
địa phƣơng cũng nhƣ thực tiễn áp dụng pháp luật về thu chi ngân sách địa
phƣơng trên địa bàn thành phố Hà Nội từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm
hoàn thiện hơn pháp luật về thu chi ngân sách địa phƣơng.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về các quy định về thu chi ngân sách địa phƣơng
cũng nhƣ công tác quản lý thu chi ngân sách địa phƣơng trên địa bàn thành
phố Hà Nội theo chu trình ngân sách trong công tác quản lý thu và theo lĩnh
vực trong công tác quản lý chi. Quy định về công tác lập dự toán ngân sách,
chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách. Đề tài cũng tìm hiểu quy định
cũng nhƣ thực trạng về công tác phân cấp quản lý ngân sách trên địa bàn
thành phố Hà Nội, phân cấp quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi.
4. Tình hình nghiên cứu
Liên quan tới vấn đề thu chi ngân sách địa phƣơng và ngân sách trên
địa bàn thành phố Hà Nội chƣa có công trình nghiên cứu nào ở phạm vi nƣớc
ngoài, những công trình nghiên cứu trong nƣớc bao gồm:
Điều hoà ngân sách giữa Trung ương và địa phương (tác giả Bùi
Đƣờng Nghiêu, Võ Thành Hƣng, Nguyễn Minh Tân) – sách tham khảo
Việt Dũng; Nghd.: TS. Nguyễn Thị Anh Thu) – Luận văn thạc sĩ kinh
doanh và quản lý.
Các công trình nghiên cứu ở cấp luận văn về thu chi ngân sách đều là
những công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực kinh tế, ở góc độ pháp lý mới chỉ có
4
công trình của thạc sĩ Phạm Công Lƣu nghiên cứu về vấn đề giám sát chi đầu tƣ
công tại địa bàn thành phố Hải Phòng. Ngoài ra có một số sách tham khảo của
tác giả Bùi Đƣờng Nghiêu và Lê Chi Mai. Có thể nói đề tài “Thi hành pháp luật
về thu chi ngân sách địa phƣơng trên địa bàn thành phố Hà Nội” là một đề tài
mới nghiên cứu về thu chi ngân sách địa phƣơng từ góc độ pháp lý.
5. Tính mới và đóng góp của đề tài
Trong lĩnh vực ngân sách, các công trình nghiên cứu trƣớc đây phần
lớn xuất phát xuất phát từ góc độ kinh tế chứ không xuất phát từ góc độ pháp
lý. Đề tài này nghiên cứu về quy định của pháp luật trong việc thu chi ngân
sách địa phƣơng tại thành phố Hà Nội, từ đó đƣa ra một số nhận xét nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý ngân sách địa phƣơng cũng nhƣ biện pháp nhằm
cân đối thu chi ngân sách.
Về mặt khoa học, đề tài hệ thống lại những vấn đề pháp lý liên quan tới
thu chi ngân sách địa phƣơng tạo cơ sở dữ liệu tra cứu cho những công trình
liên quan nghiên cứu sau này. Về thực tiễn, đề tài nghiên cứu việc áp dụng
quy định của pháp luật trên địa bàn thành phố sau đó chỉ ra những thành tựu
để địa phƣơng tiếp tục phát huy và những hạn chế để địa phƣơng khắc phục,
cũng nhƣ các giải pháp để địa phƣơng áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả thu
chi ngân sách tại địa phƣơng.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm ba chƣơng
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật thu chi ngân sách địa phƣơng
thuật ngữ “budget” đƣợc dùng để ám chỉ ngân sách hay túi tiền của nhà Vua.
Ngày nay về khía cạnh học thuật, thuật ngữ này có hàm nghĩa chỉ các khoản
thu và các khoản chi của Nhà nƣớc trong một thời gian nhất định, đƣợc thể
chế hóa bằng một đạo luật do cơ quan lập pháp quyết định. Tuy NSNN có ý
chỉ các hoạt động thu chi tài chính của bộ máy công quyền nhƣng các hoạt
động này đều phản ánh những mối quan hệ giữa Nhà nƣớc, các cơ quan của
6
nó với rất nhiều chủ thể khác trong xã hội nhƣ tổ chức, cá nhân, chính phủ
nƣớc ngoài hay các tổ chức quốc tế. Nói cách khác, NSNN là bức tranh phản
ánh mối quan hệ giữa nhà nƣớc với các chủ thể khác trong quá trình phân
phối các nguồn lực tài chính [39, tr.24].
Thuật ngữ NSNN đã xuất hiện từ lâu, ban đầu thuật ngữ này đƣợc sử
dụng với mục đích chỉ những khoản thu và chi mang tính chất công thuộc về
nhà nƣớc, do nhà nƣớc thực hiện. Trải qua thời gian, thuật ngữ NSNN đã trở
nên phổ biến trong khoa học và thực tiễn, với ngụ ý đề cao ý thức chính trị
của dân chúng trong việc đóng thuế cho quốc gia, góp phần chia sẻ gánh nặng
chi tiêu với chính phủ. Ở mỗi quốc gia khác nhau, thuật ngữ này lại đƣợc giải
thích với những cách thức khác nhau [39].
Theo cuốn từ điển bách khoa toàn thƣ của Liên Xô “cũ’’ thì ngân sách
là: Bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền trong giai đoạn nhất định của nhà
nƣớc. Mọi kế hoạch thu chi bằng tiền bất kỳ một cơ quan, cá nhân nào trong
một giai đoạn nhất định.
Cuốn tƣ liệu xanh của Pháp đƣợc ấn hành nhằm hƣớng dẫn một số luật
định tài chính và thuế, trong đó NS đƣợc hiểu là:Chứng từ dự kiến cho phép
các khoản thu chi hàng năm của nhà nƣớc.Toàn bộ tài liệu kế toán mô tả,
trình bày các khoản chi phí của NN trong một năm.Toàn bộ các khoản trình
bày tiền mà một Bộ đƣợc cấp trong một năm.
vấn đề mang tính pháp lý (nghĩa là phải trải qua giai đoạn xem xét, biểu quyết
thông qua tại quốc hội giống nhƣ việc ban hành một đạo luật để làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định cho các chủ thể tham gia vào hoạt động
ngân sách). Do NSNN bắt buộc phải đƣợc quốc hội biểu quyết thông qua nhƣ
một kỹ thuật pháp lý nên NSNN khác hẳn với các loại NS thông thƣờng (ví
dụ nhƣ NS gia đình, NS của các tổ chức kinh tế ) Sự khác biệt thể hiện ở chỗ,
NSNN vừa phản ánh các hành vi kinh tế, vừa thể hiện các hành vi pháp lý của
các chủ thể có thẩm quyền. Trong khi đó, các loại NS của các chủ thể khác
8
chỉ phản ánh các hành vi kinh tế mang tính chất kỹ thuật tài chính mà không
cần phải đệ trình cho một cơ quan lập pháp nào phê chuẩn trƣớc khi đem ra
thực hiện trên thực tế.
Thứ hai, NSNN không phải là một bản kế hoạch tài chính thuần túy mà
còn là một đạo luật thƣờng niên. Theo thông lệ, sau khi bản dự toán NSNN đã
đƣợc soạn thảo bởi cơ quan hành pháp thì nó sẽ đƣợc chuyển sang cho cơ
quan lập pháp xem xét quyết định và ban bố dƣới hình thức một văn bản quy
phạm pháp luật để thi hành. Quá trình “luật hóa” bản dự toán NSNN tại cơ
quan lập pháp thể hiện sự khác biệt về phƣơng diện pháp lý giữa NSNN với
các loại NS của các chủ thể khác. Sở dĩ có sự khác biệt này là vì NSNN có vị
trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triền kinh tế, ổn định chính trị
của một đất nƣớc. Việc chuyển hóa bản dự toán NSNN thành một đạo luật
chẳng những sẽ giúp cho Quốc hội kiểm soát đƣợc chính phủ trong quá trình
thu chi NSNN nhằm đảm bảo quyền lợi cho toàn thể dân chúng mà còn làm
cho bản kế hoạch tài chính quan trọng bậc nhất này có thể đƣợc thực hiện dễ
dàng hơn trong thực tế vì nó đƣợc đảm bảo thực hiện nhƣ một đạo luật.
Thứ ba, NSNN là kế hoạch tài chính của toàn thể quốc gia đƣợc trao
cho Chính phủ tổ chức thực hiện nhƣng phải đặt dƣới sự giám sát trực tiếp
buộc phải tiến hành những nhiệm vụ chi không chắc chắn đem lại một lợi
ích cụ thể nào cho riêng mình, ví dụ nhƣ việc trợ cấp cho nhân dân các vùng
bị thiên tai, địch họa hay việc tài trợ cho các doanh nghiệp trong nƣớc bằng
các biện pháp trợ giá nhằm phục hồi một ngành sản xuất quan trọng nào đó
của đất nƣớc. Đặc điểm này khiến cho NSNN khác biệt đáng kể với NS của
các tổ chức khác, các cá nhân hay hộ gia đình bởi lẽ NS của các chủ thể này
liên quan trực tiếp đến lợi ích riêng tƣ của mỗi chủ thể đó và bao giờ chúng
cũng đƣợc thiết lập, thực hiện vì mục tiêu đem lại những lợi ích cụ thể cho
chính họ. Nhìn chung, điểm khác biệt này giữa NSNN với NS của tƣ nhân
thể hiện ở chỗ nếu khoản chi tiêu nào đó không đem lại một lợi ích kinh tế
10
cụ thể nào cho tƣ nhân thì họ sẽ không bao giờ thực hiện và không bắt buộc
phải thực hiện, trong khi chính phủ vì mƣu cầu lợi ích chung nên có thể phải
thực hiện những khoản chi rõ ràng không đem lại các lợi ích kinh tế cho
mình. Đặc điểm này giúp ta phân biệt rõ hơn địa vị và vai trò của chính phủ
so với tƣ nhân trong nền kinh tế - xã hội đƣơng đại.
Thứ năm, NSNN luôn phản ánh mối tƣơng quan giữa quyền lập pháp
và quyền hành pháp trong quá trình xây dựng và thực hiện NS. Mối tƣơng
quan này thƣờng nghiêng về phía cơ quan lập pháp, bởi lẽ vai trò áp đảo của
cơ quan lập pháp so với cơ quan hành pháp trong lĩnh vực ngân sách đã đƣợc
ghi nhận trong hiếp pháp và đạo luật NSNN ở mỗi quốc gia nhƣ một nguyên
tắc cơ bản của nền tài chính công hiện đại. Tuy nhiên, trong thực tiễn đôi khi
sự giảm sút vai trò của cơ quan lập pháp trong thời điểm nào đó sẽ khiến cho
mối tƣơng quan quyền lực giữa hai cơ quan này có xu hƣớng nghiêng về phía
cơ quan hành pháp. Khi đó, nếu cơ quan hành pháp không biết tự kiềm chế để
làm tốt bổn phận của ngƣời thừa hành của cơ quan lập pháp thì có thể khiến
cho việc quản trị nền tài chính công trở nên kém dân chủ và thiếu minh bạch
phí vào NSNN, còn cơ chế tự nguyện đƣợc Nhà nƣớc áp dụng trong trƣờng
hợp cần huy động các khoản tiền viện trợ của nƣớc ngoài, của các tổ chức quốc
tế hay các khoản đóng góp tự nguyện khác của công chúng cho Nhà nƣớc.
Thu NSNN không thể đƣợc tiến hành một cách tùy tiện mà phải thực
hiện trong khuôn khổ pháp luật. Để thực hiện hoạt động thu ngân sách, Nhà
nƣớc phải ban hành các văn bản pháp luật quy định về hình thức thu cũng nhƣ
nội dung thu. Nhà nƣớc đƣợc phép thu những khoản thu đã đƣợc luật hóa và
chỉ thực hiện quyền thu đó trong khuôn khổ pháp luật, các cấp, các ngành
không đƣợc tự ý đặt ra các khoản thu trái pháp luật.
Chủ thể tham gia vào hoạt động thu ngân sách Nhà nƣớc gồm hai nhóm:
- Chủ thể đại diện cho Nhà nƣớc trong việc thực hiện quyền thu bao
gồm các cơ quan Nhà nƣớc nhƣ cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan hải
12
quan… Chịu trách nhiệm quản lý, đôn đốc, tổ chức việc thu, nộp và trực tiếp
đứng ra tập trung các khoản thu, nộp vào ngân sách Nhà nƣớc.
- Chủ thể đóng góp khoản thu ngân sách theo nghĩa vụ hoặc dựa trên
tinh thần tự nguyện. Bao gồm các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp các khoản
bắt buộc vào ngân sách nhà nƣớc hoặc tự nguyện đóng góp tiền cho Nhà nƣớc.
Vậy thu NSNN là việc nhà nƣớc huy động những khoản tiền vào NSNN
để thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc, đƣợc thực hiện thông qua
hình thức bắt buộc hoặc tự nguyện theo những quy định của pháp luật hiện
hành bởi các chủ thể thực hiện quyền thu đối với các chủ thể đóng góp.
Khác với thu NSNN, chi NS là hoạt động phân phối sử dụng nguồn
NSNN. Chi ngân sách nhà nƣớc là hoạt động nhằm sử dụng quỹ ngân sách, là
quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để chi vào những
mục đích khác nhau. Chi ngân sách là phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo
dự toán ngân sách đã đƣợc chủ thể quyền lực quyết định nhằm duy trì sự hoạt
- Nhóm chủ thể có thể sử dụng ngân sách nhà nƣớc bao gồm: các cơ
quan nhà nƣớc, kể cả cơ quan hành chính sự nghiệp thực hiện khoán biên chế
và kinh phí quản lý hành chính; các đơn vị, kể cả đơn vị sự nghiệp; các chủ
dự án sử dụng kinh phí NSNN.
Mục tiêu cơ bản của chi NSNN là đáp ứng nhu cầu về tài chính cho sự
hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, đảm bảo cho nhà nƣớc thực hiện đƣợc chức
năng và nhiệm vụ của mình. Ngoài ra, thông qua việc thể chế hóa bằng pháp
luật đối với các hoạt động chi ngân sách, Nhà nƣớc còn hƣớng đến những
mục tiêu khác, trong đó bao gồm mục tiêu quản lý hiệu quả việc sử dụng công
quỹ tăng cƣờng kỷ luật ngân sách, tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật về NS góp phần hạn chế tình trạng tham nhũng, lãng phí
tài sản nhà nƣớc.
1.1.2. Khái quát về ngân sách địa phƣơng
1.1.2.1. Khái niệm thu chi ngân sách địa phương
Theo quy định của pháp luật hiện hành ngân sách địa phƣơng bao gồm
14
ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban
nhân dân. NSĐP đƣợc phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện
những nhiệm vụ đƣợc giao; tăng cƣờng nguồn lực cho NS xã; hội đồng nhân
dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa NS các
cấp chính quyền địa phƣơng phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội,
quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên dịa bàn [7].
NSĐP có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của địa
phƣơng nói riêng và của cả nƣớc nói chung. NSĐP cung cấp các phƣơng tiện,
vật chất nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy chính quyền ở
địa phƣơng. Mặt khác NSĐP cũng góp phần làm lành mạnh hóa tài chính địa
phƣơng và tài chính quốc gia, là công cụ đặc biệt để địa phƣơng quản lý các
của pháp luật, đƣợc thực hiện bởi chủ thể đặc biệt là cơ quan nhà nƣớc ở địa
phƣơng. Ngƣợc lại với thu ngân sách địa phƣơng, chi ngân sách địa phƣơng là
phƣơng thức nhà nƣớc sử dụng để phân phối, giải ngân nguồn quỹ trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ của địa phƣơng.
Nhƣ vậy, thu chi ngân sách địa phƣơng là hoạt động của ngân sách địa
phƣơng trong quá trình tạo lập và phân phối nguồn quỹ từ ngân sách trong quá
trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phƣơng, cũng nhƣ tạo
nguồn lực làm cơ sở để phát triển địa phƣơng. Thu chi ngân sách địa phƣơng là
một bộ phận của thu chi ngân sách nhà nƣớc, do đó nó mang đầy đủ những đặc
điểm của thu chi ngân sách nhà nƣớc, phải thực hiện theo những quy định cụ
thể của pháp luật, đƣợc tiến hành bởi chủ thể đặc biệt là cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền. Bên cạnh đó thu chi NSĐP cũng có những đặc điểm riêng biệt,
nhƣ chỉ đƣợc tiến hành trong phạm vi của địa phƣơng, mang tính chất địa
phƣơng. Thu chi NSĐP đƣợc vận dụng linh hoạt tại từng địa phƣơng nên nó sẽ
mang đặc điểm của địa phƣơng mình. Tóm lại thu chi ngân sách địa phƣơng là
phƣơng thức mà chính quyền địa phƣơng sử dụng để tạo lập và phân phối
nguồn quỹ nhằm thực hiện chức năng và chính quyền của địa phƣơng.
16
1.1.2.2. Khái niệm, đặc điểm quản lý thu chi ngân sách địa phương
Khái niệm quản lý đƣợc sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh
tế, chính trị, văn hóa, xã hội…trong luật học, theo từ điển luật học NXB từ
điển bách khoa, quản lý theo nghĩa rộng: làm cho hoạt động tƣ duy của từng
ngƣời riêng lẻ, hoạt động của các tổ chức với những cơ chế khoa học, tiến
hành phù hợp với mục đích, lợi ích chung nhằm đạt đƣợc hiệu quả tốt nhất,
nhiều nhất, ít chi phí nhất, trong thời gian ngắn nhất. Quản lý đƣợc thực hiện
dƣới các dạng quản lý nhà nƣớc, quản lý của tổ chức chính trị, xã hội, quản lý
của tổ chức nghề nghiệp, quản lý tổ chức kinh doanh, sản xuất dịch vụ, quản
Khái niệm, đặc điểm quản lý chi ngân sách
Quản lý chi NS là nội dung quan trọng của quản lý tài chính, tăng
cƣờng quản lý chi, đảm bảo sự điều hành tiền vốn tài chính đƣợc an toàn, tin
cậy, chuẩn xác, hiệu quả cao là khâu chủ chốt nâng cao chất lƣợng quản lý tài
chính cũng là biện pháp quan trọng quán triệt có hiệu quả mục tiêu chính sách
nhà nƣớc.Quản lý chi NS là một bộ phận quan trọng trong công tác quản lý
nhà nƣớc nói chung, đƣợc tiến hành bởi cơ quan nhà nƣớc thông qua các cơ
quan của mình, bằng những công cụ nhất định để đạt đƣợc mục tiêu phân bổ
có hiệu quả nguồn lực tài chính và nâng cao hiệu quả của hoạt động cung cấp
hàng hóa công, hƣớng tới đảm bảo hoạt động của bộ máy nhà nƣớc và không
ngừng đẩy mạnh phát triển nền kinh tế. Từ đó có thể suy ra:
Quản lý chi NS có thể đƣợc hiểu là khái niệm phản ánh hoạt động tổ
chức, điều khiển và đƣa ra quyết định của nhà nƣớc đối với quá trình phân
phối và sử dụng nguồn lực tài chính từ quỹ NSNN nhằm thực hiện tốt các
chức năng kinh tế, xã hội của nhà nƣớc.
Hoạt động chi NS có những đặc điểm riêng biệt để phân biệt với hoạt
động quản lý tài chính khác cụ thể là:
Thứ nhất, hoạt động quản lý chi NS luôn đƣợc thực hiện bởi các cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền, dựa trên cơ sở quyền lực chính trị của nhà
nƣớc. Điều này xuất phát từ việc chi NS vốn dĩ là một hoạt động tài chính của
nhà nƣớc, phục vụ và gắn liền với lợi ích của nhà nƣớc và cộng đồng xã hội
nên việc hi NS nhƣ thế nào, quản lý ra sao cần phải do nhà nƣớc quyết định
và thực hiện thông qua các cơ quan của mình.
Thứ hai, quản lý chi NS vừa mang tính chất là một hoạt động quản lý
hành chính của nhà nƣớc, vừa có tính chất nhƣ một hành vi quản trị về tài
chính nhà nƣớc. Tính chất quản lý hành chính đƣợc thể hiện ở chỗ hoạt động
quản lý chi NS dựa vào quyền lực công, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền